CHƯƠNG
THỨ NHẤT
HỎI ĐÁP PHẬT
PHÁP
Hỏi:
Ðạo Phật là gì?
Danh
từ Ðạo Phật "Buddhism" là một danh từ của người phương
Tây dùng để gọi một tôn giáo xây dựng trên nền tảng
các lời dạy của Đức Phật. Tuy nhiên, tại các quốc gia
Nam Á và Đông Nam Á, danh từ thường dùng là "Buddha-Sasana",
có nghĩa là lời dạy của Đức Phật, Phật pháp hay Phật
Giáo.
Từ
Buddha được phiên âm ra tiếng Việt là Bụt hay Phật, không
phải là tên riêng. Đó là một quả vị, có nghĩa là người
Giác ngộ, người Tỉnh thức, hoặc là người Biết như thật,
là người đã hoàn toàn giải thoát, không còn bị sinh tử
luân hồi. Tên riêng của Đức Phật là Sĩ-Ðạt-Ða Cồ-Ðàm
(Siddhattha Gotama). Tuy nhiên, ngày nay có rất ít người dùng
tên gọi nầy. Chúng ta thường gọi Ngài là Đức Phật.
Phật
giáo bắt nguồn từ Ấn Độ vào hơn hai ngàn năm trăm năm
trước, khi Ngài Sĩ-Ðạt-Ða Cồ-Ðàm, hay Đức Phật, tự
mình giác ngộ vào lúc 35 tuổi. Sau khi Ngài Niết Bàn
gần hai trăm năm mươi năm thì Phật giáo trở thành tôn giáo
mang tính thế giới, do công của vua A Dục đã lập những
đoàn truyền giáo mang giáo lý Phật truyền sang Á Châu và
một số quốc gia Châu Âu.
Hỏi:
Ðạo Phật có phải là một Tôn giáo không?
Đối
với nhiều người, Phật Giáo không phải chỉ là một tôn
giáo mà còn có thể xem như là một triết học, hay đúng hơn
là "một lối sống". Gọi Phật Giáo là một triết học, vì
danh từ "triết học – philosophy " - bắt nguồn từ hai chữ
"philo" nghĩa là "tình thương" và "Sophia" nghĩa là "trí tuệ".
Do vậy - triết học, nói gọn là tình thương và trí tuê.
Với ý nghĩa nầy, không thể không cho rằng Phật Giáo là
một triết học được vì Phật Giáo là đạo từ bi và trí
tuệ. Tuy nhiên, Phật giáo không thể hoàn toàn được xem như
một triết học. Triết học liên quan chính yếu đến sự
tìm hiểu biết và không chú trọng đến phần thực hành,
trong khi đó Phật Giáo đặc biệt quan tâm đến sự thực
hành và chứng ngộ. Có nhiều người cho rằng Phật giáo siêu
việt trên cả triết học và tôn giáo.
Hỏi:
Nếu nói Đạo Phật là một tôn giáo, vậy Ðạo Phật có
gì khác biệt với các tôn giáo khác không?
Học
giả Smith Huston, trong cuốn The Religions of Man trình bày những
tôn giáo lớn của nhân loại, ông nêu ra sáu điểm đặc biệt
khác đời của Phật Giáo là: (1) một tôn giáo không quyền
lực, (2) một tôn giáo không nghi lễ, (3) một tôn giáo không
tính toán, suy lường, (4) một tôn giáo không tập tục truyền
thống, (5) một tôn giáo không có khái niệm về quyền tối
thượng và ân điển của một đấng Thượng-đế, (6) một
tôn giáo không thần bí.
Ông
cũng nhắc lại câu truyện một người hỏi Phật: “Ngài
có phải là Thượng Ðế không?”. Ðức Phật trả lời: “Không”.
“Là một bậc Thánh?”. “Không”. Là một Thiên Thần?.
“Không”. “Vậy Ngài là người thế nào?”. Ðức
Phật đáp: “Ta là người đã giác ngộ”. Câu trả lời
của đức Phật đã trở thành danh hiệu của Ngài, bởi đây
là điều đức Phật đã thuyết bày.
Hỏi:
Đức Phật là người Giác ngộ. Đạo Phật là đạo Giác
Ngộ. Vậy Đức Phật giác ngộ cái gì?
Sau
bốn mươi chín ngày thiền định dưới cội bồ đề, Đức
Phật đã tự thân chứng nghiệm nguyên lý duyên khởi, thấu
rõ mối quan hệ hỗ tương của mọi sự vật hiện tượng,
thấy rõ bản thể của nhân sinh vũ trụ. Nguyên lý duyên khởi
nói rằng, tất cả hiện hữu trong thế giới bao la mênh mông
này, không một hiện hữu nào có thể tồn tại một cách
độc lập mà không nương tựa vào nhau. Sự nương tựa và
tùy thuộc nhau để hình thành và tồn tại..vv.. là nguyên
lý vận hành của vũ trụ nhân sinh này, tương tự như thế
đối với hằng hà sa thế giới. [01]
Hỏi:
Con người bình thường có thể giác ngộ như Ngài được
không?
Đối
với Phật Giáo, con người có thể giải thoát khỏi khổ đau,
sinh tử luân hồi bằng các nỗ lực tu tập tự thân: làm
lành, tránh ác và tự thanh tịnh hoá tâm ý. Bốn chân lý nền
tảng của Phật giáo cho rằng mọi khổ đau (Khổ đế) của
chúng sinh đều có một hay nhiều nguyên nhân (Tập đế) gây
nên, chúng có thể bị giải trừ (Diệt đế) và có con đường
để giải trừ khổ đau đó (Đạo đế). Con đường
đó chính là con đường giải thoát, là Bát Chánh Đạo trong
giáo lý căn bản của nhà Phật. Giáo lý này được qui
thành ba bộ môn: Giới, Định và Tuệ. Thực hành Giới
và Định là đưa tới trí Tuệ, là giải thoát khỏi sự mê
muội, lòng ích kỷ và khổ đau, là đạt tới cảnh giới
Niết Bàn.
Hỏi:
Vậy Niết bàn là gì?
Niết
bàn được xem là mục đích cứu cánh của đạo Phật, chỉ
trạng thái tâm thức đã thanh lọc hết mọi vô minh phiền
não, sự giải thóat khỏi tất cả mọi khổ đau, sự đọan
diệt hòan tòan mọi tham ái, sự dập tắt tham sân si. Trạng
thái an tịnh tuyệt đối không còn bị bốn tướng sanh lão
bệnh tử chi phối nữa. Sự tận diệt tánh tham, sự tận
diệt tánh sân và sự tận diệt tánh si là Niết Bàn. [02]
Hỏi:
Niết bàn ở đâu?
Niết
Bàn có thể chứng nghiệm được ngay trong xác thân này, trong
thế giới này, trong cuộc sống hiện tại này, nghĩa là bất
cứ trong giây phút nào con người không khởi tâm điên đảo,
phân biệt chấp trước đối với cuộc sống, xa lìa được
chấp ngã, không còn chấp cái tôi, cái của tôi và cắt đứt
được cội nguồn tâm ý tham lam, sân hận và si mê là tâm
hồn được thanh thản, tự do, tự tại, thì ngay giây phút
đó là an lạc, giải thoát, là Niết bàn.
Hỏi:
Đức Phật đã dạy những gì?
Sau
sáu năm khổ hạnh và bốn mươi chín ngày tịnh tọa dưới
gốc cây bồ đề, Ngài bừng tỉnh, trở thành bậc Giác Ngộ.
Từ sự giác ngộ này, Ngài thấu suốt nguyên nhân mọi nỗi
thống khổ của kiếp người và phương pháp để chấm dứt
nỗi thống khổ đó, đó là Tứ Diệu Đế, tức là bốn chân
lý hay bốn sự thật nhiệm mầu. Bài giảng về bốn chân
lý nhiệm mầu có thể xem như là những lời dạy của một
vị y sĩ: định bệnh (Khổ đế), xác định nguyên nhân của
bệnh (Tập đế), mô tả trạng thái khi lành bệnh (Diệt đế),
và cách thức trị bệnh (Đạo đế). Bốn chân lý đó là:
Sự
Thật Về Khổ: Đây là sự thật về khổ kinh qua các
vấn đề của đời sống, qua sinh, già, bệnh, chết, mong ước
mà không được toại nguyện, thương yêu nhau mà phải chia
lìa nhau, ghét nhau mà cứ phải gặp nhau và thân tâm thay đổi
bất thường. Dù chúng ta có chối bỏ đến đâu đi nữa,
thân này rồi một ngày sẽ già nua, bệnh hoạn và chết đi.
