PHẦN
I: THIỀN LỘ
Chương
1
KHOẢNG
LẶNG
Ani
Tenzin Palmo
Ani
Tenzen Palmo sinh năm 1943 tại Anh. Năm 1964, bà sang Ấn Độ và
đã ở lại đó tổng cộng 24 năm. Bà đã trãi qua 6 năm ở
Dalhousie trong tu viện của Thầy bổn sư, và 18 năm ở Lahul
(gần Ladakh, phía Bắc Ấn Độ, vùng Hy Mã Lạp Sơn), trong
đó có 12 năm nhập thất trong một hang núi, trước khi trở
lại Âu châu để sống ở Assisi, Ý, năm 1988. Dầu bản chất
thích sống ẩn dật, nhưng bà Ani Palmo là người rất vui tính,
thẳng thắng, cởi mở khi tiếp xúc với người khác.
Bắt
Đầu Từ Chỗ Của Bạn
Ai
cũng phải bắt đầu từ một nơi nào đó. Không ai trên thế
gian nầy có thể bắt đầu ngồi xuống tọa thiền ngay. Người
Tây phương thường có quan niệm sai lầm là người Á châu
chỉ cần ngồi xuống là mọi việc sẽ tuần tự xảy ra một
cách hoàn hảo. Sự thật thì không phải vậy, tôi đã hỏi
nhiều thiền sinh và các vị lạt ma về điều nầy. Tất cả
đều cho biết lúc khởi đầu khó khăn thế nào, họ đã phải
khổ công tu tập như thế nào. Vì thế chớ nên sớm nản
lòng.
Nếu
tâm bạn còn quá nhiều phiền não, bạn sẽ thấy rất khó
định tâm lúc bắt đầu. Có nhiều con đường khác nhau để
xuất phát, bởi nhiều phương cách hay bằng cách quán nội
tâm. Điều quan trọng là: đừng nghĩ rằng bạn chỉ rèn luyện
tâm khi ngồi trên chiếu thiền.
Thực
Tập Từng Phút Giây
Người
Tây phương thường nản chí vì cảm thấy họ không có thì
giờ để thực hành. Họ luôn nói: "Chúng tôi phải làm việc,
chúng tôi không có thời gian ngồi thiền". Họ nghĩ rằng chỉ
có thể thực hành khi ngồi tụng niệm hay khi thực tập thở
ra hít vào. Không đúng như thế. Thực tập là việc ta phải
làm trong từng phút giây, suốt cả ngày. Đó là cách bạn
tiếp xúc với người khác. Cách bạn uống trà, cách bạn
làm việc và cách bạn cảm nhận được những phản ứng
nội tâm với mọi sự. Đó là sống một cách tỉnh thức.
Phần đông chúng ta sống trong trạng thái của người mộng
du.
Thực
tập là (bà búng ngón tay) sự tỉnh thức, phát triển trí
tuệ, sáng suốt, đồng thời cũng thương yêu, tử tế, quan
tâm đến người khác. Nhưng ta không chỉ tử tế đối với
tất cả chúng sanh trong mười phương, như trong lời nguyện
cầu, mà thực tế là phải tử tế với những người ở
bên cạnh ta như chồng, như vợ, con cái, đồng nghiệp, người
hành khách ta gặp trên xe buýt, hay bất cứ một ai. Bạn nên
biết là họ cũng khổ như ta. Vì thế một nụ cười, một
cử chỉ tử tế có ý nghĩa biết bao đối với họ. Đó là
thực tập.
Không
phải là bạn đã niệm được bao nhiêu câu kinh, điều đó
không quan trọng. Thật là sai lầm khi người ta nghĩ là phải
nhập thất cho lâu, hay phải thực hiện hằng triệu thứ thực
tập khác nhau mới đạt được điều gì. Sự thực tập chân
chính của Bồ Tát đạo không liên quan nhiều đến những
điều đó, mà quan trọng là cách chúng ta sống, đối xử
với mọi người quanh ta.
Hằng
ngày, tôi thực tập quý trọng mọi người, không kể họ
là ai, tuổi tác thế nào. Mọi người đều xem mình quan trọng.
Chúng ta phải coi trọng điều đó. Tôi cũng cố gắng để
người khác có thể là họ, mà không phán đoán, đánh giá
họ.
Mỗi
người đều đặc biệt, có cá tính riêng trong cách của họ.
Giống như trong một vũ điệu, mà mỗi người đều có điệu
nhảy riêng. Hay như trong một dàn nhạc giao hưởng, mỗi người
sử dụng một nhạc cụ riêng, với tiết tấu riêng của mình.
Người ta không phải hành động theo một mẫu mực nào đó;
họ có quyền tự do được là họ.
Tôi
thích có những lúc được ở một mình, nhưng không phải
vì tôi không thích tiếp xúc với người khác. Chỉ vì trong
tĩnh lặng, tôi tìm thấy sự hòa đồng cũng vũ trụ. Tôi
không bỏ quên thế giới bên ngoài. Ngược lại, chính nhờ
có những khoảng thời gian một mình, tôi cảm thấy cởi mở
hơn với người khác, cảm nhận được sự có mặt của người
khác.
'Bạn
Là Một Kaguypa' (1)
Tôi
trở thành một Phật tử năm 18 tuổi và bắt đầu tu tập
ở Luân Đôn từ đó. Sau 6 tháng, tôi gia nhập hội Xã Hội
Phật giáo. Họ có lớp cơ bản Phật giáo và lớp thiền.
Lúc
bắt đầu tôi theo Nguyên thủy, tu tập ở Sinhalese Vihara. Lúc
đó, bạn hoặc là tu theo Nguyên thủy hoặc là thiền. Phật
giáo Tây tạng bị xem là không có phẩm chất, thấp hèn, với
các phép thuật ma quái, những cách thể hiện dục tình kỳ
quặc - tóm lại tuyệt đối không phải là Phật giáo, nên
dứt khoát là tôi không muốn dính dáng gì đến. Nhưng một
ngày kia, tôi đã đọc một quyển sách, đến phần cuối có
đoạn ngắn nói về Phật giáo Tây tạng như sau: "Ở Tây tạng
có bốn tông: Nyingmapa, Sakyapa, Kagyupa và Gelugpa".
Khi
đọc đến đó, bên trong tôi như có tiếng nói: "Bạn là một
Kaguypa". Tôi không biết khám phá nầy có ý nghĩa gì, nên đã
hỏi một người thông thái về Phật giáo Tây tạng, "Kagyupa
là gì?" Cô bạn bảo tôi đọc Milarepa, rồi cô trao cho tôi
một quyển sách dịch của Evans-Wentz's về cuộc đời của
Mila. Sự kiện đó đã thay đổi hoàn toàn cái nhìn của tôi.
Tôi nhận ra rằng mình phải tìm một vị thầy, có nghĩa là
tôi phải đi Ấn Độ.
Khoảng
thời gian đó, ngài Chogyam Trungpa Rinpoche đã có mặt cùng với
Akong Rinpoche từ Ấn Độ, và ông đã hướng dẫn tôi tu thiền.
Một ngày, ông bảo tôi: "Có thể Cô khó tin điều nầy, nhưng
ở Tibet, tôi cũng là một lạt-ma có tiếng. Tôi không hề
nghĩ sẽ đến nơi đây, nhưng tôi có thể dạy thiền cho Cô
không? Tôi phải có một đệ tử chứ".
Tôi
trả lời không có vấn đề gì đối với tôi, thế là ông
bắt đầu dạy tôi thiền. Đó là phương pháp Mahamudra, ngồi
xuống, để tâm thư giãn, rồi quán sát các vọng tưởng đến
rồi đi.
Mahamudra
(2)
Phương
pháp Mahamudra rất đơn giản, và có lẻ đó chính là cái khó
của phương pháp nầy. Căn bản phương pháp nầy chỉ việc
là ngồi xuống với tâm thư giãn, đồng thời giữ tâm rất
chánh niệm, tỉnh giác. Bạn chỉ thực tập nhận biết các
vọng tưởng khi chúng đến rồi đi, mà không cố gắng phát
khởi, ngăn cản hay chạy đuổi theo chúng. Bạn chỉ biết
sự có mặt của chúng. Bản chất của tư tưởng là trong
sáng. Một khi sự thực tập đã được phát triển, các vọng
tưởng sẽ thưa dần, vì tâm được thư giãn. Khi các vọng
tưởng đã thưa nhạt, khi sự tỉnh giác của bạn ở cao điểm,
ở khoảng giữa của hai tưởng, bạn có thể bắt gặp được
một sự thanh tịnh ở giữa và sau các vọng tưởng. Sự trong
sáng cực độ nầy là không gian bao la, sự tỉnh giác, bản
tâm chân thật.
Bạn
có thể chỉ thực hành duy nhất phương pháp Mahamudra. Cần
có một vị thầy uyên thâm cạnh bên, vì ta dễ đi bị dẫn
dắt đi lang thang, lúc đó cần có người chất vấn ta: "Cái
gì đã xảy ra? Như thế nào? Có giống như thế nầy hay thế
kia?" Điều đó giúp cho sự thực hành của ta được định
hướng, rõ ràng. Bằng không, nên thực hành Mahamudra ở cuối
thời thực tập quán tưởng chính của ta. Rồi hãy để tâm
được thư giãn đi vào khoảng vắng lặng của nội tâm, và
ý thức được điều đó. Cái không gian bao la, sự sáng suốt,
sự tỉnh giác mà bạn nắm bắt được giữa các vọng tưởng,
đó là tâm không.
Nếu
chánh niệm của bạn rất cao ở lúc đó, bạn sẽ thấy được
nó. Nói rằng 'thấy' có thể làm bạn hiểu lầm, vì ở thời
điểm đó, không còn cái thấy nữa. Mahamudra là như thế đó.
Dĩ
nhiên là khi đã nhận biết được trạng thái đó, bạn bắt
đầu có thể phân tách được điều đó với cái nhìn thật
sự của Phật giáo: chánh niệm, vọng tưởng, sự vắng lặng
sau vọng tưởng, chúng có giống nhau hay khác nhau? Nếu chúng
khác thì khác như thế nào? Nếu giống nhau, thì giống ở
những điểm nào? Bạn bắt đầu đặt câu hỏi để thấu
đạt được cái kinh nghiệm đó. Điều nầy rất quan trọng
khi tu tập theo Phật giáo; hành giả không chỉ có chứng nghiệm,
mà còn phải hiểu được sự chứng nghiệm của mình bằng
cách phân tích, đặt câu hỏi.
Pháp
Nhiệm Mầu
Tôi
luôn mơ ước được trở thành một nữ tu. Khi còn nhỏ, tôi
đã nghĩ đến tu theo dòng Carmelites, là nơi mà bạn bước
vào, cửa đóng lại sau lưng, và bạn sẽ không bao giờ ra
khỏi nơi ấy. Rất tiếc là tôi không tin vào ý nghĩa của
một vị Trời nào đó, nên Thiên Chúa giáo không hấp dẫn
tôi. Khi mới được nghe nói đến Phật giáo, tôi chỉ nghe
người ta nhắc đến các vị Tăng, nên tôi rất buồn vì tưởng
là không có các nữ tu sĩ. Khi cuối cùng được thấy các
ni cũng được nhắc đến ở đâu đó, tôi quá đỗi vui mừng,
và biết đó là việc mình muốn được trở thành.
Nếu
nhìn bề ngoài, tôi không giống một tu sĩ chút nào. Tôi luôn
ăn mặc đẹp, có nhiều bạn trai, chạy lăng xăng bên ngoài
-không phải là loại người sẽ trở thành người tu. Tuy nhiên,
khi gặp được vị lạt-ma của tôi, tôi chỉ muốn được
ở cạnh Thầy, muốn hoàn toàn dâng hiến cả đời cho Phật
pháp. Tôi hỏi Thầy cho tôi được xuất gia và Thầy đã chấp
thuận dầu chỉ mới biết tôi được ba tuần.
Vì
Phật pháp quá thâm thẳm nhiệm mầu, tôi cảm thấy không
thể bỏ phí chút thì giờ nào, mà không trì Pháp. Tôi không
muốn bị xao lãng vì những công việc khác; tôi chỉ muốn
suốt đời được ở bên Thầy, hành pháp, trì giới bằng
tất cả khả năng của mình. Tôi không muốn phí thì giời
cho tình cảm trai gái. Nếu tôi thật sự muốn yêu thương
ai, thì tôi chỉ muốn dành sự thương yêu đó cho vị lạt-ma
của mình, mà không cần gì thêm nữa. Dĩ nhiên là khi ở bên
cạnh Thầy, tôi làm việc. Tôi là thư ký của Thầy, cũng
như dạy tiếng Anh cho các vị tăng trẻ. Tôi làm việc 12 tiếng
mỗi ngày. Vì tất cả là cho vị lạt-ma của tôi, cũng là
cho Phật pháp.
Quan
hệ của tôi với người khác giới hoàn toàn thay đổi. Là
người tu, tôi có thể thân cận với họ mà không còn có
ý niệm trai gái nào. Họ cũng cảm thấy thoải mái cạnh tôi.
