Dẫn
Nhập
Tiểu
Sử Hòa Thượng Quảng Khâm
Chương
I: Tu Hành.
1.
Tu Hành: Tìm Lại "Bản Lai Diện Mục"
2.
Cục Ðá Cột Chân Người Tu
A.
Tham, Sân, Si
B.
Ngã Mạn
C.
Thiện Ít, Ác Nhiều
3.
Nẻo Chánh Ðể Tu Hành
4.
Bản Sắc Của Việc Tu
Chương
II: Khổ Hạnh.
1.
Vững Lòng Tin, Tu Khổ Hạnh
2.
Làm Sao Tu Khổ Hạnh
3.
Buông Xã Túi Da Thối Này!
Chương
III: Rõ Nghĩa.
1.
Hiểu Biết, Lập Hạnh
2.
Công Phu Khuya và Tối
3.
Gõ Chuông
Chương
IV: Pháp Môn Tịnh Ðộ.
1.
Tây Phương Có Phật Hiệu A-Di-Ðà
2.
Niệm Phật
3.
Niệm Phật Có Thể Thấy Phật Không?
4.
Thầy Quảng-Hóa Tới Tham Phỏng
Chương
V: Việc Làm Ba-La-Mật.
1.
Thẳng Thắn
2.
Nhẫn Nại
3.
Khéo Léo
Chương
VI: Hạnh Xuất Gia.
1.
Xuất Gia Ðể Làm Gì?
2.
Con Ðường Siêu Thoát Của Người Tu
3.
Tự Ðộ
4.
Ðộ Người
A.
Biết điều tốt của thí chủ
B.
Tiếp đãi tín đồ
C.
Sự nghiệp của Bồ-tát
5.
Ðiểm Tốt Của Việc Tu
6.
Ðạo Cao Một Tấc, Ma Cao Một Thước
7.
Ni Chúng
Chương
VII: Xuất Gia Và Tại Gia.
1.
Tại Gia
2.
Xuất Gia: Báo Ðền Bốn Ân Lớn
3.
Ở Ðời và Ði Tu
Chương
VIII: Cảnh Giới Của Chúng Sanh.
1.
Tâm Chúng Sanh
2.
Thói Quen, Tập Khí
3.
Danh Lợi và Chậm Chạp
Chương
IX: Nhân Quả Và Sám Hối.
1.
Nhân Quả
2.
Sám Hối
Chương
X: Lời Cuối.
1.
Thời Ðại Ðã Thay Ðổi Rồi!
2.
Khai Thị - Ngộ Nhập
3.
Pháp Ngữ
4.
Lời Của Thầy Truyền-Văn
Dẫn
Nhập
Tập
Cẩm-Nang này đúc kết tinh hoa những lời dạy của vị Thánh-tăng
cận đại - Hòa-Thượng Quảng-Khâm (1892-1986). Là người đã
giác ngộ, mỗi lời dạy của Ngài trực tiếp phá vỡ vô
minh, khiến ta giác ngộ như Ngài.
Kinh
Hoa-Nghiêm dạy rằng: "Chúng sanh như người bệnh, Thiện-tri-thức
như bác-sĩ, lời dạy của Thiện-tri-thức như thuốc hay. Thuốc
hay thì đắng, song trị lành được bệnh."
Bởi
vậy, trong tập Cẩm-Nang này, bạn sẽ thấy mỗi lời dạy
của Ngài đều vô cùng sâu sắc, trực tiếp song đơn giản;
ngắn gọn, dễ hiểu mà hàm súc. Ðây là điểm then chốt
dị biệt giữa lời nói của người đã ngộ Ðạo và kẻ
chưa tỉnh giác.
Kẻ
còn mê muội thì cần lời giảng cao xa, sâu sắc, dùng trò
chơ trí thức chữ nghĩa, song thiếu thực dụng nội tại.
Những lời dạy của Hòa-Thượng Quảng-Khâm là những lời
mà không ai có thể bắt chước đặng, bởi vì những lời
ấy được lưu xuất từ một nội tâm thâm chứng và một
cuộc đời chân thật thực nghiệm, "sống" trong sự thâm chứng
ấy mỗi ngày. Ngài chỉ ăn một bửa ngọ và chỉ ăn trái
cây; ngủ thì ngủ ngồi; áo mặc thì chỉ một vài bộ. Ngài
rất ít lời, không nói chuyện dông dài, bàn luận thế sự
tạp nhạp. Cả đời, vật sở hữu của Ngài hoàn toàn không!