Dù ta có tìm quên lãng trong những thú vui bao nhiêu đi chăng
nữa, thì sự có mặt của tham luyến, giận hờn, thù ghét,
lo âu, bối rối và căng thẳng vẫn còn tồn tại.
Sự
Thật Về Tập: Còn gọi là nguyên nhân của khổ.Cái
gì đã trói buộc chúng ta vào vòng bánh xe khổ lụy? Ðức
Phật thấy rằng sự trói buộc ấy nằm ngay trong tâm của
mỗi người chúng ta, chúng ta bị trói buộc vì lòng ái dục,
cố chấp vào quan điểm và ý kiến của mình, mê tín tin rằng
những lễ nghi, hình thức bên ngoài có khả năng diệt được
khổ đau, và nhất là cố chấp vào một cái tôi thường hằng,
bất biến. Chúng ta lăn theo bánh xe khổ đau vì ta đeo theo
nó, và chúng ta đeo theo nó cũng chỉ vì vô minh của mình.
Sự
Thật Về Dứt Khổ: Sự thật thứ ba là kết quả sau
khi con người đã diệt trừ và chấm dứt được ái dục,
nguồn gốc của mọi khổ đau. Đó gọi là sự thật về sự
chấm dứt khổ, là Niết Bàn. Nếu ai giải thoát được mọi
trói buộc đau khổ bằng cách không khởi tâm điên đảo,
phân biệt chấp trước đối với cuộc sống, thì người
đó sẽ đạt được Niết Bàn ngay trong cuộc sống này.
Sự
Thật Về Con Đường Dứt Khổ: Sự thật thứ tư này
là con đường trực tiếp đưa đến sự giải thoát, chấm
dứt khổ đau. Con đường này thường được diễn tả là
Bát chính đạo, tức tám con đường chân chính hay còn gọi
là tám bước nhiệm mầu dẫn đến an lạc hạnh phúc. Ðây
không phải là con đường quá khích, sung sướng hay khổ hạnh,
cũng không phải là con đường của sự chìm đắm trong sắc
dục. Ðây chính là con đường trung đạo. Còn đường của
sự tỉnh thức. Tám bước nhiệm mầu là lời Đức Phật
dạy về cách thức tu tập để Phật tử nương theo mà hành
trì, ngõ hầu kết thúc được mọi nỗi thống khổ, đạt
được trạng thái tâm an lạc. Gom chung tám bước này thành
ba bộ môn tu tập, gọi là Tam Học, tức là ba môn học chung
cho mọi người tu Phật là: Giới học, gồm có: Chính ngữ,
Chính nghiệp và Chính mệnh. Định học, gồm có: Chính tinh
tấn, Chính niệm và Chính định. Tuệ học, gồm có: Chính
kiến và Chính tư duy.
Nói
tóm lại, Sự thật về khổ phải được ý thức rõ ràng.
Sự thật về nguyên nhân của khổ phải được thấu hiểu.
Chân lý về sự chấm dứt khổ phải được kinh nghiệm. Và
con đường để chấm dứt khổ đau ấy phải được bước
đi bởi mỗi người trong chúng ta. Đức Phật đã giác ngộ
giải thoát và Ngài đã vẽ lại con đường đó để chúng
ta đi theo. Ngài không giúp chúng ta hết khổ đau được, Ngài
chỉ cho chúng ta thấy một con đường để đi tới. Không
có một công thức huyền bí nào có thể đem ta ra khỏi những
khổ đau này. Mỗi người chúng ta phải tự thanh lọc tâm
mình, bởi vì chỉ có những ái dục trong tâm mới có khả
năng trói buộc được ta mà thôi. Trong suốt 49 năm hoằng
pháp Đức Phật đã giảng dạy rất nhiều đề tài, nhưng
các điều căn bản trong Phật Giáo có thể tóm tắt trong Tứ
Diệu Đế và Bát Chánh Đạo như trên.
Hỏi:
Xin tóm lược con đường tu tập của một người Phật tử.
Giáo
lý của nhà Phật có thể tóm gọn trong ba mục tiêu tu hành
như sau:
Thứ
nhất là chấm dứt làm các việc xấu, ác.
Thứ
hai là siêng năng làm các việc lành, thiện.
Thứ
ba là nỗ lực thực hành các pháp môn tu tập để cho tâm
thức được đạt tới cảnh giới thanh tịnh tịch tĩnh.
Chấm
dứt làm các việc xấu ác và siêng làm các việc tốt lành
là mục tiêu của các tôn giáo và luôn cả các nền giáo dục
của các quốc gia trên trên giới. Duy có sự phân biệt thế
nào là xấu ác và thế nào là tốt lành thì các tôn giáo
và các quốc gia trên thế giới lại có một số ý kiến khác
nhau, tùy theo các nền văn hóa khác nhau, có những điều mà
ở thời buổi này, tôn giáo này, xã hội này cho là điều
lành thì ở thời buổi khác, tôn giáo khác và xã hội khác
lại cho là điều xấu ác. Cho nên định nghĩa tốt xấu trong
thế gian cũng chỉ là tương đối.
Theo
quan điểm của nhà Phật thì nội dung của Năm Giới cấm
đã phân biệt rõ ràng thế nào là tốt lành và xấu ác. Giữ
gìn không vi phạm, sống một cuộc đời chân thật, không
sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không bị mê muội
vì các chất men say và cần sa, ma túy, không điêu ngoa dối
trá, nói lời thêu dệt, nói lời thô tục, chửi mắng người
khác, v.v… là đã tránh được vấn đề làm điều xấu ác.
Trong
bản kinh ngắn khi đức Phật dạy các hoàng tử Kalama, Ngài
đã định nghĩa rõ ràng về những điều gì là điều lành
(thiện) và những điều gì là điều không lành (bất thiện),
như sau:
"Hành
động gì có hại cho mình, có hại cho người, có hại cho
cả hai, bị người trí chỉ trích, nếu chấp nhận và thực
hiện sẽ đem lại tâm khổ sở, tâm ưu phiền, hành động
như vậy là hành động bất thiện, và chúng ta phải loại
bỏ hành động ấy.
Hành
động gì không có hại cho mình, không có hại cho người,
không có hại cho cả hai, được người trí tán thán, nếu
chấp nhận và thực hiện sẽ đem lại tâm an lạc, tâm hoan
hỷ. Hành động như vậy là hành động thiện và chúng
ta phải thực hành". [03]
Như
thế, đối với đạo Phật, có thể nói, tiêu chuẩn để
xác định lành thiện hay xấu ác căn cứ vào hai yếu tố
là hạnh phúc và khổ đau. Hành động đem lại hạnh
phúc cho chúng sinh là lành thiện và hành động gây khổ đau
cho chúng sinh là xấu ác. Việc làm nào có lợi ích cho mình
và cho người là lành thiện. Trái lại, nếu chỉ đem
lại hạnh phúc cho cá nhân mình mà gây khổ đau cho chúng sinh
khác là xấu ác.
Tu
là chuyển nghiệp, chuyển từ những hành động xấu ác tạo
ra nghiệp xấu sang qua hành động lành thiện tạo ra nghiệp
lành. Giai đoạn tu hành này có mục tiêu đào tạo nên những
con người tốt lành để cùng sống chung với mọi người
trong gia đình, xã hội, ngõ hầu cùng nhau xây dựng nếp sống
lành mạnh trong một thế giới an vui, hòa bình, ổn định
của đời sống tương đối tại thế gian.
Con
đường tu tập của đạo Phật không dừng lại ở đây. Điều
cốt tủy mà đức Phật muốn trao truyền lại cho chúng ta
nằm ở giai đoạn thứ ba, giai đoạn "Tự tịnh kỳ ý
",
tự mình thanh lọc tâm ý cho nó hoàn toàn tịch tịnh, trong
sáng, vượt lên phạm trù đối đãi thiện ác, có không,..
vượt ra khỏi vòng luân hồi quanh co trong sáu nẻo nơi tam
giới.