Tôi coi họ như bạn, anh hay em tôi, nên đơn giản là không
có vấn đề gì. Điều nầy làm cho sự quan hệ của chúng
tôi thêm cởi mở, phóng khoáng, và tôi rất cảm ơn điều
đó.
Trong
suốt bao năm làm nữ tu sĩ, tôi không hề, dù trong phút giây,
ân hận về quyết định của mình. Tôi luôn hết lòng kính
trọng, thương yêu tăng đoàn. Cái cảm giác rằng đã có được
một truyền thống gìn giữ từ thời Đức Phật đến nay,
cho tôi một sức mạnh, niềm vui vô bến bờ. Hình ảnh các
vị tăng ni là tấm gương của cuộc sống vì đạo Pháp.
Tây
phương cần có những tăng đoàn nhỏ, bao gồm các vị tăng
ni thật sự là những người tận tụy, để trở thành trung
tâm điểm của cuộc sống đầy chánh pháp. Điểm chánh yếu
của việc trở thành tăng ni là chỉ với một hành động
đó, nó có thể quét sạch bao vướng víu trong cuộc đời
của bao người: sự quan hệ với người khác giới, việc
yêu thương, ghen tuông, bất an, lập gia đình, có con cái. Đây
là những điều quan trọng, nhưng chúng có thể làm suy giảm
năng lực, sức mạnh tâm linh mà ta có thể dành cho sự thực
hành Phật pháp.
Không
phải ai cũng cần xuất gia, và cũng thật sai lầm nếu nghĩ
rằng chỉ có người tu mới có thể hành pháp. Nhưng Đức
Phật đã gầy dựng nên tăng đoàn vì rõ ràng đó là một
cách sống giúp người ta có sự tự do, phóng khoáng, và thời
gian để dành cho sự tu tập thực hành pháp trọn vẹn.
Cuộc
Sống Ẩn Dật
Thầy
Lạt-ma bảo tôi: "Phần con, sống một mình thì tốt hơn".
Bất cứ khi nào tôi đề nghị được sống với ai, với một
vị ni khác, thì Thầy luôn bảo: "Không, với con, tốt hơn
là sống một mình".
Lúc
đầu khi đến Lahul, tôi sống trong khuôn viên của tu viện,
dù tôi sống một mình trong một gian nhà, cũng như mọi người
khác trong tu viện. Có cả tăng và ni ở đó. Nói chung, chúng
tôi sống rất hoà hợp, không có vấn đề gì. Tuy nhiên, đó
không phải là nơi lý tưởng để nhập thất, vì thường
tôi là người duy nhất nhập thất, và nhà tôi ở giữa khuôn
viên tu viện. Ai cũng có những sinh hoạt bình thường, tụ
họp bạn bè, nói chuyện dai dẳng, trên các sân thượng từ
nhà nầy qua nhà kia, vì thế thật không được yên tĩnh lắm.
Tôi
quyết định phải sống cô lập hơn. Sau đó, tôi được nghe
về một cái hang, nên đến đó sống. Thật là một nơi lý
tưởng, tôi sẽ không trách được ai nếu việc tu tập không
có kết quả. Rõ ràng là nếu bạn thực sự muốn tu chuyên
sâu, thì hoặc là bạn phải tuyệt đối sống một mình hoặc
là phải ở với những người cùng mục đích. Nếu không
thì sẽ rất khó khăn.
Mỗi
năm tôi thường bị tuyết giam một thời gian dài, nhưng tôi
chưa bao giờ cảm thấy cô đơn. Trái lại, tôi thường nghĩ
rằng không có nơi nào trên trái đất nầy tôi muốn có mặt
hơn là ở đây và không có việc gì tôi muốn làm hơn là
tu tập.
Lần
duy nhất trong đời tôi cảm thấy cô đơn là khi tôi sống
với Thầy lạt-ma của tôi trong tu viện của Thầy với 80
vị tăng khác và tôi là người ni, người ngoại quốc duy
nhất. Mọi người sống với nhau như một cộng đồng, còn
tôi luôn là người đứng ngoài. Khi tôi thực sự sống một
mình, tôi lại không cảm thấy cô đơn dù trong phút giây.
Thật là vui sướng khi biết rằng tôi có tất cả thời gian,
không gian nầy để hoàn toàn chú tâm vào việc tu tập mà
không bị cái gì khác làm xao lãng. Nếu thỉnh thoảng tôi
thấy có hơi chán, tôi lại đọc một quyền sách thú vị
về Phật pháp.
Tôi
rất thích được một mình. Tôi cũng thích có người khác,
nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, trong khi tôi có thể ở
một mình mãi mà không bao giờ chán. Tôi nghĩ có lẽ vì khi
có người khác, tôi thường phải thỏa hiệp với họ, để
thích hợp với hoàn cảnh, nên không hoàn toàn sống thật
với chính mình. Khi một mình, tôi có thể sắp xếp việc
trong ngày cho riêng mình, có thể chân thật với chính mình
và tu tập. Điều đó khiến tôi cảm thấy không bị gò bó.
Phần
đông đều có khó khăn khi phải nhập thất một mình, nhưng
theo tôi nghĩ, đó là tuỳ thuộc tâm bạn thế nào. Có một
số người đến ở trong hang của tôi, khi tôi không có mặt
ở đó, họ vấp phải nhiều khó khăn. Cuối cùng họ trở
về tu viện, hoặc tệ hơn trở về làng. Họ không thể ở
một mình trong hang. Họ trở nên quá giải đãi, hay rơi vào
trạng thái hoang tưởng hay sợ hãi cùng cực, khiến họ không
biết giải quyết thế nào.
Một
số người nghĩ rằng việc sống một mình để tu tập là
chủ
nghĩa trốn tránh, nhưng thực ra đó khoảng thời gian khi bạn
có thể thực sự đối mặt với thực tại vì không còn có
nơi nào để trốn tránh. Bất cứ việc gì xảy ra, bạn không
thể mở TV, tán gẫu với hàng xóm, đi lang thang hay làm gì
đó, bạn chỉ phải ngồi đó và đối mặt với nó. Dầu
cho đó là một vấn đề ở bên ngoài hay ở nội tâm, chỉ
có bạn mới giải quyết được. Riêng cá nhân tôi, tôi cảm
thấy điều đó cho tôi thêm sức mạnh, vì tôi khám phá ra
rằng thực sự tôi có nhiều khả năng hơn tôi tưởng.
Đào
Hầm Ra!
Một
năm kia, một trận bão tuyết bất thường đã kéo dài bảy
ngày, bảy đêm. Nó gây ra những trận lở tuyết kinh hồn
khắp nơi ở Lahul, nhiều làng mạc bị hủy hoại hoàn toàn,
hàng ngàn cây cối bị tróc gốc và hàng trăm người tử nạn.
Tôi bị kẹt trong hang dưới hàng tấn tuyết. Ống khói bếp
lò của tôi bị bể, nên tôi không thể đốt lửa. Bên trong
hang, mọi thứ tối đen, còn khi tôi mở cửa ra thì chỉ có
bức tường nước đá trước mặt.
Tôi
bị kẹt trong khoảng không gian nhỏ bé nầy. Tôi cảm thấy
không khí càng lúc càng ít đi, tôi thực sự cảm thấy cái
chết gần kề. Tôi còn có thời gian nghĩ đến điều đó.
Giờ nhìn lại, cũng thấy thú vị vì tôi không cảm thấy
hoảng loạn, không có cảm giác bị giam hãm, tù túng; tôi
rất bình tĩnh, hoàn toàn chấp nhận sự việc. Sau khi nghiền
ngẫm, tôi nhận ra rằng chỉ có vị lạt-ma là đáng cho tôi
nhớ đến; ngài là chỗ nương trú duy nhất của tôi.
Với
tất cả lòng thành, tôi cầu nguyện ngài dẫn dắt tôi trong
cõi trung ấm (cõi ở giữa sự chết và tái sinh), và khi tôi
làm thế, tôi nghe một giọng nói vang lên trong tôi: "Đào hầm
ra!" Nên tôi bắt đầu đào tuyết ra khỏi cửa. Dỉ nhiên
làm thế thì tôi lại phải mang tuyết vào trong hang, không
còn chỗ nào khác nữa. Lúc đầu tôi dùng một cái xẻng,
sau đó, khi tôi bắt đầu có một đường hầm, tôi dùng nắp
nồi, rồi sau đó là dùng tay. Mất khoảng một giờ hay gì
đó. Có lúc tôi như bị nén trong cái ống nước đá nhỏ
xí nầy. Bên dưới cũng tối, mà trước mặt cũng đầy bóng
tối.
Dần
dần đường hầm bắt đầu có ánh sáng, và tôi thoát ra được.
Tuyết phủ nhiều đến độ không còn thấy cái hang đâu nữa.
Tôi không còn nhìn thấy cây cối gì chung quanh, cũng không
thấy nóc của cây trụ ba thước cao của tôi, chỉ là một
không gian trắng xoá, trong khi bão tuyết vẫn không dứt.
Tôi
phải xúc tuyết ra khỏi hang, nên lại chui trở vào hầm. Khi
vào đến bên trong, mắt tôi cảm thấy đau buốt, đỏ cạch
như thể có ai đã thải cát nóng vào đó. Nước mắt chảy
ra, và tôi nhận biết mình đã bị chói tuyết. Dù sao, tôi
cũng đã thoát chết.
Hôm
sau, tuyết phủ trở lại, tôi lại phải xúc tuyết ra. Tôi
phải làm như thế ba lần trước khi trận bão tuyết tan đi.
Khoảng một tháng sau đó, một tăng sĩ từ tu viện đến báo
cho tôi biết là các xóm làng đều bị tàn phá. Có lẻ tôi
là người được an toàn nhất, sống trong cái hang không thể
bị tàn phá nầy. Tôi nhận ra rằng trong lúc nguy kịch đó,
tôi chỉ có thể dựa vào những gì mình có trong tầm tay và
nghị lực bên trong. Không có ai để gánh vác cho tôi, tôi
phải một mình vượt qua, và tôi đã làm được một cách
hoàn toàn điêu luyện.
Đài
Truyền Hình Nội Tâm
Tôi
thường nhập thất từ tháng mười một đến tháng năm hay
sáu. Thường là tháng năm, vì khoảng thời gian đó tuyết
bắt đầu tan, và tôi phải để ý đến điều đó, nên thực
sự không thể tiếp tục nhập thất một cách nghiêm ngặt
nữa. Những gì tôi làm giữa tháng Năm và tháng Mười Một
thường thay đổi. Tôi phải chăm sóc vườn tược, lấy thêm
đồ dự trữ, kiếm củi, trét bùn lên hang, vân vân. Thỉnh
thoảng cũng có người đến thăm. Tôi cũng dùng thời gian
đó để đọc sách, vẽ nhiều hơn.
Rồi
khoảng tháng mười, tôi đi Tashijong để thăm thầy lạt-ma
và trên đường về đôi lúc tôi ghé qua Manali để mua đồ
dự trữ. Dỉ nhiên tôi vẫn hành thiền vào sáng sớm và tối,
khi tôi phải bận rộn trong ngày.
Có
lần tôi nhập thất ba năm, nhưng cuối cùng bị gián đoạn,
nên thực sự chỉ có hai năm và chín tháng. Trong khoảng thời
gian nhập thất đó, một người Lahul tiếp tế vật thực
cho tôi hằng năm.
Về
nội tâm, vấn đề chính, là có những lúc tôi cảm thấy
chán thực tập. Suốt mười hai năm sống trong hang, điều
đó thường xảy ra. Thời gian đầu sau khi nhập thất, sau
khoảng hai tuần lễ, tôi cảm thấy: "Ấy dà! Mình phải còn
thực hành đến bao nhiêu tháng nữa!" Tóm lại, cũng giống
như phải xem một chương trình truyền hình, bốn lần một
ngày, tuần nầy sang tuần khác, tháng nầy qua tháng kia. Có
những lúc, tôi cảm giác, "Thôi, không làm nữa!"
Vì
không có ai ở đó để sách tấn tôi, hay để tôi tâm sự,
hầu thoát ra khỏi sự đơn điệu, lần nữa tôi biết mình
phải tự giải quyết thôi. Tôi biết cách duy nhất là không
được đầu hàng, cứ phải tiếp tục. Sau một thời gian,
tôi nhận diện được cảm thọ chán nản, nên nó không còn
là vấn đề nữa. Tôi cứ tiếp tục, cứ tuân theo công việc
đều đặn. Điều căn bản là không được gián đọan, không
được tự hỏi là có thích thực hành không. Sau một thời
gian, việc tu tập của tôi tự nhiên trôi chảy đâu vào đấy.
Rồi nó bắt đầu lên một tầng cao hơn, trở nên rất thú
vị, gần như cuốn hút. Vào cuối thời nhập thất, tôi tự
động cảm thấy hăng hái tu tập hơn là lúc bắt đầu mới
nhập thất.
Cuối
cùng tôi nhận ra vấn đề chỉ là ở trong suy nghĩ của ta
hơn là thực tế; cái ý nghĩ rằng làm sao tôi có thể chịu
đựng suốt thời gian nhập thất, trong khi vẫn biết rằng
thực ra tôi rất thích làm việc đó.