Chẳng có xe hơi, chẳng có trương mục ngân hàng hay thẻ tín
dụng, nhà riêng, Tivi, tủ lạnh, radio.... tất cả Ngài đều
không có. Chính bởi vì, và chỉ có, cuộc sống rỗng không
như vậy nên Ngài mới thực sự an trụ trong cảnh giới Chân
Không của tự tâm. Ðây thật là điều quý báu để chúng
ta, kẻ hậu học, nhất là người xuất gia, phản tỉnh và
thức tỉnh.
Ðối
tượng trọng tâm của tập Cẩm-Nang này là người xuất gia,
song hoàn toàn ứng dụng cho kẻ tại gia. Khi đọc Cẩm-Nang,
bạn hãy hình dung như có một vị Tăng già hiền từ, chín
mươi tuổi ngoài, đang nói chuyện cùng mình vậy.
Sách
này, đọc là để áp dụng; đây không phải là tiểu thuyết;
truyện, hay sách nghiên cứu để tăng kiến thức. Khi được
đọc để áp dụng như thuốc lành trị bệnh hay như gậy
đỡ chân, thì tập Cẩm-Nang này sẽ giúp chúng ta đổi cái
nhìn, sửa thói hư tật xấu, trừ suy nghĩ lầm lẫn, hướng
dẫn bước tu đúng đắn. Khi đó, ánh sáng bất tận của
Chánh Pháp sẽ chắc chắn tràn ngập nơi nơi - trong tâm bạn
và những gì quanh bạn.
Tiểu
Sử Hòa Thượng Quảng Khâm
Hòa-Thượng
Quảng-Khâm sinh vào đời nhà Thanh, năm Quang-Tự thứ 18 (1892).
Ngài họ Hoàng, tên tục là Văn-Lai, quê ở Phúc-kiến, Trung-Hoa.
Gia
đình Ngài rất nghèo, đến độ anh ruột Ngài không có đủ
tiền để cưới vợ. Năm Ngài bốn tuổi, vì không đủ sức
nuôi dưỡng Ngài, cha mẹ Ngài phải đem Ngài bán làm con nuôi
cho gia đình họ Lý ở Tấn-giang. Hai ông bà họ Lý là người
rất tốt, cả đời sống bằng nghề trồng trọt. Họ thương
yêu Ngài như con ruột vậy. Bà Lý là người tin Phật sâu
xa, suốt đời trường trai. Bà thường đem Ngài lên chùa cầu
nguyện bởi từ nhỏ Ngài thường bệnh hoạn, thân thể yếu
ớt.
Năm
Ngài chín tuổi, bà Lý qua đời; hai năm sau dưỡng phụ Ngài
cũng nối gót từ trần, khiến Ngài bỗng chốc trở thành
cô nhi. Bấy giờ, bà con họ hàng ai nấy đều tranh dòm, chờ
chực để chiếm đất đai ruộng vườn, tài sản của gia
đình họ Lý để lại. Ðiều ấy khiến Ngài, một trẻ thơ,
cảm nhận sâu xa mùi vị chua chát của thói đời và tánh
vô thường của mọi sự. Trong đầu Ngài nảy sinh ý niệm
thoát trần: Ngài đem hết của cải đất đai nhường lại
cho bà con, rồi một mình tìm tới Chùa Thừa-Thiên ở Phúc-châu
xin xuất gia.
Bấy
giờ, phương trượng Chùa Thừa-Thiên là Hòa-Thượng Chuyển-Trần,
dạy Ngài quy-y, tu Khổ-hạnh với Thầy Thụy-Phương. Ngài
được phân phối cho việc lao tác, trồng rau, nhổ cỏ....;
đây là những việc công quả tập sự dành cho người muốn
xuất gia.
Ðến
năm 19 tuổi, do nhiều nhân duyên đặc biệt, Ngài đã qua Nam-Dương.