Trong
kinh Pháp Cú, đức Phật dạy chúng ta phải vượt lên phạm
trù đối đãi thiện ác như:
"Người
sống ở đời này
Không
nhiễm cả thiện ác
Không
sầu, sạch không bụi
Ta
gọi [là] Bà La Môn."
Ai
vượt qua thiện ác
Chuyên
sống đời Phạm Hạnh
Sống
thẩm sát ở đời
Mới
xứng danh Tỳ Kheo". [04]
Hỏi:
Tại sao phải vượt lên trên cả Thiện và Ác?
Tại
vì hành động thiện tạo ra thiện nghiệp, hành động ác
tạo ra ác nghiệp, cả hai đều gây nhân tái sinh để hưởng
phước báo tốt hoặc chịu quả báo xấu, cũng như sợi dây
xích dù có bằng vàng thì cũng trói buộc chúng ta mà thôi.
Còn có hành động, dù là hành động ác hay hành động thiện,
thì vọng tâm còn bay nhẩy, dòng suy nghĩ còn miên man không
dừng, vòng luân hồi còn tùy theo nghiệp thiện ác mà trôi
lăn miên viễn.
Hỏi:
Cái gì là cốt tuỷ của đạo Phật?
Trong
một bài giảng pháp, Tỳ kheo Buddhadasa đã nói: “Để nói
cái gì là cốt tủy của Phật Pháp, tôi muốn đưa ra câu
nói ngắn, “Đừng để dính mắc vào bất cứ gì cả.”
("Nothing whatsoever should be clung to”). Có một đoạn
trong Trung Bộ Kinh, khi một người tới tìm Đức Phật và
hỏi ngài là ngài có thể tóm gọn giáo pháp của ngài vào
một câu, và nếu có thể, thì đó là câu gì. Đức Phật
trả lời rằng ngài có thể, “Sabba dhamma nalam abhinivesaya.”
Các từ “Sabbe dhamm” có nghĩa là “mọi thứ, mọi vật,
mọi pháp,” còn "nalam" nghĩa là “không nên để,” và "abhinivesaya"
nghĩa là “bị dính mắc vào.” Đừng để dính mắc vào
bất cứ gì cả. Rồi Phật nhấn mạnh điểm này bằng cách
nói rằng bất kỳ ai đã nghe câu này là đã nghe tòan bộ
Phật Pháp, bất kỳ ai lấy câu này mà tu tập thì đã tu tập
tất cả Phật Pháp, và bất kỳ ai đã nhận được quả của
pháp tu tập điểm này thì đã nhận được tòan bộ quả
của Phật Pháp”. [05]
Hỏi:
Vậy, tu tập như thế nào để đừng để dính mắc vào bất
cứ gì cả
Bởi
vì dính mắc vào bất cứ gì đều là sự trói buộc và đem
lại đau khổ. Đức Phật là người chẳng hề dính mắc
vào bất cứ gì. Ngài chỉ dạy sự thực hành buông xả.
Tăng đoàn của Ngài từ thời xưa cho đến thời nay đều
thực hành sự chẳng để dính mắc. Để thực hành điều
này, Ngài chỉ dạy như sau:
"Khi
mắt thấy một vật, chỉ thấy vật ấy. Khi tai nghe một tiếng,
chỉ nghe tiếng ấy. Khi mũi ngủi một mùi, chỉ ngửi mùi
ấy. Khi lưỡi nếm món gì, chỉ nếm món đó. Khi có cảm
xúc trên da hay trên thân, chỉ biết đến cảm xúc ấy. Và
khi một ý nghĩ, một đối tượng tâm linh, khởi lên trong
tâm, như một tư tưởng xấu chẳng hạn, chỉ biết tư tưởng
ấy."
Điều
này có nghĩa là không nên để cho tư tưởng phân biệt xấu,
tốt, ưa thích hay ghét bỏ sanh khởi. Ưa thích cái gì có nghĩa
là ham muốn cái ấy, không ưa thích cái gì có nghĩa là ghét
bỏ cái ấy. Ham muốn hay ghét bỏ đều là ô nhiễm phát
sinh từ tham, sân và si. Không để các ô nhiễm này trong tâm
dấy lên, tức là không dính mắc. Không khai sinh thêm
“người thương” hay “kẻ ghét” đấy là không dính mắc.
Thực hành được điều này sẽ mang lại an lạc và hạnh
phúc.
Đây
là một pháp hành rất gọn và thẳng tắp, được cho là tuyệt
hảo. Nếu còn dính mắc, ngay cả vào điều lành, ngay
cả vào ý niệm “đừng dính mắc” này là trong tâm sẽ
dấy lên tư tưởng nhiễm ô và tâm liền trở nên bất tịnh.
Dính mắc vào bất cứ gì là mang gánh nặng trên mình. Dù
gánh bên vai hay đội trên đầu một bao vàng bạc kim cương
đá quý cũng nặng y như đang vác một bao cát đá. Vậy thì,
theo lời Phật dạy, đừng mang cát đá, cũng đừng mang vàng
bạc. Hãy buông chúng xuống. Đừng để bất cứ vật gì dù
nặng hay nhẹ trên đầu (đầu, ở đây, có nghĩa là tâm thức).
Hãy vô sở trụ. Thanh lọc tâm ý cũng chính là nghĩa đó.
Thứ nhứt tránh việc ác, thứ hai siêng làm lành, còn thứ
ba là thanh lọc tâm ý, đó là lời dạy của chư Phật.
Hỏi:
Làm sao để trở thành một Phật tử?
Trong
kinh Tăng Chi, đức Phật dạy: "Ai nguyện nương tựa Phật,
Pháp, Tăng, thì người ấy được gọi là Phật tử". Nguyên
văn lời nguyện thành một Phật tử là:
Buddham
saranam gacchàmi, (Con nay đi theo Phật)
Dhammam
saranam gacchàmi, (Con nay đi theo Pháp)
Sangham
saranam gacchàmi, (Con nay đi theo Tăng)
(Saranam
= sự che chở, chổ ẩn trú, ngôi nhà ở, nơi nương tựa)
Ði
theo Phật là đi theo con đường mà Phật đã đi qua
và đã giảng dạy lại cho đời. Ngài đã chứng kiến nổi
khổ của sinh, già, bịnh, chết và đã từ bỏ đời sống
thế tục để tu tập và chứng ngộ sự thật của duyên khởi-vô
ngã.
Ði
theo Pháp hay thực hành Pháp là thực hành Bốn Chân
Lý Nhiệm Mầu tức Tứ diệu đế, thực hành Giới, Ðịnh,
Tuệ, là đi ra khỏi dục vọng hay đi vào sự ly dục để
thoát khỏi khổ đau.
Ði
theo Tăng là đoàn thể sống theo tinh thần lục hòa
(thân
hòa đồng trú, khẩu hòa vô tránh, ý hòa đồng duyệt, lợi
hòa đồng quân, giới hòa đồng tu và kiến hòa đồng giải)
và đang tích cực thực hành Pháp ly dục.
Hỏi:
Đó là lời dạy của Đức Phật nhưng tôi muốn chính thức
là một Phật tử, một Phật tử đúng nghĩa, thì tôi phải
làm những việc gì?
Vì
đạo Phật chủ yếu là tự nguyện chuyển tâm nên không có
sự áp đặt và lôi kéo. Người từ đạo khác chuyển qua
đạo Phật thường là do nghiên cứu kinh sách Phật giáo, hiểu
được cái tinh hoa thâm thúy của đạo Phật mà quay về đường
Giác.
Người
Phật tử đúng nghĩa là người có tham dự một lễ truyền
thọ Tam Quy là Quy y Phật, Quy Y Pháp và Quy Y Tăng, gọi là
Quy Y Tam Bảo. Quy y nghĩa là trở về và nương tựa, nhưng
chúng ta trở về đâu và nương tựa cái gì? Chúng ta trở
về với Phật giáo và nương tựa vào Tam Bảo, Phật, Pháp,
và Tăng. Sau lễ quy y, người Phật tử được thầy truyền
thọ Tam Quy đặt cho một pháp danh (Dharma name). Pháp danh này
là biểu tượng chính thức của người Phật tử, nói lên
sự chấp nhận nương tựa vào Tam Bảo về mặt tinh thần.