An
Trú Và Hỷ Lạc
Khi
mới bắt đầu tu Thiền, nhiều người thường quá hăng hái,
bắt đầu ngay bằng cách ngồi cả tiếng đồng hồ. Nhưng
thực tế cho thấy là họ khó duy trì được sự chủ tâm
trong suốt thời gian đó, ví thế họ trở nên chán nản. Sau
đó, thì dù có ý hướng tốt, họ cũng đành bỏ cuộc. Tôi
nghĩ tốt hơn hết là bắt đầu bằng 10 hay 20 phút mỗi ngày.
Bắt
đầu bạn có thể đặt hình tượng vị nào mà bạn tôn kính,
đốt nhang đèn, để chuẩn bị tâm thức. Hãy ngồi xuống
và tự nhủ rằng bạn sẽ dành trọn khoảng thời gian ngắn
ngủi nầy cho việc tham thiền, một việc không chỉ đem lại
lợi ích cho bạn mà cho cả những người bạn tiếp xúc. Dầu
ngắn ngủi, nhưng là một khoảng thời gian đặc biệt, riêng
dành cho sự tu tập của bạn.
Khi
bạn khởi niệm gì, suy tư hay lo lắng, hãy để chúng qua đi.
Bằng cách chỉ ngồi theo dõi hơi thở. Đức Phật đã chứng
ngộ bằng phương cách đó. Đó không phải điều đơn giản,
nhưng ai cũng có thể làm được, rồi từ đó tiến lên, tiến
lên mãi. Không có sự cùng tận.
Vì
thế hãy ngồi im lặng, theo dõi hơi thở vào ra, ở mũi hay
ở bụng, nơi nào bạn thấy thõa mái là được. Cố gắng
trụ theo hơi thở, theo sự vào ra, đừng lo sợ mất tâm. Không
có vấn đề gì đâu. Bạn dừng mong đợi mọi thứ sẽ tốt
đẹp ngay lúc bắt đầu; đó là kiêu mạn. Hãy theo dõi hơi
thở vào ra. Nếu tâm khởi vọng tưởng, chỉ cần kéo nó
trở lại, lần nầy tới lần khác. Kéo tâm trở về với
hơi thở chính là sự thực tập.
Thực
tập như thế trong 10 hay 20 phút. Và hãy dừng ở đó dầu
bạn vẫn còn có thể tiếp tục. Hãy ngưng lại ở đó hơn
là tiếp tục đến khi bạn trở nên trạo cữ. Bằng không,
lần sau bạn sẽ không cảm thấy sốt sắng ngồi nữa. Trái
lại, nếu bạn ngưng lại khi vẫn còn muốn tiếp tục ngồi,
thì bạn sẽ thấy hứng thú để ngồi lần sau. Hành thiền
không phải là một thử thách, mà phải là sự an trú và hỷ
lạc.
Quá
Trình Khám Phá
Qua
nhiều năm thực tập, việc hành thiền của tôi đã chuyên
sâu hơn, trở nên rõ ràng hơn. Người ta thường nói về những
điều thiền giả đạt được khi hành thiền, nhưng đối
với tôi điều quan trọng không phải là mình đã đạt được
gì mà là mình đã đoạn diệt được gì. Quá trình hành thiền
là để bộc lộ, khám phá ra những gì ta vẫn hằng biết.
Bạn sẽ không khám phá ra được điều gì mới lạ đâu.
Chỉ là những điều bạn đã biết mà không biết rằng mình
biết. Chúng ta biết tất cả, nhưng chỉ là không nhận thức
được điều ấy thôi. Thiền mở ra cho ta những lối về
với chính trí tuệ nội tâm, và phá vỡ các chướng ngại
để ta có thể thấy rõ ràng hơn.
Mỗi
người khi hành thiền đều có những khó khăn riêng. Tuy nhiên
nếu ta thực tập trong sự thoải mái, và có chú tâm thì khó
thể sai lệch. Vấn đề là đôi khi ta thấy sự hành thiền
của mình dễ dàng quá. Ta cảm thấy được an lạc, trong khi
thực sự thì tâm ta lúc đó ở trạng thái ù lì. Bạn có
thể dể dàng ngồi như thế vài tiếng đồng hồ mà không
hề hay biết tâm đang bị hôn trầm.
Dấu
hiệu thực sự của việc hành thiền đúng cách là khi tâm
sáng suốt, rõ ràng và hoàn toàn tỉnh thức, đồng thời cảm
thấy thư giãn, nhẹ nhàng. Điều quan trọng là giữ được
sự cân bằng nầy. Nếu bạn đạt được sự cân bằng đó,
bạn sẽ biết ngay. Trong trạng thái tự tại, tỉnh thức,
sáng suốt, bạn không thể nào có thể sai lạc được.
Vị
Thầy Chỉ Đường
Tôi
không nghĩ nhất thiết phải có thầy. Nếu bạn ở trong hoàn
cảnh không có thầy, thì đó không phải là lý do để ta không
thể bắt đầu tu tập. Có rất nhiều sách vở, và với chút
ít hiểu biết căn bản, bạn có thể tự đi một bước dài
mà không có thầy hướng dẩn.
Tuy
nhiên, nếu có được một vị thầy chân chính thì chắc chắn
là mọi việc sẽ dễ dàng hơn nhiều. Như trên một cuộc
hành trình, bạn có thể đi một mình, nhưng nếu có người
hướng dẩn đã qua đoạn đường ấy, đã biết địa thế
rõ ràng thì chắc chắn là chuyến đi của bạn sẽ dể dàng,
nhanh chóng hơn. Bạn được đảm bảo không bị lạc đường,
không phải lo lắng, vì bạn biết mình được bảo vệ. Đó
là trách nhiệm của vị thầy, là để chỉ đường cho bạn.
Họ không thể đi dùm bạn, không ai có thể làm được việc
đó cho bạn. Họ chỉ có thể chỉ cho bạn hướng đi.
Với
Thầy của tôi, thật là tuyệt vời. Từ lúc bắt đầu, ngay
khi vừa nghe tên ông, tôi biết ngay đó là Thầy tôi. Ông cũng
không nghi ngờ dù chỉ trong phút giây rằng tôi là đệ tử
ông, nên từ lúc bắt đầu chúng tôi đã có một mối dây
liên hệ thật thân thiết. Ông là một vị lạt-ma tuyệt vời,
và tôi mang ơn ông sâu nặng, không thể diễn tả bằng lời
với ông như thế nào.
Ông
đã dạy cho tôi thật nhiều bằng chính sự có mặt của mình,
hơn là lời nói. Ông thường gợi ý tôi nên thực hành theo
phương pháp nào và ban cho tôi khả năng thực hiện chúng.
Sau đó tôi mới thực sự được các thiền sinh khác trong
tu viện chỉ dạy. Vị lạt-ma ở đó chỉ để có mặt, để
hướng dẫn và hộ trì. Chỉ được ở cạnh bên Thầy Rinpoche,
tôi đã học được rất nhiều. Sự có mặt của một vị
thầy chân chính không thể diển tả thành lời, một điều
khó tin nổi - một hiện thân sống động của những gì ta
mong đạt được. Bạn biết điều đó có thể thực hiện
được vì Thầy có mặt để chỉ cho bạn phương cách.
Bất
cứ điều gì tôi muốn thực hiện trong việc tu tập của
mình, tôi có thể hỏi ý kiến Thầy và Thầy có thể cho tôi
biết điều đó không cần thiết hay nên làm. Điều đó động
viên tôi mạnh mẽ. Nếu vị lạt-ma nói: "Tốt lắm, hãy làm
đi". Tôi có thể bắt đầu ngay, và đặt hết mọi nghị lực
của mình vào đó mà không chút gì lo lắng.
Trong
những lúc khó khăn, thí dụ như khi tôi phải tu tập một
mình, tôi vẫn có thể cầu nguyện đến với lạt-ma. Nếu
tôi có vấn đề gì, tôi chỉ cần chú tâm, cầu nguyện đến
thầy Rinpoche xin một lời giải đáp. Dĩ nhiên đối với tôi,
thì không thể thiếu Thầy. Lạt-ma luôn ở trong trái tim tôi.
Giờ
thì chính sự hành thiền mang đến cho tôi sự cảm hứng.
Ở thời điểm nầy, dù tôi có muốn bỏ hết tu tập, tôi
cũng không làm được, nó đã trở thành một phần của tôi.
Càng tu tập, tôi càng cảm nhận Phật pháp thật độc đáo,
tuyệt vời làm sao. Tôi cảm tạ ơn sâu của Đức Phật đã
truyền dạy lại cho chúng ta những điều này.
Chương
2
HÀNH
TRÌNH VỀ THIỀN
Songgyong
Sunim
Tôi
may mắn được sống ở Hàn quốc trong 10 năm với tư cách
là một nữ tu sĩ thiền Phật giáo, và ấn tượng sâu đậm
nhất đối với tôi là được gặp gỡ Sư bà Songgyong Sunim,viện
chủ của một trong những thiền viện chánh dành cho Ni giới
ở Naewon Sa. Sư bà là một phụ nữ nhỏ nhắn, hơi khòm nhưng
năng động một cách đáng phục ở tuổi 80. Khi Sư bà không
hướng dẩn hành thiền ở thiền đường, thì lại bận rộn
gom góp các quả đấu và làm những công việc lặt vặt trong
thiền viện.
Cuộc
Sống Nhọc Nhằn
Tôi
sanh ngày 2 tháng 5 năm 1903, trong một ngôi làng gần thành phố
Ch'ongju. Chúng tôi là những nông dân rất nghèo. Khi tôi được
chín tuổi, thì mẹ tôi qua đời. Tôi có một anh, một chị
và một đứa em gái năm tuổi. Cha chúng tôi quá đau khổ về
cái chết của mẹ, đã không lo lắng cho chúng tôi được
đầy đủ. Cuộc sống trở nên rất khó khăn và cuối cùng
thì tệ đến nỗi tôi đã có ý định tìm cái chết. Nhưng
khi vừa định kết liễu đời mình, tôi nghe một tiếng nói
từ trên không vọng xuống: "Con có duyên lành với Phật pháp.
Tại sao lại kết thúc mạng sống?" Tôi hiểu điều đó có
nghĩa là tôi phải trở thành người tu.
Vì
thế năm 18 tuổi, tôi tìm đường đến một ni viện, gọi
là Yongun Am, gần tu viện của Magok Sa. Đầu tiên tôi bị từ
chối, không được nhận vào tu vì tôi quá nhỏ bé. Sau đó,
sư bà Inu Sunim nói là dù tôi nhỏ thó, nhưng tôi nhìn cũng
được. Thế rồi tôi được chấp nhận.
Năm
sau các ni sư cạo tóc cho tôi và tôi được làm lễ thọ giới.
Thầy của tôi tên là Myongdok Sunim. Bà đã đi rất nhiều từ
ni viện này sang ni viện khác để thu thập kiến thức tu thiền.
Sư phụ của bà lại là ni sư Inu Sunim, vị sư bà đã nhận
tôi vào thiền viện. Ni sư Myongdok Sunim nhận lãnh việc dạy
dổ tôi và tôi đã làm thị giả cho ni sư trong nhiều năm.
Cuộc
sống của tôi rất cực nhọc. Tôi phải giặt đồ, sửa soạn
bửa ăn, bửa cũi và thổi lửa. Đôi lúc tôi còn phải vào
rừng chặt cũi, rồi vác về trên chiếc khung đựng cũi trên
lưng. Tôi bàng hoàng vì không ngờ mình phải làm việc này,
bởi vì trong làng, việc này thường dành cho cánh đàn ông.
Một lần tôi nhớ mình đã nghĩ rằng đời sống ở tu viện
còn tệ hơn là cuộc sống nơi làng quê cũ, nên tôi chán ghét
liệng cái khung đựng cũi trên lưng xuống. Và tôi ngồi xuống
khóc. Vì tôi làm khung cũi hư, vị giáo thọ hỏi tôi chuyện
gì đã xảy ra. Tôi trã lời: "Tôi đã chán lắm rồi coâng
việc này! Tôi nhỏ con! Tôi lại là ni. Tại sao tôi phải làm
việc đó?" Sau lần ấy, bà không bao giờ kêu tôi đi chặt
cũi nữa.
Nhu
Cầu Hành Thiền
Tôi
đã ở lại Yongun Am cho đến năm tôi 33 tuổi. Lúc này Nhật
đang chiếm đóng khắp đất nước, và đang gây khó khăn cho
cộng đồng Phật giáo. Kết quả là Giáo hội Phật giáo đề
nghị rằng để củng cố công tác giảng dạy, các vị đại
thiền sư trong thời gian này cần đến trụ trì ở các thiền
viện lớn. Do chính sách này, Thiền sư Mangong ở thiền viện
Chonghye Sa gần Sudok Sa, được bổ nhiệm làm trù trì của
Magok Sa trong ba năm.
Trong
buổi thăm viếng đầu tiên, thiền sư Mangong đã khuyến khích
các vị tu sĩ xây một thiền đường. Rồi Thiền sư bỗng
nói: "Các vị là tu sĩ, sao lại lãng phí cuộc sống mà không
chịu tu Thiền?"
Khi
nghe được câu này, tôi đaõ 32 tuổi. Tôi chưa bao giờ được
nghe một câu hay như vậy. Thật là phi thường và điều này
đã tác động mạnh đến tôi, khiến tôi quyết tâm tu thiền.