Ở đây, vì không có trình độ học vấn nên Ngài phải làm
việc lao động chân tay. Một hôm, nhân cùng đồng bạn lên
núi đốn củi, Ngài nói với bạn về trực giác linh cảm
của mình rằng chiếc xe vận tải chở củi sẽ lật ở dốc
núi, nhưng không ai tin. Không lâu, chiếc xe quả nhiên bị lật
thật. Ðiều này khiến bạn Ngài ngạc nhiên, bảo rằng: "Có
được trực giác như vậy sao anh không chịu tu hành, phát
triển tâm linh, sau này độ thế?" Nghe qua, Ngài như chợt tỉnh,
liền đáp thuyền về lại Trung-Hoa. Bấy giờ Ngài đã 35 tuổi,
sau gần 16 năm sống ở Nam-Dương.
Về
lại Chùa Thừa-Thiên, Ngài chính thức xuống tóc, lạy Hòa-Thượng
Thụy-Phương làm Thầỵ Pháp-danh của Ngài là Chiếu-Kính,
tự Quảng-Khâm. Sau khi xuất gia, Ngài chuyên chú tu Khổ-hạnh,
ăn những thức không ai thèm ăn, làm những việc không ai chịu
làm, thường luôn ngồi Thiền, một lòng niệm Phật. Có một
thời gian Ngài giữ trách nhiệm Hương-đăng (thắp nhang, quét
tước điện Phật) và đánh bảng thức chúng mỗi sáng. Nhiều
lần Ngài ngủ say quá nên trễ nãi việc đánh bảng. Ðiều
này khiến Ngài vô cùng hổ thẹn, sám hối sâu xa trong lòng,
rồi từ đó lập chí ngủ ngồi.
Năm
1933, sau sáu năm làm Sa-di tu Khổ-hạnh, bấy giờ Ngài mới
đi cầu thọ giới Tỳ-khưu nơi Hoà-Thượng Diệu-Nghĩa, Chùa
từ-Thọ, Phủ-điền. Thọ Giới rồi, Ngài liền xin phép Phương-Trượng
Chuyển-Trần đi ẩn tu; lúc ấy Ngài vừa đúng 42 tuổi. Bấy
giờ, một thân một mình, với ít áo quần và hơn 10 ký gạo.
Ngài nhắm núi Thanh-lương, tỉnh Tuyền-châu, tiến bước.
Nơi ấy, ở giữa sườn núi, Ngài tìm thấy một thạch động
đủ rộng để an thân tu Ðạo. Ðộng này vốn là nơi mãnh
hổ thường lui tới; thế nhưng khi gặp hổ, Ngài chẳng hãi
sợ. Ngài bảo cho chúng biết ý định muốn dùng động này
để tu hành và khuyên chúng hãy tìm nơi khác. Lạ thay, hổ
như hiểu ý Ngài, rõ lời người. Ngài lại vì hổ mà thuyết
Tam Quy-y; hổ nghe rồi vẫy đuôi đi mất. Không lâu sau, hổ
ấy đem bầy hổ lại: nào hổ mẹ, hổ con... đùa giỡn, gần
gủi với Ngài như gia súc vậy. Bởi thế, sau này người dân
quanh đấy gọi Ngài là Phục Hổ Hòa-Thượng.
Bấy
giờ, Hòa-Thượng ở sơn động ngày ngày tọa Thiền, niệm
Phật; chẳng bao lâu lương thực cạn sạch, Ngài bèn hái trái
cây rừng để ăn. Trong núi, ngoài hổ còn có khỉ, vượn.
Bọn ấy, lạ thay, thường hay đến động; chúng lại đem
cả hoa quả cây trái lại cúng dường Ngài nữa!
Hòa-Thượng
thường hay nhập Ðịnh. Có lần Ngài nhập Ðịnh đến vài
tháng, không ăn uống, không động đậy thân thể; thậm chí
hơi thở dường như dứt tuyệt. Có người gần đấy thấy
vậy thì lầm tưởng rằng Ngài đã viên tịch, nên tức tốc
cấp báo với Hòa-Thượng Chuyển-Trần để lo việc hỏa táng.
May thay, lúc ấy có vị cao-tăng là Ðại-Sư Hoằng-Nhất đang
ở chùa gần đấy, nghe được tin trên bèn cùng Hòa-Thượng
Chuyển-Trần lên núi xem hư thực. Tới nơi, Ðại-Sư Hoằng-Nhất
biết Ngài đang nhập Ðịnh, liền gõ ba tiếng khánh, đánh
thức Ngài dậy từ trạng thái Thiền-định. Tin Ngài nhập
Ðịnh lan truyền khắp nơi khiến ai ai cũng tán thán.