Quy
y như thế có nghĩa là hoan hỷ chấp nhận sự hướng dẫn
của Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo. Phật Bảo là chư
Phật, Pháp Bảo là giáo pháp, cụ thể là Tam Tạng Kinh Điển,
Tăng Bảo là Tăng đoàn, đoàn thể của những người đã
ly gia cắt ái, đang tu hành thanh tịnh, đại diện Chư Hiền
Thánh Tăng cả ba thời để hướng dẫn Phật tử trên con
đường đến bờ Giác. Khi quy y Tam Bảo là chúng ta quy y Chư
Phật, Chư Pháp và Chư Tăng. Thật ra, Đức Phật không nói
chúng ta quy y là phải quy y với Phật, mà Ngài dạy chúng ta
quy y là quy y với tự tính giác của mình. Giác là Phật Bảo,
Phật có nghĩa là giác ngộ, quy y Phật là quy y với bậc giác
ngộ. Như thế quy y Tam Bảo chính là Quy Y Tự Tính Tam Bảo
[06], tức là quay về tự tính giác ngộ sẵn có của chính
mình: Phật tức là Giác, Pháp tức là Chính, Tăng tức là
Tịnh.
“Tự
tâm quy y Giác thì tà mê chẳng sanh, thiểu dục tri túc, hay
lià tài sắc, gọi là Lưỡng Túc Tôn.
“Tự
tâm quy y Chính, niệm niệm chẳng tà kiến, vì chẳng tà kiến
nên chẳng có nhân ngã, cống cao, tham ái, chấp trước, gọi
là Ly Dục Tôn.
“Tự
tâm quy y Tịnh, tự tính đối với tất cả cảnh giới trần
lao ái dục đều chẳng nhiễm trước, gọi là Chúng Trung Tôn…”[07]
Quy
y Phật Bảo là quay lưng với trạng thái tâm vô minh
và nương tựa vào tâm giác ngộ. Quy y Pháp Bảo
là quay lưng với trạng thái tâm tà kiến và nương tựa vào
chính tri chính kiến, có nghĩa là nương tựa vào giáo nghĩa
trong kinh điển để tự thực hành thanh tịnh hoá tâm ý, tức
sửa
đổi những hành vi thân, khẩu, ý sai lầm. Quy y Tăng
Bảo, tức là thoát ra khỏi tâm nhiễm ô và bất hoà
để nương tựa vào tâm thanh tịnh và sáu hoà hợp (six principles
of harmony) của một đoàn thể Tăng. Vì thế, điều kiện
cơ bản của người học Phật, là phải quay đầu với si
mê tà kiến mà trở về nương tựa nơi Giác, Chính và Tịnh.
Đó chính là quy y với tự tánh Tam bảo.
Nơi
nương tựa thực sự là Pháp, vì nhờ sự nhận thức về
Pháp, người Phật tử sẽ trở nên tự do và được giải
thoát khỏi đau khổ. Pháp gồm có sự chấm dứt đau khổ
và con đường đi tới sự chấm dứt.
Hỏi:
Đã được truyền thọ Tam Quy để trở thành Phật tử vậy
có cần thiết phải thọ giới không?
Ngoài
Quy Y Tam Bảo, mỗi người Phật tử cũng cần phải biết và
cố gắng tiến tới thọ từ một tới cả Năm Giới của
giới Phật tử tại gia, đó là: (1) không sát sinh, (2) không
trộm cắp, (3) không tà dâm, (4) không nói dối, nói vu cáo,
nói thêm bớt thêu dệt, nói lời xấu ác, (5) không dùng các
chất say làm mê mờ trí tuệ.
Kinh
Phật nói: "Giới như đất bằng, muôn điều lành từ đó
sanh. Giới như thuốc hay, chữa lành các bệnh. Giới như hòn
ngọc sáng, hay phá mờ tăm tối. Giới như chiếc thuyền, hay
đưa người qua biển. Giới như chuỗi anh lạc, trang nghiêm
pháp thân". Cho nên việc thọ giới là điều cần thiết.
Nếu nhận thấy giữ được giới nào thị xin thọ giới đó.
Tuy nhiên, vì đạo Phật là đạo tâm, hứa thọ giới thì
phải giữ lời hứa. Cũng vì thế mà nhà Phật không
áp đặt các em còn nhỏ tuổi phải quy y và thọ giới, vì
các em chưa đủ trí khôn để nhận thức được tầm quan
trọng của lời hứa, mà người thọ Giới phải trưởng thành,
đã biết suy nghĩ chín chắn, thì mới có thể giữ Giới mà
không vi phạm.
Hỏi:
Đã được truyền thọ Tam Quy và Năm giới vậy có phải ăn
chay không?
Người
mới học Phật không nhất thiết là phải ăn chay. Tuy
nhiên, các nghiên cứu khoa học cho biết việc ăn uống có
quan hệ và ảnh hưởng đến tâm vật lý con người. Họ cho
rằng ăn chay rất tốt cho sức khoẻ cả thân thể lẫn tánh
tình.
Đối
với đạo Phật, ăn chay có ba lợi ích. Một là
nuôi dưỡng tâm từ bi. Dù là một con vật, nó cũng
có cha, có mẹ như chúng ta, sao ta có thể nỡ lòng cướp đi
sự sống của nó mà nuôi dưỡng sự sống cho mình. Thứ
hai là tránh quả báo do không tạo nhân giết hại chúng sinh
vì nhân quả đều đi theo như bóng theo hình. Thứ
ba là nuôi dưỡng tâm bình đẳng. Đức Phật dạy chúng
ta không những không sát hại mà còn khuyên chúng ta nên tôn
trọng và bảo vệ loài vật vì chúng cũng đồng thể tánh,
chúng cũng có quyền sống, có quyền được chia sẻ một phần
môi sinh trên trái đất, nơi mà con người đang ở.
Trong
một buổi giảng pháp, Hoà Thượng Thích Trí Tịnh, khi được
hỏi về vấn đề này đã giảng rất cụ thể rằng: “Đại
chúng nên biết, nếu muốn có thịt để ăn, thì phải sát
sanh. Không tự giết thì cũng bảo người giết, cho nên ăn
thịt là nguyên nhơn cho sự sát hại sanh mạng của các loài
vật. Tất cả các thứ thịt, không luận là thịt gì, từ
thịt heo, bò cho đến tôm ốc v.v... thuộc về loài thịt của
chúng sanh đều không được ăn”.[08]
Như
vậy, người Phật tử đã quy y và thọ năm giới được
khuyến khích là nên ăn chay. Nhưng nếu có gặp trở
ngại trong gia đạo hay vì một hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
nào đó mà không ăn chay trường được cũng nên tập ăn chay
một tháng hai lần hoặc bốn lần. Thế nhưng, không được
tự mình sát sinh hay là yêu cầu người khác sát sinh.
Hỏi:
Xin cho biết tiến trình tu tập của người Phật tử
Tất
cả ngàn kinh muôn luận của nhà Phật đều cùng có một mục
tiêu khuyên nhủ người đời: Không làm các điều ác. Siêng
làm các điều lành. Tự thanh tịnh hoá tâm ý, chấm dứt sự
chạy nhẩy liên miên của ý thức. (Chư ác mạc tác,Chúng
thiện phụng hành, Tự tịnh kỳ ý).
Không
làm các điều ác và siêng làm các điều lành là mục tiêu
chung của hầu hết các tôn giáo và các bài học công dân
giáo dục của các nước trên thế giới. Duy có điều thứ
ba, tự thanh tịnh hoá tâm ý, chấm dứt sự suy nghĩ miên man
của ý thức, là cốt tủy của đạo Phật, là mục tiêu tối
thượng của hành giả tu Phật. Giai đoạn này thường chỉ
dành riêng cho những người quyết tâm tu hành để giải thoát,
chấm dứt vòng luân hồi ngay trong kiếp sống hiện tại. Ðó
là những vị Sư cắt ái ly gia hay có thể là bất cứ ai tự
mình tới những nơi thanh vắng, xa lánh sự ồn ào náo nhiệt
của thế nhân. Các vị này ẩn tu như vậy nhiều khi hàng
chục năm ròng rã, rất ít tiếp xúc với người đời.