Sau đấy, tôi thầm suy nghĩ và nhận ra rằng vai trò của tăng
ni thật khác với những gì tôi đã được giáo huấn.
Các
bài thuyết pháp của Thiền sư Mangong luôn phù hợp với người
nghe. Với các thiền sinh, Thiền sư nói về thiền định; với
các đệ tử của kinh điển, thầy nói về Bát Nhã Tâm Kinh
(Heart Sutra), thôi thúc các vị ấy nên hiểu rõ nghĩa của
kinh cũng như khơi dậy nhiều ý nghĩa sâu xa hơn của kinh qua
sự thực tập thiền.
Tôi
nhận thấy mình cần tìm một ni viện gần chỗ lưu trú của
Thiền sư ở Chonghye Sa, khoảng 100 ki-lô-mét (62 miles), đông
bắc của Magok Sa. Khi biết được ý định nầy của ni sư,
thầy tôi (ni sư Myongdok) đã từ chối không cho tôi đi. Tôi
giải thích rằng tôi muốn học hỏi thêm về vai trò thật
sự của một vị ni. Nhưng Ni sư, thầy tôi, phản bác lại
rằng nếu tôi bỏ đi mới thật là không hành đúng vai trò
ấy. Bà cũng chất vấn về khả năng hiểu biết Pháp của
tôi, vì tôi chưa từng nghe qua bài thuyết pháp nào. Bà nói
thêm, một người nên sống như đang sống - và không có gì
hơn điều này nữa. Bà còn cố gắng ngăn chận không cho tôi
rời viện, bằng cách giao cho tôi một chức vị quan trọng
trong ni viện này, nhưng vô vọng. Không có gì có thể ngăn
cản tôi lúc này và tôi đã van nài bà trong suốt bốn ngày.
Cuối
cùng thì Ni sư tôi cũng xiêu lòng, nhưng nói rằng tôi có thể
đi thăm cho biết thôi. Không cho tôi tiền hay chăn mền, bà
giúp tôi sửa soạn hành lý, và dặn rằng, đi xem xong rồi
sớm trở về.
Cuộc
Sống Hòa Đồng
Tu
viện của Chonghye Sa giống như một thế giới khác. Khi nhìn
thấy thiền đường, tôi có cảm giác là đức Phật đang
sống ở đấy. Tôi muốn ở lại thiền đường của một
ni viện gần đó, Kyongsong Am, nhưng không có lương thực. Vào
lúc ấy (1936), tăng ni phải cung ứng một "mal" (18 kí-lô /
40 lbs) gạo trong vòng một tháng, tính ra đến ba "mal" mỗi
khóa tu thiền. Ở Kyongsong Am, phương thức trả tiền này vừa
chấm dứt không lâu trước khi tôi đến.
Mặc
dù tôi không gạo, không tiền, họ cho tôi việc làm, nấu
những món ăn kèm trong nhà bếp, trong vòng một năm. Tôi chấp
nhận để đổi lại tôi được quyền thực tập trong thiền
đường với các vị ni khác. Trong thời gian này, tôi được
nghe các bài thuyết pháp của Thiền Sư Mangong và ni sư Pophui,
một vị trưởng lão ni đang làm cố vấn trưởng ở Kyongsong
Am.
Cuối
năm, Ni sư xuất hiện ở Kyongsong Am, nằn nì là bà không thể
sống mà không có tôi, rằng tôi là người duy nhất có thể
phục vụ bà một cách thích hợp. Bà nói nếu tôi không trở
về, bà sẽ đến Kyongsong Am để sống với tôi. Tôi từ chối
trở lại với đời sống của người tu sĩ mà Thiền Sư rõ
ràng không chấp nhận. Ông thường nói, sống như thế sẽ
đưa chúng tôi xuống địa ngục sau khi chết. Vì thế tôi
đã khẩn cầu bà ở lại dựï một khóa tu thiền với tôi,
và bà bằng lòng.
Thật
kỳ lạ, cuộc sống hoà đồng ở Thiền đường đã hấp
dẫn Ni sư. Bà nhận xét rằng sống như thế này thật là
tiết kiệm và hữu ích. Vì từ đó bà tham thiền trong Thiền
đường, rồi thọ thực chung với ni chúng, nên tôi không cần
phải làm thị giả cho bà nữa. Tôi chỉ giúp bà giặt quần
áo và làm những công việc lặt vặt. Ngồi thiền là một
điều rất mới lạ đối với bà, nhưng bà phát khởi tín
tâm vàø "lòng quyết tâm mạnh mẽ" để thực hành đã nẩy
sinh.
Năm
sau, vào cuối khóa thiền mùa hạ, Ni sư lại xuất hiện. Lúc
đó bà đang sống ở thiền đường Yunp'il Am, một ni viện
gần Mungyong, miền đông bắc của Nam Hàn. Bà hỏi tôi có
muốn cùng đến đó không. Tôi nhận lời, quá đỗi vui mừng
với triển vọng có nhiều thời gian để ở bên bàø.
Cuộc
Diện Kiến Kinh Hoàng
Tuy
nhiên trước khi ra đi, tôi quyết định học thêm về "hwadu"
(nghĩa đen là "thoại đầu", phần quan trọng của công án)
từ lão sư Mangong. Tôi chưa bao giờ thực sự có cơ hội để
tham vấn Sư, vì tôi luôn bận rộn trong nhà bếp. Mặc dù
tôi đã nghe qua các bài thuyết pháp của Sư, đã thử thực
hành những lời dạy của Sư, nhưng tôi thường bỏ cuộc
sau một thời gian ngắn. Tôi cũng chưa thực tập một cách
nghiêm túc một công án hwadu nào. Sư Mangong thường dạy các
hwadus, "Vạn pháp trở về một. Một trở về đâu?", "Không!",
hoặc "Cái gì đây?". Tôi nhận thức rằng nếu tôi thật sự
muốn tham thiền, tôi phải có một hwadu (công án) của riêng
mình.
Vì
vậy, một ngày nọ tôi đến bái kiến Sư Mangong trong thư
phòng của ngài. Sư đang ngồi một mình. Tôi cúi chào ba lần
rồi thưa: "Con muốn có một hwadu. Xin Thầy dạy cho con một
hwadu".
Sư
đã thấy tôi vào, nhưng cũng chẳng ngước nhìn. Sư chỉ ngồi
nhắm mắt. Tôi cảm thấy bối rối vô cùng, tự nghĩ không
biết có phải Sư hành động như thế vì nghĩ tôi nhỏ con,
không thể tu tập. Tôi cảm thấy buồn và bắt đầu nghĩ
đến tất cả những khuyết điểm của mình.
Và
rồi, sau 30 phút im lặng, tôi quyết định đi ra. Ngay lúc ấy,
Sư bỗng mở lớn mắt, la lên: "Cô không có khả năng biết
được đâu là đầu hay đuôi, thì làm gì biết được loại
'thoại đầu' nào mà nói?"
Tôi
quá bất ngờ vì sự la lối này đến nỗi tôi cảm thấy
nặng ngực, tim tôi đập như thể vừa bị một trái banh dội
vào. Tôi chẳng biết làm gì nữa. Tôi cảm thấy đau khổ
vì bị la thay vì được một hwadu, tôi bổ nhào ra cửa sau
không dám hỏi thêm gì nữa.
Sau
đó không lâu, tôi ra đi theo sư phụ tôi. Tôi rất vui được
đi với bà, nhưng dường như có một khối gì động lại
nơi ngực của tôi, từ sau cuộc diện kiến kinh hoàng với
Sư Mangong. Tôi vẫn còn traøn ñaáy thất vọng và lo âu vì
không có được một hwadu.
Không
bao lâu sau khi chúng tôi đến Yunp'il Am, thầy Ch'ongam, một
vị đệ tử của Sư Mangong, từ Taesong Am, một tu viện lớn
gần bên, nơi thầy đang giữ chức vụ cố vấn Thiền môn,
đến thăm ni viện. Tôi xin thầy dạy tôi chút ít về hwadu
để tôi có thể hành thiền tốt hơn. Thầy kêu lên: "Nếu
cô đã không học được hwadu từ nơi Sư Mangong, thì cô còn
học được từ ai nữa?"
Điều
này còn làm tôi đau khổ hơn và tôi suy gẫm về sự kiện
đây là lần thứ hai tôi bị khiển trách bởi một vị thầy
có tiếng. Lần nữa tôi lại tràn đầy lo lắng, xấu hổ.
Sự
Sáng Suốt Rõ Ràng
Vài
ngày sau đó thiền bắt đầu. Ba mươi vị ni đã họp lại
ở thiền đường, toàn là những thiền sinh cần mẫn. Chúng
tôi quyết định bắt đầu với thời gian là 30 ngày tích
cực tham thiền. Nhưng tôi không thể nghĩ đến việc thực
tập đàng hoàng nữa, tôi chỉ cảm thấy một nỗi thất vọng
và xấu hổ cùng cực, nghĩ rằng mọi người có lẽ đang
hỏi rằng tôi làm gì trong thời gian tham thiền này. Tôi phải
pha trà vào buổi sáng, nhưng thời gian còn lại tôi ngồi thiền.
Đôi lúc tôi cảm nhận những ý nghĩ đau buồn, đôi khi những
nghi ngờ như "Tại sao tôi không thể thực tập như những
người khác?" và "Tại sao các vị taêng luôn quở trách tôi,
không ban cho tôi một hwadu?"
Trong
suốt 21 ngày sau đó, cái tâm tự khiển trách này vẫn không
thuyên giảm. Tôi không còn thiết ngủ nghỉ hay trò truyện
với ai. Rồi tôi nhận thấy mình đang ở trong trạng thái
sáng suốt rõ ràng. Ni chúng đều nghỉ ngơi lúc 11: 30 trong
thiền đường ở chỗ riêng của họ, nhưng tôi lại vào phòng
bên cạnh ngồi thiền suốt đêm. Dần dần, một trạng thái
tâm tỉnh thức, sáng suốt phát sinh. Tất cả mọi vọng tưởng
tan biến, chỉ còn lại một sự tĩnh lặng sáng suốt. Đôi
khi câu hỏi, "Cái gì đây?" lại phát khởi trong tâm. Tất
cả mọi dấu vết của phiền não biến mất, chỉ còn lại
một tâm thức sáng suốt, thanh tịnh.
Đột
nhiên một ý nghĩ độc nhất xuyên qua tôi, lên đến tận
đỉnh đầu. Ý nghĩ này mãnh liệt đến nỗi tôi buột miệng
thốt lên "Từ lúc ban sơ đã không đầu, không đuôi, vậy
thì đâu là đầu, đâu là đuôi?"
Không
Chướng Ngại
Sau
đó không lâu, thầy Ch'ongam lại đến Yunp'il Am. Tôi thưa với
Thầy tâm tự trách đã được hóa giải trong tôi, đến độ
tôi cảm thấy tôi có thể không màng đến các vị đại sư.
Thầy giải thích đó là đại nghi trong tôi sắp bùng vỡ.
Nó còn trên đà phát triển trước khi bùng vỡ, nhưng một
khi nó đã xảy ra thì sự thực hành sẽ tiến triển một
cách dễ dàng.
Hôm
sau, Thầy dán trên tường của thiền đường một câu như
sau: "Ngồi trên con thuyền sắt không đáy, vượt qua sông không
chướng ngại."
Khi
đọc câu này, bất giác tôi nhận ra rằng không có chướng
ngại trong tâm thức tôi. Chỉ còn lại sự nghi hoặc, nhưng
rồi nó cũng sẽ biến mất! Lần sau gặp lại, tôi trình bày
với Thầy làm thế nào màø tôi đã hiểu được con thuyền
sắt không đáy chính là tâm thức. Tôi cũng nói thêm là vì
cơ bản, tâm thức không có chướng ngại, nó không bị trở
ngại khi vượt qua bờ bên kia.
Thầy
trả lời là lòng nghi hoặc của tôi giờ đã bị phá vỡ
rồi, và sự thực tập của tôi đang tiến triển tốt đẹp.
Dường như đây là lần đầu tiên Thầy gặp một vị ni với
tâm không còn nghi hoặc, điều đóù thúc giục Thầy quay về
Chonghye Sa để thực tập hết sức tinh tấn dưới sự chỉ
dạy của lão sư Mangong. Hình như Thầy sợ bị một vị ni
qua mặt trong sự thực tập.
Giờ
tôi không còn bị các vọng tưởng chi phối; tâm tôi hoàn
toàn sáng suốt, thanh tịnh và phát tín tâm rộng lớn. Tôi
rất vui với niềm tin tràn đầy và không thể nghĩ đến điều
gì khác ngoài vieäc hành thiền.
Trong
khóa tu thiền mùa hè đó, một sự kiện trong tiền kiếp của
tôi chợt xuất hiện. Tôi thấy trong một tiền kiếp tôi là
một tăng sĩ tuấn tú, thông minh. Tôi cũng thấy một cô gái
rất xinh đẹp được sinh ra từ cõi trời, rồi trở thành
một vị ni. Tôi đã làm cho vị ni này phạm giới. Sau đó
tôi chết đi ở tuổi 50, rồi tái sanh với thân thể nhỏ
thó xấu xí, nhưng với một tâm thức trong sáng. Sau khi vị
ni xinh đẹp từ trần, lại được tái sanh làm ni mà bây giờ
là sư phụ của tôi.