Tháng
ngày qua như tên bắn, thấm thoát Hòa-Thượng đã ở trên
núi Thanh-lương được 13 năm. Bấy giờ Ngài, đã 54 tuổi
(1945), trở về Chùa Thừa-Thiên. Hai năm sau, 1947, Ngài rời
Ðại-lục, đáp thuyền tới Ðài-loan. Ở đây, bắt đầu
quãng đời hoằng Pháp của Ngài:
- 1948,
Ngài xây một ngôi chùa nhỏ ở Ðài-bắc, tên là Quảng-Minh
Tự.
- 1951,
xây Quảng-Chiếu Tự.
- 1952,
Ngài tìm thấy một thạch động ở núi Thành-phước rất
đặc biệt: khi mặt trời và mặt trăng mới mọc thì ánh
sáng chiếu thẳng vào cửa động. Bởi thế, Ngài đặt tên
là Nhật-Nguyệt Ðộng và quyết định ở đấy ẩn tu. Nơi
ấy xưa nay vốn không có nước, song từ khi Ngài vào ở bỗng
có một suối nước mát tự nhiên vọt lên kế bên. Trên đỉnh
núi ấy, Ngài dựng một chòi tranh để ở. Một đêm nọ,
có con trăn khổng lồ bò lại chòi tranh cầu Pháp; Ngài liền
vì nó thuyết Pháp và truyền Tam Quy-y.
- 1955,
tín đồ ở Ðài-bắc cúng dường Ngài một cuộc đất do
hỏa sơn tạo nên; Ngài bèn xây Thừa-Thiên Tự ở đó.
- 1963,
Ngài hưng kiến Tường-Ðức Tự; xây Quảng-Long Tự ở núi
Long-tỉnh.
Ðến
năm 1964, Ngài đã ở Ðài-loan được 17 năm. Trong suốt thời
gian ấy, Ngài đã nhập định ba lần và mỗi lần lâu hơn
cả tháng. Hằng ngày, Ngài chỉ ăn một bửa và chỉ ăn trái
cây; Ngài không ăn đồ nấu nướng hay chiên xào gì cả. Vì
vậy, tín đồ gọi Ngài là Thủy-Quả Hòa-thượng - Ông Thầy
Ăn Trái Cây - Trừ khi trời mưa, thường thì mỗi đêm Ngài
đều ngồi tọa Thiền cho tới sáng ở ngoài vườn hay trong
rừng, chứ không ngủ trong phòng như kẻ khác. Ðấy là những
công hạnh đặc biệt của Ngài.
Năm
Ngài 80 tuổi, có lần Ngài biểu thị cho Ðại-chúng biết
ý định "Xả Báo" - nhập Ðịnh - của Ngài. Lúc ấy các đệ
tử vô cùng khẩn thiết, cầu xin Ngài tiếp tục từ bi trụ
thế. Bấy giờ Ngài vì tùy thuận chúng sanh nên trì hoãn việc
nhập Ðịnh, tiếp tục công cuộc độ sinh. Từ ấy Ngài đi
Nam-đầu, Ðài-trung, Gia-nghĩa, Hoa-liên, v.v... hoằng Pháp độ
chúng.
Ðến
năm 84 tuổi, Ngài bắt đầu cấm túc, ở luôn tại chùa Thừa-Thiên
trên núi Thanh-lương không còn xuống núi nữa. Công cuộc xây
chùa vẫn tiếp tục, song do các đại đệ tử của Ngài chủ
động: trùng tu Chùa Thừa-Thiên, xây Quảng-Thừa Nham (1974),
Diệu-Thông Tự (1982).
Năm
Ngài 94 tuổi (1985), Ngài chủ trì Tam Ðàn Ðại Giới, truyền
giới cho hơn 2.500 vị Tăng, Ni và cư sĩ; tạo thành một Pháp-Hội
trang nghiêm vĩ đại nhất ở Ðài-loan lúc bấy giờ.