Ngoài
ra, cũng có những khóa tu theo phương pháp này, nhưng chỉ kéo
dài khoảng một vài tuần, để thiền giả tập cho quen dần
với nếp sống xuất gia, sống trong chính niệm, tỉnh thức,
không để cho tâm đuổi theo tư tưởng lưu chuyển. Ðây
là những khóa tu ngắn hạn, hay còn gọi là những khoá tĩnh
tâm (retreat) dành cho những người bận rộn với đời sống
có cơ hội thư giãn tâm trí. (xem chương 12 để biết một
số trung tâm tu học)
Giáo
lý nhà Phật quy ra thành năm bước đường tu tập như sau:
Thứ
nhất - Nhân Thừa: là bước đầu, để chuyển hóa
từ người xấu trở thành người tốt. Người tu Nhân Thừa
phải thọ Tam Quy Y (là ba nơi nương tựa về tinh thần tức
Phật, Pháp và Tăng), và giữ gìn Năm Giới Cấm. (1) Cấm sát
sinh (2) Cấm trộm cắp (3) Cấm tà dâm (4) Cấm nói dối trá,
cấm nói những lời độc ác (5) Cấm uống rượu và những
chất làm cho say sưa, mất lý trí.
Thứ
hai -Thiên Thừa: là bước tu tập cao hơn, phải thực
hành mười điều thiện: (1) Không giết hại chúng sinh mà
phóng sinh, đồng thời không ăn thịt để tránh gián tiếp
làm cho chúng sinh phải chết. (2) Không trộm cắp mà còn đem
của cải của mình bố thí cho người nghèo khốn. (3) Không
dâm đãng, trụy lạc. (4) Không dối trá (5) Không thêu dệt,
bịa chuyện, đặt điều, chỉ nói đúng những điều có thật.
(6) Không nói những lời độc ác, thô tục, lăng mạ người
khác. (7) Không thêu dệt để gây mâu thuẫn giữa những người
khác. (8) Không tham lam mà sống trong sự tri túc (biết đủ)
(9) Không giận dữ mà luôn luôn hoà nhã, bình tĩnh (10) Không
si mê mà hành động hợp đạo lý.
Hai
giai đoạn tu theo Nhân Thừa và Thiên Thừa kể trên có mục
đích chuyển hóa dòng nghiệp lực, sẽ được hưởng thiện
báo trong thế giới tương đối.
Thứ
ba -Thanh Văn Thừa: là những người thấu hiểu giáo
lý nhà Phật qua sự lãnh hội được ý nghĩa của Tứ Diệu
Ðế, nghĩa là Bốn Chân Lý Cao Quý, do đức Phật thuyết.
Hành giả thành công trong giai đoạn tu tập này chứng được
cảnh giới Niết Bàn tịch tĩnh.
Thứ
tư - Duyên Giác Thừa, là hành giả tự tu theo phương
pháp quán chiếu Thập Nhị Nhân Duyên, là mười hai giai đoạn
liên hệ với nhau mà sinh khởi trong dòng sinh mệnh mà khởi
đầu là Vô Minh. Do quán chiếu sâu xa, cuối cùng hành giả
bừng tỉnh, Ngộ ra rằng tất cả thế giới hiện tượng
này chỉ tồn tại tương đối, do tương tác với nhau, bản
chất của nó là Không, là Vô Ngã. Từ sự giác ngộ này,
hành giả chấm dứt được những suy tư mê lầm về một
thế giới tưởng như là có thật, buông xả được những
dính mắc vào cái xưa nay vẫn cho là Tự Ngã, giải thoát khỏi
tham sân và si, chứng được cảnh giới Niết Bàn tịch tĩnh.
Thứ
năm - Bồ Tát Thừa, cũng là những người tu với mục
đích giải thoát nhưng khác với Thanh Văn và Duyên Giác Thừa.
Hành giả Thanh Văn và Duyên Giác Thừa thì mục tiêu là đạt
được cảnh giới tâm Niết Bàn tịch tĩnh. Hành giả Bồ
Tát Thừa có nhận thức rằng tất cả chúng sinh và bản thân
mình vốn đồng Thể Tánh, cho nên hành giả Bồ Tát Thừa
lập hạnh nguyện tu hành để mình giác ngộ, nhưng không an
trú trong cảnh giới Niết Bàn tịch tĩnh, mà tiếp tục vì
Nguyện Lực mà trở lại thế gian để cứu độ tất cả
chúng sinh, vốn đồng Thể với mình, gọi là Ðồng Thể Ðại
Bi. Bồ Tát Thừa đi trên con đường Lục Ðộ Ba La Mật, tiếng
Phạn là paramita, nghĩa là rốt ráo, qua luôn. Tất cả những
pháp môn tu như Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền
Ðịnh và Trí Tuệ đều được người tu theo hạnh nguyện
Bồ Tát hành trì với tâm nguyện Tam Luân Thể Không, có nghĩa
làm xong là buông xả ngay, không còn vướng trong tâm, thí dụ
Bố Thí Ba La Mật thì người bố thí không thấy rằng có
mình đang bố thí (sợ sinh tâm kiêu ngạo), không thấy có
vật bố thí là nhiều hay ít (sợ sinh tâm khoe khoang) và không
thấy có người nhận của bố thí (sợ sinh tâm ơn nghĩa).
Tóm
lại, nhà Phật có tới bốn vạn tám ngàn pháp môn tu, để
tương ưng với rất nhiều tâm thức, căn cơ khác nhau. Không
phải là tất cả mọi người đều có thể vào nơi vắng
vẻ tu giải thoát. Trên con đường tu tập để đến đích,
có những bước gần gũi, thiết thực với đời sống hằng
ngày hơn. Con đường Bồ Tát Ðạo là cánh cửa
để những người có tấm lòng vị tha hành đạo. Vua
A Dục bên xứ Ấn hay các vị vua đời Lý, Trần của Việt
Nam khi xưa trong khi vẫn đang làm vua mà vẫn hành đạo tuyệt
vời. Rất nhiều công trình hộ pháp của nhà vua còn được
tuyên dương cho tới ngày nay. Vua Lương Võ Ðế, thái tử Lương
Chiêu Minh bên Trung Hoa và vua Trần Nhân Tông Việt Nam cũng
là những bậc hộ pháp tận tụy và thâm hiểu kinh điển.
Nhà Phật tin rằng có rất nhiều vị Bồ Tát đã chứng đạo,
nhưng vì lập hạnh nguyện Ðại Bi, các vị ấy xuất hiện
trong thế giới tương đối này, làm đủ mọi ngành nghề,
hoặc sinh sống trong những môi trường khó khăn, để hóa
độ và giúp đỡ chúng sinh.
Ðức
Phật cũng có những kinh dạy Phật tử trong đời sống hằng
ngày, vừa sinh sống trong gia đình với cha mẹ con cái, vừa
thực hành giáo pháp. Do thực hành Bát Chánh Ðạo, người
Phật tử làm ăn buôn bán chăm chỉ, có một đời sống lành
mạnh sung túc, dành bớt tiền của ra làm những việc tốt
đẹp như ấn tống kinh sách để hoằng truyền, hộ trì chánh
pháp là pháp thí, cúng dường tam bảo, giúp đỡ mọi người,
là tài thí.
Hỏi:
Một người đang theo tôn giáo khác, nếu muốn học Phật pháp
thì có gì trở ngại hay không?
Bất
cứ ai, dù đang theo tôn giáo nào hoặc không theo tôn giáo nào,
mà muốn học Phật pháp, đều không có gì trở ngại cả.
Phật giáo không phải là một tôn giáo mê tín, mà là một
hệ thống giáo dục dựa trên quy luật nhân quả để chuyển
hóa con người từ xấu thành tốt, “không làm điều xấu
ác, siêng làm điều tốt lành”. Sau giai đoạn chuyển xấu
thành tốt, con người trở nên hoàn thiện, thì sẽ có những
thiện quả tạo thành duyên lành cho đương sự bước vào
bước tu tập thứ ba là “tự thanh tịnh tâm ý”, hoàn toàn
rũ bỏ tham sân si, chuyển từ mê lầm sang giác ngộ, tỉnh
thức, giải thoát khỏi vòng sinh tử, luân hồi.