Khi
chung sống với sư phụ, tôi vẫn thường tự hỏi tại sao,
bất kể hành vi của tôi, thầy tôi lúc thích tôi và lúc lại
không ưa. Sau khi nhìn thấy điều này tôi hiểu rằng tại
vì tôi đã làm bà ta phạm giới trong kiếp trước. Tôi không
biết có nên coi trọng về ảo ảnh đã thấy hay không, tuy
nhiên tôi cảm thấy rất sung sướng khi biết về nó.
Trên
Đường Đi
Cũng
gần bốn năm từ lúc tôi rời Yunp'il Am. Bây giờ tôi tin rằng
nếu lúc ấy tôi ở lại thêm một năm nữa tôi có thể hoàn
thành công tác (giác ngộ rốt ráo). Tuy nhiên, một bạn đạo
đã thuyết phục tôi cùng chu du đây đó, và tôi quyết định
đi chung. Người bạn này là Pongong Sunim. Cô này đi với tôi
vì cô nghe nói về sự đốn ngộ của tôi và đề nghị cùng
đi đến Đỉnh Odae sau mùa an cư. Tôi đồng ý một cách hăng
hái, nghĩ rằng đấy là một chỗ tốt để thực tập và
hoàn thành công việc.
Trước
khi đi, chúng tôi thực hiện một thời khóa tụng niệm đặc
biệt. Trong vòng bảy ngày chúng tôi giữ yên lặng, rồi tụng
niệm và đứng suốt ngày. Lúc kết thúc, một bé trai xuất
hiện trước mặt tôi như trong mơ. Pongong Sunim không thấy
đứa bé, riêng tôi hỏi đứa bé ấy từ đâu đến và tại
sao lại đến đây. Đứa bé trả lời đến từ Đỉnh Odae,
và rằng vị đại Lão Thiền sư Hanam sai cậu đến dẫn đường
cho chúng tôi. Sự xuất hiện này rõ ràng là một dấu hiệu
để củng cố lòng quyết tâm của chúng tôi.
Vì
thế chúng tôi ra đi. Trên đường đi chúng tôi nhân tiện
đó đến iếng Dãy núi Kim Cương (Diamond Mountains). Đây là
lần đầu tiên tôi thấy những cảnh hùng vĩ đẹp đẻ như
vậy. Ở động Podok, chúng tôi lại thực hiện trì niệm trong
vòng bảy ngày, rồi là Nakasan Sa, và một nơi khác nữa, kéo
dài đến l4 ngày. Vào cuối thời gian trì niệm này, Bố Tát
Quán Thế Âm, với hình ảnh treo trên điện, đã hiện ra nói
với tôi : "Nếu con thật sự muốn thực tập, tại sao lại
luẩn quẩn vô ích ở đây? Mau đến ra mắt vị đại Lão
Thiền sư! Tham vấn Pháp với ngài, rồi thực hành tinh tấn!"
Vì
vậy chúng tôi tiếp tục đi đến thiền viện của Lão sư
Hanam. Khi xuyên qua những vùng núi non quanh Đỉnh Odae, chúng
tôi đến một ngôi chùa nhỏ. Vì trời đã tối, chúng tôi
quyết định ngủ qua đêm. Ba vị tăng sĩ cư trú tại chùa
rất ngạc nhiên khi thấy chúng tôi, vì họ chưa từng thấy
các vị ni đi du hành chỉ để tiến sâu hơn trong sự tu tập.
Vì chùa rất nhỏ hẹp, họ phải ngăn phòng chánh ra làm hai
bằng tấm ngăn, rồi nhất quyết dành cho chúng tôi chỗ ấm
nhất trên sàn để ngủ. Đây là vào tháng mười, tuyết đang
rơi nhiều và chúng tôi còn đến 40 dặm (16km/ 10 miles) mới
đến Sangwon Sa, thiền viện của Thiền Sư Hanam.
Các
vị tăng sĩ khuyên chúng tôi nên đi theo đường đèo Sinsollyong,
con đường mà họ nghĩ rằng sẽ không khó đi lắm. Sau khi
dùng cơm, chúng tôi rời chùa rất sớm. Khi chúng tôi đang
giữa đường lên núi, thình lình một thanh niên xuất hiện
và muốn biết chúng tôi đang đi đâu. Nghe xong, anh ta khuyên
chúng tôi nên ngủ lại một làng gần đó đêm nay, vì chúng
tôi hãy còn rất xa đích đến.
Lạc
Lối
Sáng
hôm sau, chúng tôi lại lên đường. Đó là một ngày sáng
trong tươi đẹp, nhưng đi một lúc chúng tôi không thể tìm
thấy đúng đường vì tuyết rất nhiều. Chỉ còn vài ngày
nữa là khoá tu thiền bắt đầu, vậy mà ở nơi đây chúng
tôi không thể tiến tới hay thối lui - thật là gay go. Rồi
chúng tôi nghe tiếng la của một người đàn ông: "Các vị
làm gì ở đây? Nếu các vị đi lạc đường bây giờ thì
các vị sẽ chết cóng mất!" Chúng tôi năn nỉ anh ta chỉ
dùm đường và anh ta bảo chúng tôi nên chọn con đường chính
giữa, mà chúng tôi cũng vừa nhận ra. Lạ một điều là hình
như đó cũng là người mà chúng tôi đã gặp hôm trước.
Cuối
cùng, chúng tôi cũng đến được tu viện Sangwon Sa trong tình
trạng ướt sũng. Khi diện kiến Thiền sư Hanam, ngài hết
sức kinh hoàng khi nghe chúng tôi kể đã chọn con đường nào
để đến tu viện. Hình như kể cả những người rành rọt
về vùng đó, cũng phải chết cóng, nếu đi theo con đường
chúng tôi đã đi. Chúng tôi kể có một thanh niên đã giúp
đỡ chúng tôi như thế nài. Ngài bảo rằng đôi lúc Bồ Tát
Văn Thù hiện thân để giúp những kẻ lạc lối có lòng tin
thành kính.
Sau
cuộc gặp gỡ ấy, chúng tôi được biết có năm vị ni nữa
cũng đến từ Yunp'il Am. Điều này làm cho chúng tôi vô cùng
sung sướng vì nơi đây có đến 80 vị tăng.
Ngày
hôm sau, sau bữa ăn sáng, bảy người chúng tôi đến đảnh
lễ mọi người để gia nhập tăng đoàn. Các tăng sĩ rất
ngạc nhiên khi thấy bảy vị ni - vì đêm trước chỉ có hai
người - và họ đã từ chối không chấp nhận chúng tôi.
Chúng
tôi đang bối rối, không biết phải làm gì sau đó. Thì Thiền
sư Hanam đã ân cần cho chúng tôi biết về Chijang Am, một
ni viện cách đấy 30 dặm (12km / 7.5 miles), nơi chúng tôi có
thể sẽ được nhận vào khóa tu thiền. Vị ni trưởng của
Chijang Am hóa ra là một bạn đạo. Bà chỉ sống với một
người học trò ở đây, nên rất niềm nở tiếp nhận chúng
tôi. Vào ngày đầu khoá, chúng tôi tắm rửa, cạo đầu và
đi trở lại thiền viện để nghe Thiền sư Hanam thuyết giảng.
Bài pháp đầu tiên về Kinh "Platform Sutra" và tôi cảm thấy
mình có thể hiểu được tất cả những gì Thiền sư đã
nói.
Thiền
sư Hanam rất từ bi, giống như một người mẹ, khi ngài cố
gắng làm cho chúng tôi hiểu nghĩa kinh và nghiên cứu thêm.
Ngài biết là tôi đã đến từ chỗ của Thiền sư Mangong
và đang thực tập về "hwadu", nhưng tôi tham vấn ngài về
điều ấy trong lần đầu gặp gở. Thật ra tôi cũng chưa
bao giờ tham dự việc trao đổi pháp với ngài; mục đích
của tôi ở đây chỉ đơn thuần là được học tập dưới
sự hướng dẫn của ngaøi, cố gắng thực hành miên mật
để giác ngộ và sau đó sẽ trở về gặp lại Thiền sư
Mangong.
Người
Giữ Chùa
Sau
đó không lâu, một trưởng lão ni hỏi xem ai trong chúng tôi
có thể trông coi dùm ngôi chùa nhỏ của bà ở tỉnh Kangnung.
Không nhằm mùa an cư, nên tôi tình nguyện đi. Thức ăn ở
đó rất tệ, vì vị lão ni ấy đã khoá kho chứa gạo trước
khi đi, để lại cho tôi thức ăn sơ sài chỉ gồm khoai lang
và bắp. Tôi không quen với những thức ăn này; hồi nào đến
giờ tôi luôn có ít nhất chút cơm để ăn. Chẳng bao lâu
tôi bắt đầu cảm thấy chóng mặt. Rồi cả thân thể tôi
trở vàng vì bệnh vàng da.
Các
vị ni tới thăm khuyên tôi nên trở lại Chijang Am, nhưng tôi
thà chết chớ không muốn phận sự không tròn. Đến một
lúc, da tôi trở nên rất vàng, và dù không cảm thấy đau
đớn gì, nhưng tôi hòan toàn kiệt lực. Tôi chỉ có thể
ăn các cọng moku mà một huynh đệ trẻ tuổi đã đến nấu
giúp và năn nỉ tôi ăn. Ít nhất các cọng moku này cũng có
vị ngọt mà tôi rất thích.
Rồi
tôi đã mơ. Một cậu bé cỡ 14 tuổi xuất hiện trước mặt
tôi với một cái bát bằng đồng sáng chói đựng đầy cơm
nóng hỗi. Cậu đưa bát cơm cho tôi, nói răng chứng viêm da
vì thiếu dinh dưỡng sẽ được chữa khỏi và tôi sẽ được
bình phục. Tôi ăn hết bát cơm và trong vòng ba ngày khuôn
mặt tôi có thần sắc trở lại và cơn đói cũng biến mất.
Tôi cảm thấy bây giờ mình sẽ sống. Sau đó không lâu, vị
laõ ni trở veà và tôi quay lại Chijang Am.
Về
đến nơi tôi lại có một giấc mơ khác. Pongong Sunim và tôi
đang đi trên một con đường khi chúng tôi gặp một đám trẻ
đang đào đất. Khi tôi hỏi chúng đang làm gì, thì chúng trả
lời rằng đang tìm đủ loại thuốc và cho chúng tôi mỗi
người một ít. Khi vừa nuốt xong phần thuốc của mình, tôi
ngửi được một mùi hương kỳ diệu, tâm thức tôi cảm
thấy bình yên, rộng mở. Cảm giác thật là dễ chịu, khiến
lòng của tôi thêm sức mạnh. Sau đó sức khoẻ và sự ăn
uống của tôi hoàn toàn được phục hồi.
Ở
Chijang Am, tôi tinh tấn thực hành thiền định. Tuy thế, tôi
vẫn phải đảm trách bao nhiêu công việc khác, có lẻ đó
là một sai lầm trong quá trình tu tập của tôi, ở thời điểm
đó. Dù tôi tiếp tục quán sát câu thoại đầu "Trở về
với bản tâm", nhưng vì đã có lần sự nghi ngờ của tôi
được vỡ ngộ, tôi cảm thấy mình đã tìm ra được câu
trả lời. Điều này có nghĩa laø sự nghi ngờ của tôi chưa
đủ mạnh. Vì thế tôi tiếp tục quán sát câu thoại đầu,
mà không đào sâu tận gốc rễ. Lý ra tôi phải tham vấn với
Thiền sư Hanam về điều này, nhưng tôi nghĩ mình có thể
chờ đợi để hỏi Thiền sư Mangong.
Ngôi
Chùa Hoang
Ngày
nọ một người bạn và tôi bị lạc đường khi đi hái cây
cỏ dại trên triền núi gần Puktae. Cuối cùng khi chúng tôi
trở về, Pongong Sunim lại nói đã chuẩn bị bữa ăn cho chúng
tôi ở Puktae. Thế là chúng tôi đi đến đó, với ý định
sẽ viếng Sangwon Sa vào ngày sau để xin lỗi về việc đã
gây ra lo lắng cho họ. Đêm đã xuống khi chúng tôi đến và
trời rất tối. Puktae chỉ là một ngôi chùa hoang, nhưng vì
đang buồn lo về những gì đã xảy ra, chúng tôi không cảm
thấy sợ nữa. Người bạn của tôi đi ngủ liền, nhưng tôi
chỉ ngồi đó, không thể ngủ được vì xấu hổ.
Tôi
không cảm giác gì - không đau đớn, không đói - chỉ là nỗi
đau đáu vì đã làm cho người khác buồn lòng. Thế nhưng
vào lúc nửa đêm, sự xấu hổ của tôi đã chuyển hoá thành
một trạng thái sáng tõ, yên bình. Tâm tôi không có ý nghĩ
nào, ngoài câu thoại đầu. Thình lình có một tiếng rít và
đèn cầy tắt phụp. Bạn của tôi vẫn ngáy đều. Nếu hoảng
loạn, tôi đã có thể chết ngay lúc ấy, nhưng tôi chỉ đứng
dậy, đốt lại đèn và ngồi trở lại. Tôi nghĩ đến Thiền
sư Naong, người đã sống ở nơi này trước đây rất lâu,
nghĩ đến những khó khăn mà ông đã phải trải qua.