Bấy
giờ tuy đã gần kề trăm tuổi, Ngài vẫn sống rất đơn
giản, đạm bạc; lời nói của Ngài bình dị, khiêm nhường;
bước đi của Ngài vẫn vững chãi, không cần dùng tới gậy
chống, không nhờ người đỡ taỵ Nếu ai gặp Ngài lúc ấy
sẽ thấy thân Ngài vô cùng nhẹ nhàng, linh hoạt; động tác
thanh thoát. Ngài vẫn y nhiên ngủ ngồi, không nằm; và vẫn
ngồi ngoài vườn lộ thiên tĩnh tọa mỗi đêm. Bấy giờ
thức ăn trái cây của Ngài phải được nghiền thành chất
lỏng để dễ ăn.
Cuối
năm 1985, Ngài trở về Chùa Thừa-Thiên. Ngài thị hiện có
bệnh; cự tuyệt mọi thứ ẩm thực, thuốc men; cũng không
tiếp kiến tín đồ.
Ngày
Tết Nguyên-đán năm ấy, 1986, Ngài triệu tập tất cả đệ
tử ở các chùa và tu viện khắp nơi lại để phú chúc, phân
phối hậu sự. Ngài chỉ bảo việc hỏa táng, phân chia linh
cốt tại Thừa-Thiên Tự, Quảng-Thừa Nham, và Diệu-Thông
Tự, đồng thời trả lời mọi nghi vấn của tín chúng.
Sáng
ấy, sau giờ thọ trai, Ngài quyết định xuống Diệu-Thông
Tự ở Cao-hùng.
Hôm
sau, mồng hai Tết, khí lực của Ngài vô cùng suy nhược.
Mồng
ba Tết, thể lực của Ngài bình phục. Ngài cùng đại chúng
lên điện niệm Phật. Ngài lại nói chuyện một cách thong
dong tự tại với các tín đồ đệ tử; tinh thần vô cùng
sáng suốt và lạc quan như không có chuyện gì xảy ra.
Sáng
mồng bốn Tết, Ngài gọi tất cả đệ tử cùng Ngài ra bên
ngoài điện đón nắng. Ngài nói với một đệ tử, Thầy
Truyền-Văn, rằng: "Ngươi được rồi đấy; song bọn họ
- đại chúng - còn chưa xong đâu!"
Mồng
năm Tết (ngày 13 tháng 2 năm 1986), Ngài ngồi xếp bằng yên
định, tinh thần hòa hoãn, chẳng chút xao động; rồi dạy
các đệ tử đồng thanh niệm Phật.
Vào
hai giờ chiều hôm ấy, Ngài bảo đại-chúng: "Vô lai vô khứ,
một hữu sự!" (chẳng đến chẳng đi, chẳng việc gì); rồi
nhìn đại-chúng gật đầu, mỉm cười. Không lâu sau, đại
chúng thấy Ngài ngồi yên bất động liền đến bên quan sát
kỹ, mới hay Ngài đã an nhiên theo tiếng niệm Phật, viên
tịch rồi.
Nhìn
lại cả đời Ngài, xuất thân tuy nghèo khổ song bản tánh
tự an, ngay thật, bình dị; đến khi xuất gia, Ngài thật sự
buông bỏ vạn sự, chân thành ẩn tu, thực hành đủ thứ
khổ-hạnh gian khó. Bởi nhân địa chân thật như vậy, nên
kết quả là cảm ứng bất khả tư nghị - sau khi xuống núi,
tới Ðài-loan hoằng dương Phật Pháp, Ngài đã tiếp độ
không biết bao nhiêu chúng sanh, từ người đến thú, từ dương
giới đến âm giới, từ hữu tình đến vô tình... Và, nhất
là sự viên-tịch vô cùng tự do tự tại của Ngài - một
minh chứng hùng hồn nhất về sự diệu kỳ của Phật Pháp,
cũng như về khả năng thành tựu sự giải thoát, đạt Ðạo
của những bậc chân tu, thật hành.
Thầm
nguyện Hòa-Thượng sẽ không xả bỏ đại nguyện, tiếp tục
chèo thuyền từ bi trở lại cõi này để không ngừng đưa
lớp lớp chúng sanh tới bờ bên kia, đến nơi an ổn, vô úy,
vô ưu não!
Xem
thêm:
Lược
thuật Hành trạng Hòa thượng Quảng Khâm, Ni chúng Tự
Viện Vĩnh Minh Lâm Đồng đồng dịch