Nhà
Phật hoan hỷ đón chào bất cứ ai muốn tìm hiểu Phật pháp
và nghiên cứu Tam Tạng kinh, luật, luận, trong kho tàng kinh
điển của đạo Phật. Có nhiều học giả thâm hiểu giáo
lý nhà Phật, - trong số đó có những người Tây Phương,
- viết sách luận giải về đạo Phật, là những người thuộc
các tôn giáo khác, không phải là Phật tử. Nhiều kinh sách
nhà Phật đã được dịch ra tiếng Anh bởi những học giả
vốn là tín đồ các tôn giáo khác, đọc kinh sách Phật giáo
vì tò mò muốn biết. Nhưng sau khi nghiên cứu sâu vào tư tưởng
nhà Phật, họ cảm nhận được tinh thần khai phóng, từ bi,
bình đẳng, nên trong lòng họ có sự chuyển hóa, tăng trưởng
thiện cảm đối với đạo Phật và trở thành những tu sĩ
đáng kính, có công lớn trong việc hoằng truyền Phật pháp
tại các quốc gia Tây Phương.
Hỏi:
Muốn tu tập theo Phật giáo, có cần phải bỏ tôn giáo của
mình, chuyển qua đạo Phật không?
Ðiểm
son của đạo Phật là tinh thần tôn trọng đời sống nội
tâm và sinh mệnh muôn loài. Tôn giáo, tín ngưỡng, là vấn
đề rất tế nhị, có những ràng buộc tình cảm sâu xa đối
với quá khứ và thân quyến của đương sự. Cho nên người
Phật tử không thuyết phục người khác bỏ tôn giáo của
họ để theo đạo Phật.
Ðức
Phật là bậc Giác Ngộ. Ðạo Phật là đạo Giác Ngộ. Giác
thì không mê, cho nên người Phật tử không muốn ai bước
vào đạo Phật bằng con đường mê tín. Những người từ
đạo khác chuyển qua đạo Phật, phần lớn là do họ nghiên
cứu kinh điển thâm sâu, hiểu được phần cốt tủy, tự
ý đi tìm các vị tu sĩ để làm thủ tục gia nhập cộng đồng
Phật tử. Cũng có những trường hợp không cần thủ tục
gì cả, người muốn thực hiện những bước tu tập của
đạo Phật cứ tự nhiên y theo lời dạy của đức Thế Tôn:
“Không làm điều xấu ác, siêng làm điều thiện lành và
tự thanh tịnh hóa tâm”, không để cho tâm bị dính mắc
vào bất cứ một giáo điều, một hình ảnh nào cả, như
thế cũng xứng đáng là một Phật tử đúng nghĩa rồi.
Hỏi:
Nghiệp là gì?
Nghiệp
là hành động hay việc làm có chủ tâm hay cố ý (tác ý).
Tất cả các hành động có tác ý, dù là hành động thiện
hay không thiện, dù biểu hiện qua thân, miệng hay ý đều
tạo Nghiệp.
Chúng
ta gặt hái những gì chúng ta đã gieo trồng. Hành động lành
cho chúng ta những quả tốt đẹp. Hành động ác khiến chúng
ta chịu lấy quả khổ đau. Đó là luật Nhân quả. Dòng nhân
quả diễn biến liên tục trong thời gian: quá khứ, hiện tại,
và vị lai mà không bị giới hạn trong hiện tại. Do dó, có
những quả báo đến ngay sau khi gây nhân, và cũng có những
quả báo sẽ đến sau một thời gian, dài hay ngắn, tùy theo
nghiệp nhân mạnh hay yếu.
Hỏi:
Cận tử nghiệp là gì?
Cận
tử nghiệp là nghiệp vừa được tạo tác ra bằng tư tưởng
trước lúc sắp chết. Ý nghiệp này rất mạnh và vô cùng
quan trọng vì nó quyết định hướng tái sinh, dù là hướng
thiện hay hướng ác. Thông thường, tập quán nghiệp nào mạnh
nhất thì sẽ sống dậy mãnh liệt nhất trước lúc chết,
do đó có nhân tố mạnh quyết định nơi đầu thai. Tuy nhiên,
cũng có những trường hợp có sự can dự của cận tử nghiệp.
Thuyết
nghiệp của nhà Phật có nói đến hai loại nghiệp có ảnh
hưởng và chi phối lẫn nhau mà quyết định hướng tái sinh,
đến cõi lành hay cõi dữ. Hai nghiệp đó là cận tử nghiệp
và tích lũy nghiệp. Tích lũy nghiệp chứa nhóm nhiều kiếp
đến giờ. Cận tử nghiệp là nghiệp mới tạo tác vào giây
phút lìa đời.
Kinh
sách kể có người tích lũy nghiệp thiện từ nhiều kiếp
đến nay, bất thần trong cơn mê muội vào giờ phút lâm chung,
thấy có người xúi dục họ làm điều ác (cận tử nghiệp
ác). Trong trường hợp này cận tử nghiệp không chi phối
được hướng đi tái sinh mà là do quyết định của tập
quán nghiệp tức tích lũy nghiệp lành của họ nhiều và mạnh
đưa họ đến cõi lành.
Lại
cũng có người làm nhiều điều ác, đáng lý phải đọa vào
các cảnh giới xấu, nhưng gần chết họ làm lành, tâm họ
luôn nghĩ tưởng đến điều lành, kể cả vào giây phút lâm
chung, nên không bị đọa vào cảnh giới xấu. Cho nên nói
làm ác khi chết nhất định đọa vào cảnh giới ác, làm
thiện nhất định lên cõi trời, là không đúng hẳn. Vì tuy
họ có làm ác nhưng lúc gần chết cận tử nghiệp thiện
họ quá mạnh có thể đưa họ đến cõi thiện.
Còn
có những trường hợp tuy làm nhiều điều thiện, nhưng khi
gần chết họ nổi sân hung dữ, lúc đó cận tử nghiệp ác
có thể hướng họ đến các cảnh giới xấu. Vì vậy, cận
tử nghiệp cũng như tích luỹ nghiệp đều rất quan trọng
và kinh sách nhà Phật khuyên chúng ta không phải chỉ tu khi
tuổi sắp già, đang gìa hay sắp chết, mà nên tu ở mọi giai
đoạn của đời người, luôn luôn giữ thân, khẩu, ý lành,
từ lúc còn trẻ trung mạnh khỏe cho đến tận cuối kiếp
người.
Hỏi:
Đức Phật với trí tuệ và lòng từ bi vô biên sao Ngài không
cứu độ hết chúng sanh thoát khỏi các cảnh khổ, nỗi chết?
Đức
Phật là bậc đại từ, đại bi thương hết thảy chúng sinh,
không phân biệt màu da hay tôn giáo. Ngài xót thương nhân
loại bằng sự bình đẳng tuyệt đối. Đức Phật không
phải là đấng toàn năng có khả năng ngăn chận các
thiên tai như bão lụt, động đất, sóng thần..v..v.. hay đáp
ứng tất cả lời cầu xin của mọi người để mọi người
không khổ đau hay dùng thần thông đưa chúng sinh về cõi an
lạc được. Phật là người đã giác ngộ
và giải thoát hoàn toàn, Ngài thấu rõ tất cả,
toàn diện và vô bờ bến, thấu rõ mọi liên hệ nhân duyên
và nhân quả ba đời của tất cả chúng sinh, nhưng chính ngài
không thể làm những điều trái với luật thiên nhiên nhân
quả được.
Đức
Phật là bậc toàn giác, là vị Đạo sư đã tự
mình tìm ra được con đường giải thoát ngang qua kinh nghiệm
bản thân, không có ai truyền dạy cho Ngài, không có ai ban
phép cho Ngài, không phải do thần khởi, cũng không phải là
hiện thân hay hóa thân của một đấng thần linh nào. Ngài
là một người như chúng ta, nhưng chính nhờ tự lực cá nhân,
tìm ra được con đường giải thoát. Sau khi chứng ngộ,
Ngài đã giảng dạy giáo pháp cho mọi người, nếu ai có nhân
duyên thực hành giáo pháp, kể từ vua chúa cho đến người
gánh phân, kẻ khốn khó đều được chứng ngộ như Ngài.
Cho nên Ngài đã nói: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh
là Phật sẽ thành.”
Ngài
là người chỉ đường dẫn lối cho chúng ta tu hành, Ngài
không thể tu thay cho chúng sinh mà con người phải tự mình
tu mới giải thoát được khỏi khổ đau phiền não do tham
sân si trói buộc, mới ra khỏi sinh tử luân hồi được.