Ngày
hôm sau, khi gặp Thiền sư Hanam, tôi thưa với ngài là tôi
đã không ngủ được và đã ngồi thiền cả đêm. Thiền
sư khen ngợi sự tinh tấn của tôi và nói rằng chúng tôi
đã có thể ở lại Puktae cũng là nhờ đó. "Một vong linh
đã thổi tắt đèn của cô", ông nói. "Vong linh đó ở đấy
đã ba năm rồi. Chuyện là một ngày có tên trộm từ một
làng dưới thung lũng đã lên đó để trộm gạo của nhà
sư đang sống ở đó. Nhà sư đã thiệt mạng trong lúc chống
cự tên trộm. Vì thế, ông đã trở thành một vong linh. Điều
này có thể không xảy ra, nếu ông chết với tâm thanh tịnh".
Thiền
Sư Mangong Qua Đời
Vào
khoảng thời gian đó, tôi đã nghe tin buồn về sự ra đi của
Thiền sư Mangong. Tôi đã khóc rất nhiều. Thiền sư Mangong
giống như một người cha cứng rắn, nghiêm khắc. Sư chỉ
lắng nghe những lời giác ngộ, và luôn cố gắng giúp mọi
người thấy được bản tâm chân thật của mình. Đôi lúc
sư viết thư cho các thiền sinh còn đang tham dự trong khoá
tu thiền. Một lần Thiền sư gửi cho tôi một lá thư tới
Yunp'il Am, bảo tôi viết cho thầy biết những thắc mắc của
tôi. Tôi đã viết : "Sau khi nấu sôi một hòn đá cho đến
lúc nó mềm ra, tôi sẽ tặng nó cho vị cố vấn uyên thâm".
Sư trả lời rằng sư chọn lấy hòn đá chưa nấu.
Tôi
không dự được đám tang hay buổi lễ cúng bốn mươi chín
ngày của sư nhưng quyết định phải dự buổi lễ cúng một
trăm ngày. Sau đó, Pophui Sunim, vị cố vấn cho các ni ở gần
Kyongsong Am, khuyên tôi đừng trở lại Chijang Am. Ngoài ra, vị
trụ trì của ni viện nhấn mạnh rằng điều quan trọng là
trong khóa tu sắp tới, tôi phải sống hòa hợp với đông
đảo ni chúng và phải đảm nhận các công việc khác nữa.
Tôi bảo rằng tôi phải đi, vì không mang theo mền và túi
nải thì trống không. Bà nói có thể nhắn người khác mang
đồ dùng của tôi đến đây. Vì bà quá cương quyết, tôi
không còn lựa chọn nào khác hơn làø ở lại Kyongsong Am mùa
hè năm đó.
Thời
Hạn Ba Năm
Ở
Kyongsong Am tôi được giao ngay nhiệm vụ trông coi thực phẩm.
Tuy nhiên, trước khi mãn thời hạn của nhiệm vụ này, tôi
lại được cử làm người phụ bếp. Dường như họ không
muốn tôi rời khỏi đây. Tôi cố gắng từ chối công việc
này với lý do là tôi không biết quản lý tiền bạc, không
biết đi mua bán, không biết giao tiếp. Họ bảo là sẽ có
người giúp đỡ tôi, rồi tôi nghe một giọng nói bực bội:
"Những người trẻ này, họ tưởng mình là ai chứ, cứ lang
thang từ thiền đường này qua thiền đường khác mà không
biết nhận lãnh một trách nhiệm nào hết. Không thể như
vậy được!" Vì thế tôi nhận lãnh nhiệm vụ làm phụ bếp
trong ba năm và thực tập trong Thiền đường khi nào tôi rảnh
rang.
Một
sáng sớm nọ tôi đang ngồi thiền thì cảm thấy như bị
sét đánh và một mảnh của mặt trăng xâm nhập tôi. Tâm
thức tôi thật sáng tỏ, còn thân tôi như thể đã bị cuốn
đi xa. Tôi hét lên : "Tôi đã được giải thoát khỏi sanh
tử!" Mọi người trong thiền đường giật mình, chắc họ
tự hỏi không biết tôi đã mơ thấy gì. Vì thế tôi rời
thiền đường, cười khúc khích một mình, rồi thiền hành
lặng lẽ một lúc bên ngoài.
Trước
khi hết ba năm, tôi quyết định đi nơi khác. Tuy nhiên, vào
đêm trước khi tôi định đảnh lễ Tam bảo trong chánh điện
để ra đi, Thiền sư Mangong hiện ra trong giấc mơ của tôi.
Sư bảo người chủ lễ gióng chuông gọi người phụ bếp.
Để một vị thiền sư đã viên tịch phải trở về lo lắng
cho mình, tôi cảm thấy mình đã không còn trách nhiệm. Tôi
mặc áo tràng vào phòng đảnh lễ Sư. Nhìn Sư như người
sống, khiến tôi không cảm thấy đó là một giấc mơ.
Khi
tôi cúi xuống đảnh lễ, Sư bảo: "Tôi nghe nói cô định
từ bỏ nhiệm vụ của mình".
"Vâng,
con sẽ đi.", tôi trả lời yếu ớt.
Sư
nói : "Cô phải hoàn thành nhiệm vụ đủ ba năm, chỉ có thế
cô mới trọn vẹn trách nhiệm".
Nhưng
tôi nài nỉ rằng tôi đã quyết định rồi, và sẽ rời khỏi
đây vào ngày mai. Thế là sáng hôm sau tôi đến đảnh lễ
ni chúng lần cuối.
Sau
đó không lâu Kobong Sunim, vị thiền chủ mới của Chonghye
Sa, bảo tôi đến gặp ông. Ông nói: "Cô đã phạm một sai
lầm. Tăng đoàn nhờ tôi thuyết phục cô hoàn thành đủ ba
năm trách nhiệm của mình. Nếu tăng đoàn đồng ý về việc
gì, thì chắc chắn là đức Phật cũng thuận theo điều đó.
Tôi có nghe về kinh nghiệm của cô ở Yunp'il Am và tôi tin
rằng nếu cô ở lại Kyongsong Am đủ ba năm, cô sẽ hoàn thành
trách vụ của mình".
Tôi
trả lời là đã quá đủ và sẽ đi.
Sau
đó tôi có một giấc mơ gây ấn tượng rằng nếu tôi ở
đủ ba năm ở Kyongsong Am, tôi sẽ hoàn tất mọi công đức
cần thiết. Nhưng nếu tôi không làm tròn việc này, thì tôi
sẽ không bao giờ có khả năng thuyết pháp. (Thật vậy, điều
đó đã trở thành sự thật. Tôi không bao giờ có khả năng
thuyết pháp.) Mặc kệ những giấc mơ này và lời nài nỉ
của thầy Kobong Sunim, tôi rời bỏ nhiệm vụ.
Pophui
Sunim khuyên tôi nghỉ việc phụ bếp, mời tôi theo bà về
ni viện mà bà phải trông coi ở Seoul. Tôi vui vẻ nhận lời.
Các
vị ni ở đấy muốn tôi trở thành người hướng dẫn ở
Thiền đường. Tôi cố gắng từ chối với lý do là tôi đã
quá già và không biết điều hành. Nhưng họ khẩn hoãn : "Bà
chắc chắn biết phải làm sao. Chúng tôi đều nghe qua những
chứng nghiệm của bà ở Yunp'il Am."
"Tôi
hết biết nói sao.", tôi trả lời.
"Nếu
bà hết biết nói sao, thì tôi sẽ nói dùm cho bà," một người
vặn lại.
"Cứ
làm đi!"
Vì
vậy tôi đã làm người hướng dẫn ở Thiền đường trong
mùa hè đó.
Chiên
Tranh Hàn Quốc Và Sau Đó
Vào
lúc rảnh rang, không có khóa tu, tôi nói với Phophui Sunim là
tôi phải đi thăm thầy của tôi ở Magok Sa trong một thời
gian ngắn. Dù tôi đi không hành lý, nhưng vì chiến tranh ở
Hàn quốc bùng nổ, nên đến ba năm sau tôi mới rời nơi đó
được. Người ta đe dọa sẽ giết các vị thầy, vì thế
rất nhiều thầy cũng như các Phật tử, phải lánh nạn ở
Magok Sa, vì nghe nói là tu viện này được các chư thiên bảo
vệ. Và đúng là như vậy; chiến tranh hoàn toàn không ảnh
hưởng đến chúng tôi.
Sau
chiến tranh, Pongong Sunim đến Magok Sa, đề nghị tôi cùng bà
đến tu học tại Tonghwa Sa, một tu viện gần thành phố Daegu,
nơi mà Thiền sư Huyobong đang trú ngụ. Tôi ở đấy hai năm.
Tôi
nhớ Sư có giảng một bài mà Sư nói : "Có một bục giảng
ở trên trời cao. Vậy thì đức Phật phải đứng ở đâu?"
Tôi đến đứng trước mặt Sư. Sư cười và nói rằng tôi
đã hiểu.
Một
lần khác, Sư Hyobong nhận được vài nắm lá trong một bao
thư do Thiền sư Kyongbong gửi. Sư hỏi chúng tôi ý nghĩa của
điều này. Tôi nói : "Thầy ấy đã sai khi nhặt nắm lá này."
Sư
Hyobong rất từ bi, luôn luôn giúp đỡ mọi người nghiên cứu,
học hỏi. Được học pháp với Sư, việc thực tập của
tôi rất khả quan.
Sau
khi rời Tonghwa Sa, Pongong Sunim và tôi lang thang khắp nơi suốt
ba năm, hành thiền nơi này nơi kia. Cuối cùng chúng tôi đến
thành phố Namhae, nơi có một ngôi chùa đặc biệt dành cho
các tăng ni tổ chức các buổi lễ tụng. Chúng tôi ở gần
đó trong một am nhỏ do một nữ cư sĩ cất. Chúng tôi đến
Namhae tụng kinh trong bảy ngày, rồi quay về am để thực tập
thiền. Tôi ở đó ba năm, nhưng chỉ tụng các thời trong khóa
đầu tiên thôi.
Khi
chiến tranh Hàn quốc gần kết thúc, tôi mới nhận người
đệ tử đầu tiên. Một vị tăng đã dẫn người ấy đến
chùa, rồi bảo hãy đảnh lễ vị ni nào mà bà ấy muốn nhận
làm thầy. Bà ấy đảnh lễ tôi. Vì bà ấy đã quá già, tôi
sợ bà ấy không thể học được kinh kệ vì cần phải học
thuộc lòng nhiều bài kinh. Vì vậy sau hai năm, tôi gửi bà
ấy đến những thiền đường nơi có những vị ni sư giỏi
về Thiền, như Pophui Sunim và Mansong Sunim. Bà ta đặc biệt
thích Mansong Sunim.
Tôi
không gặp đệ tử của mình trong một thời gian dài. Rồi
một ngày nọ bà xuất hiện ở thảo am. Bà nói rằng tôi
đã ốm đi nhiều, quần áo thì quá lôi thôi, và khuyến khích
tôi trở lại Taesong Am, ni viện của Mansong Sunim với bà. Mặc
dù Pongong Sunim rất bực bội là tôi đã nghe lời học trò,
nhưng thật ra lời đề nghị đó cũng là ý muốn của tôi.
Vì vậy, tôi nhất định ra đi, Pongong Sunim hứa là sẽ theo
chúng tôi sau.
Mansong
Sunim lo lắng cho tôi chu đáo, cung cấp thuốc men để tôi bồi
bổ, nên mặt tôi tròn trịa ra.
Một
lần Sansong Sunim và tôi đi đến một bờ sông. Bà ấy hỏi:
"Dòng sông chảy hay là gió thổi?"
Tôi
trả lời : "Đấy là tâm của bàø động". Bà cười. Đây
là lần duy nhất mà chúng tôi trao đổi Pháp.
An
Cư
Thế
rồi chúng tôi cùng đến Naewon Sa để giúp cử hành một tang
lễ đặc biệt. Mansong Sunim muốn tôi trở về với bà, nhưng
các vị ni ở Naewon Sa xin tôi ở lại làm cố vấn cho họ.
Khi đã ở hẳn đây, tôi có thể chăm sóc cho các vị ni trẻ
đến học thiền. Cho đến lúc đó, vẫn còn là một phong
tục khi các vị ni chỉ đến ở trong các khóa thiền, và trong
những thời gian còn lại, nơi đây luôn vắng vẻ. Ni trưởng
Suok Sunim xin tôi hãy coi ni viện này như nhà của mình, như
thế sẽ khuyến khích ni chúng ở đây quanh năm.