Cho nên Ngài đã nói: “Các người hãy tự mình thắp
đuốc lên mà đi”. Ngài khuyên chúng ta nên nương
tựa vào chính chúng ta và đi theo con đường giải thoát bằng
nỗ lực của chính chúng ta.
Phật
không thể chuyển được nghiệp của chúng sinh, mà chỉ có
thể từ bi chỉ dạy chúng sinh tự mình nỗ lực để thay
đổi cuộc đời của mình. Lòng từ bi của Phật vô
biên như ánh sáng mặt trời chiếu sáng khắp nơi, căn cơ
chúng sinh không kể lớn hay nhỏ, thấp hay cao, ngu si hay đần
độn đều được ánh mặt trời chiếu sáng, nhưng khả năng
tiếp thu vẫn khác biệt rất nhiều tuỳ theo nghiệp của mỗi
chúng sinh. Có người vừa mới sinh ra đã mù cả hai mắt,
tuy ở trong ánh sáng mặt trời mà không thấy được ánh sáng
mặt trời như thế nào. Côn trùng sống dưới đất và những
vi sinh vật ở nơi tối tăm, tuy cũng trực tiếp hay gián tiếp
cảm nhận được ánh sáng mặt trời, nhưng chúng không thể
biết được lợi ích của ánh sáng mặt trời là thế nào.
Ngay cả khi Phật Thích Ca còn tại thế, tại những vùng được
Ngài giáo hóa, cũng có rất nhiều người không biết Phật
là ai. Các đức Phật ba đời, khi còn hành đạo Bồ Tát,
đều phát lời nguyện “độ hết thảy chúng sinh”. Vậy
mà các đức Phật tuy thành Phật rồi nhưng vẫn còn vô lượng
chúng sinh chìm đắm trong biển khổ. Tại sao vậy? Tại vì
lời phát nguyện “độ chúng sinh” của các ngài chỉ có
nghĩa là đem ngọn đèn Trí Tuệ đi khuyên nhủ chúng
sinh. Nếu chúng sinh không chịu vâng theo lời dạy mà
tu hành, bản thân cứ tiếp tục làm chuyện ác, thì họ phải
lãnh quả báo xấu, đúng theo quy luật nhân quả, chư
Phật và chư Bồ Tát cũng không thể xóa bỏ nghiệp ác của
họ được.
Chữ
“độ” không có nghĩa là “cứu rỗi”, mà có nghĩa là
giáo hóa, để cho chúng sinh biết được Chân Lý, mà tự tu,
tự độ.
Khi
Phật còn tại thế, ngoài điều Ngài nói không thể chuyển
nghiệp của chúng sinh được, Ngài cũng nói là không thể
độ thoát cho những chúng sinh mà Ngài không có duyên độ
họ. Người không có duyên là người không tin Phật Pháp,
không tin nhân quả, không muốn được hóa độ. Vì vậy, khi
Phật Thích Ca còn tại thế, tuy vua Lưu Ly xứ Kosana dấy binh
tàn sát dòng họ Thích Ca, mà Ngài không thể nào dùng phép
thần thông để ngăn chận được vụ thảm sát. Nhưng
đức Phật có thể dùng Phật pháp, tuỳ căn cơ cao thấp mà
dìu dắt chúng sinh, chúng sinh nào hiểu biết thì giảng cao,
người mê mờ thì giảng thấp từ tu thiện, tu phúc, đến
tự thanh tịnh tâm. Vì vậy nói là Phật độ chúng sinh nhưng
thực ra là chúng sinh tự độ nếu không thì làm trái với
quy luật nhân quả.
Nói
tóm lại, đức Phật là một vị Thầy dẫn đường sáng suốt,
một vị thầy thuốc tài giỏi, nhưng chúng sinh phải tự mình
cất bước lên mà đi thì mới tới đích, có bệnh phải uống
thuốc mới hết bệnh, tức là tự học, tự tu, tự độ.
Đức Phật không thể làm trái luật Nhân Quả, không thể
uống thuốc giùm khiến người đau hết bệnh, không thể ăn
giùm khiến người đói được no. Đức Phật chỉ có
thể khuyên bảo, truyền dạy chúng sinh bỏ ác làm thiện,
từ loại thiện phiền não đến loại thiện không phiền não,
tức là khởi đầu bằng việc đoạn trừ mọi ác nghiệp
dẫn đến ba cõi khổ, rồi cố gắng làm mười việc lành
để sinh cõi trời hay sinh làm người, đó là thiện phiền
não. Rồi tu đạo Bồ Tát, đạo thành Phật, thành thiện
không phiền não, thành trí tuệ Phật. Thế nên, trí tuệ
là quan trọng bậc nhất của đạo Phật và bao trùm toàn diện
mục đích phải có của các hàng Phật tử nếu muốn đi trên
con đường giải thoát đến giác ngộ viên mãn. Trí tuệ này
xuất hiện khi bản thân người Phật tử hành trì các pháp
môn tu để thanh tịnh tâm và giữ gìn giới hạnh.
Tâm
là chủ yếu vì tất cả các pháp đều do tâm tạo. Vậy làm
thế nào để thanh tịnh tâm? Phật nói: “Không
làm các điều ác, Nên làm các việc lành, Tự thanh tịnh Tâm,
Đó là lời chư Phật dạy”. Ấy là quá trình tu tập của
mỗi người chúng ta để tự giải thoát khỏi luân hồi sinh
tử.
Hỏi:
Xin cho biết địa ngục có thật không?
Từ
quan điểm “nhất thiết duy tâm tạo” trong kinh Hoa Nghiêm,
thiên đường và địa ngục dưới mắt người Phật tử chính
là những cảnh giới tâm thức, mà mỗi người đều trải
qua hằng ngày. Nếu con người không chế ngự được ba thói
xấu là tham lam, sân hận và si mê, để cho bản thân rong ruổi
trong sự bon chen, tính toán lợi mình hại người, thì tâm
hồn không được an lạc, mà phiền não triền miên, ăn không
ngon, ngủ không yên, thường thấy ác mộng do những bực bội
bất mãn gặp phải hằng ngày, đó cũng đã được coi là
cảnh giới địa ngục của tâm thức rồi.
Trong
kinh Ðịa Tạng, chúng ta cũng thấy nói đến những cảnh giới
địa ngục. Vì “nhất thiết duy tâm tạo” nên những cảnh
giới trong kinh Ðịa Tạng cũng là những cảnh giới tâm thức.
Ðịa Tạng cũng có nghĩa là Tâm Ðịa, là Ðất Tâm. Nhà Thiền
có câu “Ðất Tâm nếu trống không thì mặt trời Trí
Tuệ tự chiếu”. Người nào có thể “thanh tịnh hóa
tâm”, khiến cho Ðất Tâm trống không, thí Trí Tuệ Bình
Ðẳng tự hiện, cũng có nghĩa là Bồ Tát Ðịa Tạng đã
phá xong cửa ngục tâm thức cho người đó rồi. Còn như nếu
Ðất Tâm mà ô nhiễm quá, thì vào giờ phút lâm chung, do nghiệp
thiện hoặc ác trong quá khứ, mà thần thức người đó sẽ
bị chiêu cảm vào cảnh giới tương ưng.
Quan
điểm của nhà Phật về tất cả hiện hữu trên thế gian
là vô thường. Tâm cũng vô thường, khi tâm chuyển thì tất
cả mọi thứ do tâm tạo cũng chuyển theo tâm. Cho nên, đối
với nhà Phật, không có cảnh giới địa ngục vĩnh viễn.
Mỗi người đều có thể tự ra khỏi địa ngục bằng sự
“thanh tịnh hóa tâm” của họ. Ðó là niềm hy vọng về
giải thoát của tất cả mọi người.
Nhà
Phật có câu: “Buông dao đồ tể là thành Phật” hoặc “Biển
khổ mênh mông quay đầu là bến”. “Buông dao” và “quay
đầu” ở đây có nghĩa là buông bỏ đời sống ô nhiễm,
bước vào con đường thực hành các phương pháp để “thanh
tịnh hóa tâm” như hành Thiền Quán Niệm Hơi Thở, Thiền
Minh Sát Tuệ, Thiền Tổ Sư, Thiền Tông, Niệm Phật và còn
nhiều pháp hành khác nữa.