Tôi
rất thích sống ở Naewon Sa và trở nên hăng hái nhiều. Hai
vị Trưởng lão: Sư Hyanggok và Sư Kyongbong, thường xuyên thăm
viếng, khiến tôi thêm tinh tấn. Điều này rất hữu ích vì
sự quyết tâm của tôi đã lung lay nhiều sau sự ra đi của
Sư Mangong. Quán tưởng về câu thoại đầu, "Trở về với
một", tôi đã hiểu là tất cả mọi thứ đều trở lại
một và cái một đó lại trở về giữa tâm, chấm dứt ở
đấy. Tuy vậy, sau khi nghe Sư Hyanggok giảng, tôi thích nghi
với thoại đầu "Không!" và đã thực tập từ đó đến giờ.
Sư
Kyongbong một lần viết như sau : " Kinh điển từ đâu đến?
Đức Phật lấy các kinh này từ đâu ra?"
Tôi
hỏi lại Sư: "Tại sao, thưa Lão Sư, tại sao ngài lại lo nghĩ
đến các vọng tưởng đó?"
Sư
gật đầu, cười.
Dù
Sư Kyongbong rất tử tế, tôi cũng không cảm thấy thích bàn
luận với Sư về kinh nghiệm tu tập của mình. Có thể tại
vì Sư đã quá già yếu, và thường lui ra ngay sau khi thuyết
pháp.
Sư
Hyanggok, ngược lại, rất là mạnh mẽ và thô bạo - thật
ra, khá đáng sợ. Tôi nhớ Sư đã một lần la chúng tôi: "Các
vị ở đây đông đảo thế nầy, nhưng các vị đang làm gì?
Ăn uống, chăm sóc bản thân, ngắm cảnh, chỉ tổn hao sự
cúng dường của cư sĩ? Tại sao các vị cả ngày chỉ lo chơi?
Tại sao các vị không lo tu?"
Thế
rồi, Sư cho một bài pháp. Trước khi chấm dứt, Sư lại lớn
tiếng: "Mười ngàn vị Văn Thù ở đây. Hãy tìm ra vị chân
thật, nguyên thủy!" và đi như vũ bảo về phòng.
Tôi
còn nguyên áo tràng, chạy theo Sư la to: "Vị Văn Thù chân thật,
các vị Phật trong ba đời, các vị tổ trong dòng thiền, các
vị thầy hiện tại, tất cả đều từ lỗ mũi tôi mà ra!"
Sư
cười lớn và hỏi : "Lỗ mũi của cô đâu?"
Tôi
trả lời :"Đầu tiên thì không có lỗ mũi, nhưng tôi không
thể lên tiếng, nếu không nói về cái gì đó, tôi nói như
thế này đấy."
Sư
lại cười và nói : "Cô đã cố gắng tu tập tốt. Hãy hướng
dẫn và giúp các vị ni trẻ thực tập tốt."
Sau
cuộc đối đầu đó không lâu thì Sư qua đời. Sư đã ban
cho chúng tôi bài pháp đó vì Sư biết mình sẽ không còn sống
bao lâu nữa.
Tôi
đã bước vào Thiền đường năm 32 tuổi và già đi theo thời
gian. Khi còn trẻ, tôi ráo riết tu tập, chỉ dành chút thời
gian để ăn. Nếu tôi đã hoàn thành đủ nhiệm vụ ba năm
ở Kyongsong Am, chắc chắn rằng tôi đã được giác ngộ.
Nhưng khi tôi lắng nghe các bài thuyết pháp của các vị đại
sư, tôi nhận ra rằng có rất nhiều thứ tôi biết mà cũng
có rất nhiều thứ tôi không biết.
Chương
3
LY
ĐÃ BỂ
Ayya
Khema
Ni
sư Ayya Khema là người Đức, nhưng đã chu du thế giới thuyết
pháp. Là một phụ nữ bình thường, Bà cũng đã tạo dựng
gia đình. Người ta tìm thấy nơi Bà sự thẳng thắng, sáng
tạo. Tuy nhiên đôi khi người ta cũng thấy sự gay gắt nơi
Bà, nhưng điều đó xuất phát từ lòng từ bi, ấm áp, chân
thật của Bà. Là người lãnh đạo Phật giáo ở Âu Châu,
Ni sư cũng là tác giả của quyển Being Nobody, Going Nowhere
(ND: Vô Ngã Vô Ưu).
Sống
hay Chết
Mới
đây khi tôi được biết mình bị ung thư ngực, cần được
chữa trị, tôi không coi đó là một tin mới lạ gì. Tôi tự
biết mình mắc bịnh đã hơn 10 năm và đã sông với căn bệnh
như thế từ ấy, cố gắng sử dụng tốt thời gian còn lại
của mình, để khi không còn có thể chống đỡ nổi với
căn bịnh, tôi có thể nhẹ nhàng ra đi. Tôi hoàn toàn không
tìm cách chữa trị cho căn bịnh ung thư của mình, không dùng
thuốc hay hóa trị, vì tôi không muốn bị dính vào cái bẩy
của y học, của thuốc men và tái khám.
Tôi
nghĩ nếu tôi phải chết, thì sẽ chết; nếu được sống
thì sẽ sống. Nhưng cũng đến thời điểm tôi không còn có
thể sống với sự đau đớn triền miên. Phải gần chín năm,
cơn đau mới bộc phát, và trở nên nghiêm trọng đến nổi
tôi phải dùng đến thuốc giảm đau, nhưng cũng thấy chẳng
hiệu qủa gì.
Cuối
cùng tôi cũng bằng lòng giải phẩu, giờ tôi chỉ phải uống
viên một viên hormone mỗi ngày. Tất cả các bác sĩ, y tá
đều rất tử tế với tôi, và những ngày sống trong bịnh
viện đã để lại nhiều kinh nghiệm thú vị. Tôi rất vui
vì các cô y tá đặt những câu hỏi về giáo Pháp. Đó cũng
là dịp để tôi nghỉ ngơi, một sự nghỉ ngơi tôi rất cần
nhưng đã trì hoãn quá lâu, nên tôi kiệt sức. Tôi ở trong
bịnh năm tuần, bốn tuần ở viện hồi sức.
Cuộc
sống của tối đã thay đổi từ đó. Tôi vẫn tiếp tục
công việc hoằng pháp như trước đây, nhưng giờ đây tôi
cảm thấy mình hoàn toàn buông xả, giải thoát khỏi mọi
ham muốn. Có những ngày trọng bịnh viện, đặc biệt là
hai ngày mà tôi không thể nào quên, khi tôi cảm thấy rất
cần kề với cái chết, vì dường như bao sinh lực trong tôi
đều tan biến. Tôi không nói được nữa, và các bộ phận
khác của cơ thể cũng đang rời bỏ tôi. Tôi sẳn sàng chấp
nhận, nhưng các bác sĩ, y tá bằng mọi cách quyết định
cứu sống tôi. Lúc đó tôi nghĩ nếu họ đã cố gắng đến
như thế, thì có lẻ mình cũng phải cố lên đôi chút, và
tôi đã cố gắng chống chọi.
Thêm
nữa, bạn bè, đệ tử, những người ủng hộ tôi cũng gửi
thiệp, hoa; có người điện thoại. Họ nói không quan trọng
việc tôi có còn thuyết pháp được nữa hay không, nhưng biết
tôi còn ở bên họ, đó mới là điều quan trọng. Điều đó
cũng giúp tôi thêm sức mạnh cố chống chọi để được
ở bên họ.
Giờ
đối với tôi, "chiếc ly đã bể". Một người Tây phương
hỏi ngài Achaan Chah, một vị đại sư Thái Lan, vì sao Ngài
giữ qúa nhiều những đồ đạc, vật chất trong phòng. Vị
thầy đáp: " Bạn nhìn cái ly kia, đối với tôi, nó đã bể.
Giờ nó còn nguyên trên bàn, tôi còn dùng nó. Cái ly rất đẹp
có màu sắc óng ánh dưới ánh sáng mặt trời, và phát ra
những âm thanh thánh thót khi tôi khẻ chạm muổng vào. Nhưng
đối với tôi, cái ly như đã bể". Điều ấy có nghĩa là
không bám víu, không chấp chặt vào bất cứ thứ gì.
Bịnh
Hoạn Là Một Ông Thầy Tốt
Nếu
bạn đang hành theo Phật Pháp, bạn sẽ biết coi sự bịnh
hoạn như một ông thầy tốt, vì nó là cái khổ (dukkha) chung
của mọi người. Khi Đức Phật còn là một vị Bồ Tát,
chưa đắc đạo, Ngày nhận ra được sự vô thường, và khổ,
là những động lực thúc đẩy Ngài đi tìm phương cách giải
thoát chúng sanh ra khỏi khổ đau.
Có
người phải trãi qua hoàn cảnh khổ đau mới biết tu, vì
thế đôi khi bịnh hoạn lại giúp con người tìm đến con
đường tâm linh. Nếu bạn đã bước trên con đường đạo,
thì bịnh hoạn giúp bạn phát khởi tâm xả ly. Vì chúng ta
nhận ra rằng đó cũng chỉ là một trong bao cái khổ của
nhân loại.
Trong
bệnh viện ta chỉ thấy toàn người bịnh, bác sĩ, y tá và
thuốc men. Có hằng trăm người bịnh trong một bệnh viện,
trong mỗi quôc gia lại có hàng trăm bệnh viện. Nhận thức
được như thế giúp ta biết các ưu tiên trong đời là gì,
vì khi bạn bịnh nặng thì cái chết là một kết thúc tất
yếu. Bịnh hoạn tạo cho ta cơ hội để buông xả tất cả.
Lúc ấy bạn có thể thật sự nhận thấy mình mất hết các
khái niệm về cá nhân và cá tính; chúng hòa nhập vào bản
thể ban đầu, mà từ đó vạn pháp phát sinh.
Nếu
may mắn ra, chúng ta bịnh hoạn mà không chết, thì hãy coi
đó như một kinh nghiệm cận kề vơi cái chết. Chúng ta có
thể coi như mình đã chết, nhưng được cho thêm một ít thời
gian để giúp đỡ người khác. Coi như mình đã chết có nghĩa
là ta không còn tìm kiếm những thành quả, lợi lộc cá nhân.
Chúng có ích lợi gì khi ta đã chết? Trái lại, ta có thể
dùng khoảng thời gian còn lại cho những việc ích lợi hơn,
ở trường hợp của tôi, đó là hoằng pháp.
Hướng
Dẫn Người Mới Bắt Đầu
Người
bắt đầu học thiền có thể thấy dể thực hành hơn nếu
có phương thức giúp họ theo dõi hơi thở. Nếu thích con số,
họ có thể đếm hơi thở. Nếu thích văn tự, họ có thể
dùng các từ như "từ bi" hay "bình an". Nếu thiên về hình
ảnh, họ có thể dùng hình ảnh các làn sóng biển. Tưởng
tượng hơi thơ như làn sóng biển, tấp vào, giạt ra, có thể
giúp tâm an định, cũng như thở vào, ta nói: 'từ bi', thở
ra, 'bình an'.
Một
khi tâm thiền đã ổn định hơn, họ có thể theo dõi khúc
khởi đầu, khúc giữa và khúc cuối của từng hơi thở, và
chú tâm đến các cảm thọ đi kèm. Họ cũng có thể tỉnh
giác theo dõi các cảm thọ từ mũi đến bụng.
Sau
đó tôi sẽ hướng dẫn họ về vô thường, bằng cách quan
sát sự vô thường của hơi thở cũng như các vọng tưởng.
Nếu bạn có thể đặt tên các vọng tưởng của mình, thì
bạn có thể nhận ra những thói quen suy tưởng của mình.
Chỉ dùng một từ để diễn tả như 'tương lai', 'quá khứ',
'dự tính', 'nghĩ nhớ', 'ao ước', 'chán nản', 'mộng mơ'.
Không cần quan tâm từ nào đến trong đầu bạn trước tiên.
dần dần, bạn sẽ nhận ra một khuôn mẫu, thí dụ, bạn
không ngừng dự tính. Khi bạn đã nhận ra được khuôn mẫu
tư tưởng của mình, bạn sẽ thấy là chúng không ích lợi
gì cả, và sẽ buông bỏ đi.
Người
Quan Sát Không Phải Là Người Suy Tưởng
Một
lợi ích lớn nữa từ việc đặt tên các suy nghĩ là bạn
nhận ra rằng người quan sát không phải là người suy tưởng.
Chúng ta có thể áp dụng điều này trong cuộc sống hằng
ngày bằng cách thay thế các tư tưởng bất thiện bằng tư
tưởng thiện, giống như khi ta thay thế vọng tưởng bằng
cách chú tâm vào hơi thở khi hành thiền. Đức Phật gọi
sự hoán chuyển nầy là 'Tứ Chánh Cần', tóm tắt là không
để cho tư tưởng bất thiện được duy trì, mà thay thế
chúng bằng tư tưởng thiện. Đây là một trong những cách
thực tập thanh tịnh hóa. Để có thể thực hiện điều này,
ta phải biết tâm ta chứa đựng những gì.
Việc
đặt tên chỉ áp dụng cho những người mới bắt đầu. Đối
với các thiền sinh đã có thể định tâm, ít có các vọng
tưởng, thì phương pháp này không ích lợi, nhưng với người
sơ cơ thì rất hữu dụng. Cách này cũng có ích lợi về mặt
giúp ta nhận ra tư tưởng không đáng tin; chúng chỉ là vọng
tưởng. Không cần phải hành động theo chúng. Nếu ta có thể
nhận thức được điều này, ta sẽ không còn hay tranh cãi,
là một sự chuyển đổi tuyệt vời.