Hỏi:
Xin cho biết tiêu chuẩn tìm Thầy học đạo
Ngày
xưa muốn học đạo phải lặn lội đi tìm thầy, vì thầy
là người không những có đức hạnh mà còn có đầy đủ
kinh nghiệm tu trì và có khả năng truyền dạy lại cho người
sau. Thời ấy muốn học đạo phải đến chùa vì chỉ
nơi đây mới có đầy đủ kinh sách. Ngày nay, việc tìm
kinh sách không khó, ngoài chùa ra, còn có trong các thư viện
trường đại học, các nhà sách lớn và ở trên Internet, ai
cũng có thể tìm đọc và tự nghiên cứu học hỏi. Do
đó có người nói việc tìm thầy học đạo thời nay không
cần thiết lắm. Tuy nhiên, quý bạn cần lưu ý, ngay chuyện
học ngoài đời, chúng ta vẫn phải có thầy dạy. Việc
nghiên cứu trong sách vở là điều cần thiết nhưng vẫn cần
phải có thầy hướng dẫn. Đó chỉ là học về kiến
thức mà còn cần đến thầy dạy, huống chi cầu học đạo
giác ngộ giải thoát?
Trong
đạo Phật không phải chỉ học giáo lý suông mà còn phải
tu trì nữa. Một vị thầy dạy chúng ta giáo lý không những
qua việc thuyết giáo mà còn dạy chúng ta về giới đức qua
hành động và cử chỉ hàng ngày của ông thầy mà thuật
ngữ nhà Phật gọi là thân giáo. Chính thân giáo, tức hành
động, nhân cách, giới phẩm và đức hạnh của vị thầy
mới quan trọng, nó làm gương cho ta noi theo. Một trăm lần
nghe không bằng một lần thấy. Một trăm lần tụng đọc
về kinh Từ Bi không bằng một lần thấy hành động từ bi
nơi vị thầy của mình.
Hiện
nay có một số người tự xưng mình là Minh Sư, Đạo Sư,
Vô Thượng Sư, Đại Sư, Thiền Sư, vân vân… thường dùng
một số giáo lý Phật giáo, lợi dụng uy tín của đức Phật
để thuyết giảng hầu lôi cuốn quần chúng, nhưng thực chất
bên trong những điều giảng đó lại chứa đựng những tư
tưởng đối nghịch với tư tưởng nhà Phật. Cho nên, nếu
chúng ta là những Phật tử quyết tâm tu hành theo giáo lý
giải thoát, mà không hiểu rõ giáo lý căn bản của nhà Phật
thì rất dễ bị đi lạc đường.
Vậy
làm thế nào biết được Thầy giỏi, Thầy hay, Thầy có đạo
đức mà theo học?
Trước
hết chúng ta nên lưu ý đặc biệt đối với những vị Thầy
hay bất cứ một ai khi đến khuyên bảo chúng ta tu mà luôn
luôn khoe khoang pháp môn của mình là hay nhất và
ra sức chê bai hay chỉ trích pháp tu
khác là sai đường, cho là không đúng, thì chúng ta phải xem
xét lại những lời nói và hành động của họ, tức
là tìm hiểu về thân giáo, tức hành động, nhân cách, giới
phẩm và đức hạnh của vị ấy và động lực nào thúc đẩy
ông ấy giảng dạy.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã dạy rằng: “Động lực giảng
dạy của một vị Thầy phải trong sạch – không bao giờ
vì một ước muốn danh tiếng hay lợi lạc vật chất… Trong
thế giới, nếu không có một nhà lãnh đạo chân chính thì
chúng ta không thể cải thiện xã hội được. Cũng vậy,
trừ phi vị thầy có phẩm chất đúng đắn, thì mặc dù đức
tin của bạn có mạnh mẽ đến đâu, việc theo học vị thầy
có thể làm hại bạn nếu bạn được dẫn dắt theo một
đường hướng sai lầm. Vì thế, trước khi thực sự
coi ai là thầy, điều quan trọng là phải khảo xét họ…”
[09]
Nếu
như vị đạo sư của bạn buộc bạn phải làm việc vô đạo
đức hay nếu giáo lý của vị ấy mâu thuẫn với Phật Pháp
thì hành xữ như thế nào? Ngài Đạt Lai Lạt Ma nói tiếp:
“Bạn nên trung thành với điều đạo đức và xa rời
những gì không phù hợp với Pháp…”
Trong
"Đại trí độ luận" cuốn 4 đã nêu lên 4 điều trọng yếu
gọi là tứ y pháp "4 chỗ nương tựa". 1) Dựa vào pháp không
dựa vào người, 2) Dựa vào nghĩa không dựa vào lời, 3) Dựa
vào trí, không dựa vào thức, 4) Dựa vào ý nghĩa rốt ráo,
không dựa vào ý nghĩa không rốt ráo.
Căn
cứ vào 4 điều chuẩn trên, chúng ta có thể phân biệt dễ
dàng ai là minh sư, ai không phải là minh sư, rồi dựa vào
4 tiêu chuẩn đó mà quan sát thẩm tra minh sư mà mình mong gần
gũi thì nói chung không thể có sự nhầm lẫn.
Y
pháp bất y nhân là một trong bốn tiêu chuẩn hướng
dẫn chúng ta trên đường đi tìm thầy tìm học đạo. Câu
này có nghĩa là nương theo giáo pháp chứ không nương vào
thầy. Lẽ dĩ nhiên, y pháp bất y nhân không có nghĩa là được
pháp rồi thì không cần biết gì đến thầy. Học đạo không
giống như học các ngành học ở ngoài thế gian, học đạo
phải có lòng tri ân tôn kính thầy nhưng không bám víu
và thần tượng hóa thầy.
Ngày
nay một số trong chúng ta theo thầy không phải vì thực sự
cầu pháp gỉai thoát mà vì tình cảm hay biên kiến, hay vì
thầy là người nổi tiếng trên thế giới, đông đệ tử
xuất gia lẫn tại gia có học vị cử nhân, thạc sĩ, tiến
sĩ, có chùa to đất rộng, vân vân...
Có
nhiều Phật tử đặt câu hỏi: Sau khi quy y và tu học theo
thầy một thời gian dài, cảm thấy không tiến bộ, tham sân
si vẫn như cũ, chấp ngã gia tăng nhiều hơn, muốn đi chùa
khác tìm thầy khác nhưng làm như thế có phải là phản thầy
không. Chúng tôi xin thưa ngay là không có mang tội phản
thầy. Khi làm lễ qui y là chúng ta quy y với ba ngôi
Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng, chứ không phải quy y với thầy.
Thầy chỉ là vị đại diện Tăng Đoàn làm lễ quy y cho chúng
ta quay về nương tựa với Tam Bảo. Trong buổi lễ chưa
bao giờ chúng ta nói: Con xin quy y với thầy Thích Tâm A hay
thầy Thích Tâm B. Hơn nữa, ở ngoài đời, học xong bậc
tiểu học, chúng ta phải lên trung học rồi lên đại học
chứ đâu có thể học mãi một lớp hay một trường được.
Xưa
kia lúc còn tìm đạo, thái tử Sĩ Đạt Đa đến học với
đạo sĩ Alara Kalama, sau khi chứng được thiền "Vô sở hữu
xứ" và không học được gì thêm nữa thì ngài từ giã thầy.
Kế tiếp ngài đến học đạo với Uddaka Ramaputta, sau khi chứng
được thiền "Phi tưởng phi phi tưởng xứ" và không học
được gì hơn thì ngài cũng kiếu từ ra đi. Nếu thái tử
Sĩ Đạt Đa trung thành ở lại với đạo sĩ Kalama hay đạo
sĩ Ramaputta thì chắc ngày nay chúng ta không có Đức Phật
và Phật Pháp.
Là
Phật tử, muốn có được đời sống an lạc, hạnh phúc,
tiến bộ, chóng thành đạo quả giác ngộ thì phải hết sức
cẩn trọng trong việc chọn thầy, chọn bạn, chọn pháp môn
tu, chớ để tánh hiếu kỳ dẫn dắt, thì mới khỏi oan uổng
công phu tu tập suốt cả một đời.