Trong
Đời Sống Hàng Ngày
Chánh
niệm rất quan trọng trong cuộc sống đời thường. Chánh
niệm trong thực tế đi kèm với trí tuệ; cái này không thể
thiếu cái kia. Trí tuệ có nghĩa là bạn quan sát xem mục đích,
động lực của mình, xét xem bạn có sử dụng những phương
tiện thiện xảo không. Ngoài ra, ta cũng phải giữ cho tâm
trí được thanh tịnh, để chắc rằng ta không duy trì các
tư tưởng, hành động bất thiện, mà luôn hoán đổi chúng
bằng những hành động, tư tưởng thiện. Sự hoán chuyển
này, cộng với Chánh niệm, tự động giúp chúng ta được
thanh tịnh.
Chứng
Nghiệm
Ta
cần phải thực sự hiểu mọi chứng nghiệm của mình ở
mọi giai đoạn. Nếu không hiểu thì chúng có ích lợi gì
cho ta? Một phụ nữ 60 tuổi đến gặp tôi, bảo rằng bà
đã có một chứng nghiệm 30 năm về trước, mà bà không thể
nào quên, nhưng bà không hiểu đó là gì. Bà đã vào tầng
định thứ năm một cách tự nhiên.
Sau
khi chúng tôi trao đổi về chứng nghiệm của bà, cuối cùng
bà cũng hiểu, có được chút tri kiến về điều đó, và
theo con đường tu thiền. Nếu bà biết tìm kiếm câu giải
đáp trong những lời dạy của Đức Phật, bà đã có thể
hiểu được sớm hơn. Sự chứng nghiệm mà ta có được ở
trong tim ta, đó là những cảm xúc của ta; sự hiểu biết
lại ở trong đầu ta. Cả hai cần kết hợp thành một.
Thiền
Định
Phương
pháp tu tập chính của tôi là thiền định (jhanas). Đó là
thực hành thiền chỉ (samatha). Các tầng thiền cao hơn -năm,
sáu, bảy- được gọi là minh sát tuệ (vipassana-jhanas). Chúng
mang đến cho ta tri kiến tự nhiên về vô ngã, giúp ta bỏ
được ảo tưởng về sự hiện hữu của một cái ngã. Làm
sao để buông bỏ được ngã tưởng được Đức Phật thuyết
giảng chi tiết trong Trung Bộ Kinh Majjhima Nikaya).
Ba
định cao hơn được gọi là ' không vô biên xứ', 'thức vô
biên xứ' và ' vô sở hữu xú'. Nếu chúng ta thực sự chứng
nghiệm được các định này, thì ta biết thực sự không
có ngã, chúng ta chỉ tạo ra 'cái tôi' trong tâm mình mà thôi.
Từ đó ta mới thực sự có thể buông bỏ ngã tưởng này.
Không bám víu và thức tỉnh là con đường Đức Phật đã
đi và chỉ dẫn lại cho chúng ta.
Có
tất cả tám tầng thiền định. Tầng đầu tiên có thể được
coi là 'an định, hỷ lạc'; nói vậy cũng không diễn tả được
gì nhiều, nhưng đó là một cảm giác thật tuyệt vời. Bốn
tầng thiền đầu tiên được gọi là rupa-jhanas, có nghĩa
là thiền sắc giới. Bốn tầng kế tiếp được gọi là arupa-jhanas,
có nghĩa là vô sắc giới. Bốn tầng đầu tiên mang đến
cho ta những tri kiến thực nghiệm nếu ta biết sử dụng chúng
hợp lý và được sự hướng dẫn tận tình. Chúng ta phải
từ bỏ các ngã tưởng và ngã sở trên nhiều bình diện để
có thể đạt được thiền định, đưa đến sự hiểu biết
sáng suốt.
Các
tầng thiền năm, sáu và bảy đem lại cho ta những tri kiến
rõ ràng về ngã tưởng. Sau khi nói về các tầng thiền định
jhanas, tôi sẽ hướng dẫn các thiền sinh thực tập để xem
thực sự tâm chúng ta có muốn buông bỏ cái ngã mà ta hằng
yêu quý, và có thể chứng nghiệm được sự giải thoát không.
Có nhiều phương thức để thực hiện được điều đó,
không phải là điều không tưởng như ta nghĩ.
Tôi
thường hướng dẫn thiền định jhanas cho những người đã
chút ít kinh nghiệm thực hành thiền, tuy nhiên các khóa thiền
này cũng mang đến nhiều ích lợi cho những người chưa từng
hành thiền trước đây. Sư phụ của tôi bảo rằng điều
đó phụ thuộc vào những đời trước của ta. Nếu bạn đã
từng thực hành thiền trong các kiếp sống trước, bạn sẽ
làm được thôi, bằng không thì bạn cũng có thể bắt đầu
ngay từ bây giờ.
Cuộc
Đời Là Một Sân Khấu
Quan
niệm rằng thiền định jhanas nguy hiểm vì thiền giả có
thể bám víu vào các chứng nghiệm, là đã lỗi thời. Trước
hết, nếu ta bám víu vào cái gì đó, thì ta không thể nhận
thức được điều đó. Hơn nữa, tri kiến thực sự mang đến
cho ta một sự bình an thực sự. Chúng ta không thể có được
một ít thứ này, mà thứ kia thì nhiều hơn. Sự an tĩnh tạm
thời chỉ mang đến những nhận thức hạn chế.
Điều
thú vị là bất cứ ai đã từng hành thiền đều có thể
đạt được thiền định jhanas. Lúc ấy việc hành thiền
trở thành là một thực tại, đáp ứng được nguyện vọng
của chúng ta. Chúng ta chứng nghiệm được rằng thế giới
còn có những cái mà mắt ta không nhìn thấy được, và điều
đó khiến cho cuộc sống tâm linh của ta thêm ý nghĩa.
Đức
Phật vẫn tiếp tục hành thiền sau khi đạt giác ngộ. Trước
lúc nhập diệt, Ngài còn nhập định đến tầng thiền thứ
tám, rồi xuất định, nhập định trở lại từ sơ thiền,
diệt độ ở khoảng giữa tầng thứ tư và thứ năm. Điều
này đã được tôn giả Anuruddha, là người có khả năng tâm
linh, nhắc đến trong kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparanibbana
Sutra), nói về sự nhập diệt của Đức Phật.
Đức
Phật bảo ta có thể kinh nghiệm được sự giải thoát sau
khi chứng được bất cứ thiền na nào. Tuy nhiên điều này
cũng khó thành hiện thực sau sơ thiền, vì nó chưa mang đến
cho ta đủ trí tuệ. Sau khi đã đạt được các thiền quả,
cảm nhận được sự an tịnh tuyệt đối, tâm thức đã được
chuyển đổi, đó mới là lúc ta có thể hướng tâm đến
giải thoát.
Bạn
có thực hiện được điều đó hay không tùy thuộc vào bạn
có hoàn toàn xả bỏ. Những lời hướng dẫn để đưa tâm
đến chỗ giải thoát dành cho tất cả những ai có thể làm
chủ được các tầng thiền định. Làm chủ có nghĩa là bạn
có thể vào định nếu muốn, trụ ở đó bao lâu cũng được,
sau đó chiêm nghiệm lại từng tầng thiền định, cũng như
có thể đi từ tầng thiền này qua tầng thiền khác. Điều
này được xem là rất khó thực hiện. Tuy nhiên thật là diệu
kỳ, khi bao nhiêu người, với chút khả năng, và chủ tâm,
có thể thực hành thiền định.
Nhờ
thiền định, ta có thể nhìn thế giới một cách khác. Việc
hành thiền làm thay đổi chúng ta, cái nhìn của ta đối với
thế giới bên ngoài cũng thay đổi, dầu là ta chưa đạt tới
giác ngộ. Như Shakespeare (ND: Nhà đại văn hào người Anh)
đã nói: "Thế giới chỉ là một sân khấu, mà chúng ta đều
là những diễn viên".
Tuy
nhiên, vì chúng ta còn sống, nên vẫn còn tiếp diễn vở kịch.
Người mà có thể nhìn cuộc đời là một sân khấu, và đã
thấu đáo lời Phật dạy, sẽ có thể hoằng pháp và sẽ
giang tay đến với cuộc đời bằng lòng từ bi. Họ còn có
thể làm gì khác hơn chứ?
Kinh
Nghiệm Bản Thân
Năm
1963 tôi tham dự một khóa Thiền ở tịnh thất Sri Aurobindo,
ở Pondicherry. Ngài Sri Aurobindo đã mất, nhưng mẹ ngài vẫn
còn sống, và bà đã hướng dẫn chúng tôi hành thiền. Chúng
tôi thường ngồi ngoài trời, trên sân trường lắng nghe bà
thuyết giảng. Đó là lần đầu tiên tôi được biết đến
Thiền, và tôi lập tức thích ngay.
Cái
tôi cảm thấy còn thiếu sót là sự hướng dẫn chính xác.
Tôi luôn nghĩ thật là kỳ diệu khi một hiền triết có thể
chúng đắc, nhưng còn tôi, tôi phải làm thế nào? Tôi cố
gắng tìm ra con đường. Tôi đọc sách của bà mẹ, cảm thấy
chúng rất thực dụng, không giáo điều, nhưng không thể hiểu
nổi thầy của bà, là ngài Sri Aurobindo.
Vào
năm 1973, một tăng sĩ người Anh, Đại đức Khantipalo đến
Úc, và qua thầy, lần đầu tiên tôi biết đến Phật giáo.
Đây rõ ràng là con đường đạo tôi có thể hiểu, tin và
hành theo. Tôi cảm thấy đây đích thực là con đường tâm
linh chân chánh để tôi theo.
Tôi
bắt đầu học giáo lý của Đức Phật được dịch từ kinh
tạng Pali sang tiếng Anh. Tôi tìm được những lời hướng
dẫn cụ thể, thực tế, phù hợp với những gì xảy ra hằng
ngày trong đời sống của tôi. Khi học về năm điều chướng
ngại, tôi đã cố gắng thực tập buông bỏ chúng. Thật là
kỳ diệu. Sau ba năm, đại đức Khantipalo mời tôi tham gia
thuyết giảng với thầy.
Mỗi
lần đọc một bài kinh, tôi cố gắng đem ra thực hành. Tôi
vẫn còn đọc các kinh vì có quá nhiều, nên tôi luôn tìm
được những điều mới lạ để học hỏi. Tôi thường giảng
dạy dựa vào các kinh. Nếu bạn chưa từng hành thiền Phật
giáo, bạn sẽ thấy kinh điển khá khó hiểu; chúng ta không
thể đọc kinh điển như những quyển sách bình thường.
Thành
Quả Tốt Đẹp Nhất Của Tôi!
Tôi
xuất gia năm 1979. Tôi đã thành lập được tu viện Wat Buddha
Dhamma ở Úc và cùng với Đại đức Phra Khantipalo hoằng pháp
tại đây. Tôi nghĩ trở thành một nữ tu sĩ là việc đáng
làm nhất. Đó là cách duy nhất để bảo vệ tôi khỏi những
việc thế gian làm mất nhiều thì giờ, công sức của tôi.
Tôi đã thực hiện được nhiều việc và đã làm việc cho
ngân hàng Bank of America bảy năm. Nhưng có ai lại muốn làm
việc đó suốt đời?
Làm
người tu sĩ đem lại nhiều lợi ích cho tôi. Tôi không cần
phải lái xe, phải lo có xe cộ. Không cần có tài khoảng ở
ngân hàng để lo lắng. Tôi không cần phải đi mua sắm, lo
lắng về việc ăn uống, để ý đến đầu tóc, quần áo.
Đến việc trả lời điện thoại, tôi cũng không phải làm.
Đó
là một sự bảo vệ tuyệt đối cho bạn, và là một lợi
ích vô hạn cho việc tụ tập. Gần như lập tức ngay sau khi
vừa xuất gia, tôi đã có cảm giác được giải thoát. "Tôi
không cần phải là ai cả. Không cần phải làm đẹp, làm
duyên, phải giàu có hay quan trọng. Tôi chỉ cần khoác y vào,
và cố gắng hết sức mình".
Đó
là một cảm giác buông xả thực sự, hoàn toàn nhẹ nhỏm.
Môt khi bạn đã cạo tóc và khoác y. Nếu ai có thích bạn
cũng tốt, không thích cũng chẳng hề gì. Đó là việc tốt
đẹp nhất tôi đã làm được!
Hỗ
Trợ Phong Trào Ni Giới
Ở
Sri Lanka, tôi có thiết lập một hòn đảo dành cho ni giới
tên là Pappuduwa Nuns' Island, gần bên một đảo của chư tăng
do Đại đức Nyanyatiloka lập ra năm 1911, cũng ở bên hồ Radgania.
Tôi có thể thực hiện được điều đó vì tôi có một đệ
tử thuần thành, sống bên cạnh bờ hồ. Tôi cảm thấy hoàn
toàn có thể tin tưởng người này, nên tôi trao cho ông tất
cả tiền cúng dường