Ðã
xuất gia rồi, bạn phải hiểu ý nghĩa của việc đi tu. Bạn
phải tự chủ; chớ để kẻ khác xỏ mũi lôi đi. Việc cần
nghe thì nghe; việc chẳng đáng nghe, đừng nghe; mỉm cười
là đủ.
Hãy
thường nhìn thủng tấm áo nâu sòng, tự sờ đầu trọc,
mà cảnh giác chính mình: "Ta là tăng-sĩ!" Nếu không làm vậy,
đôi khi bạn quên phắt, bất giác để tâm chạy rông, không
còn là tâm của kẻ xuất gia nữa.
Sáng
vừa thức dậy, bạn hãy lập tức sờ đầu mình, tự hỏi:
"Vì sao tôi đi tu?"
"Vì
liễu sanh thoát tử, vì chấm dứt luân hồi!"
Tu
cho có đức hạnh là điều quan trọng nhất.
Ở
chùa để làm gì? Chính là để tu đức hạnh, tu cái bản
lai diện mục.
Bạn
cứ xem xét những thứ chung quanh Sư-Phụ thì sẽ hiểu ngay.
Nghe xong việc gì, bạn cũng phải cố thể hội, chớ để
thoáng qua tai.
Những
Tăng, Ni trẻ tuổi thì tình cảm còn nặng nề lắm. Song, thân
đi tu thì đầu óc cũng phải đi tu. Ba nghiệp thân, miệng,
ý của người xuất gia thì hoàn toàn khác hẳn của kẻ tại
giạ Bạn phải biết làm sao để liễu sanh thoát tử. Mục
đích mình tu, điều mà mình đeo đuổi, chính là thoát khỏi
vòng sanh tử!
2.
Con Ðường Siêu Thoát Của Người Tu
A.
Trước và Sau Khi Thọ Giới
Chưa
hiểu thông Phật Pháp mà đã thọ Giới, thì rất dễ sanh
tâm cống cao, ngã mạn.
Bạn
chớ mù mù mờ mờ xuất gia, rồi mù mù mờ mờ thọ Giới.
Thọ Giới là vì cầu sám hối, không phải là lết cái thây
đi, lết cái thây về.
Khi
ở Giới-đàn, bạn hãy ít nói, ít cùng người khác trao đổi
(hay phan duyên). Hễ có thì giờ thì hãy lạy Phật, niệm Phật.
Ở
Giới-đàn, người cầu thọ Giới tới từ mọi nơi, nên luôn
luôn đông nghẹt. Phải nhớ rằng, mình đến đây không phải
để thi đua với họ xem ai mặc đẹp hơn, ở tốt hơn, hay
ăn ngon hơn!
Khi
đi thọ Giới, nếu bạn chịu khó, nhẫn nại, thì sẽ nhập
Ðạo được.
Phàm
chuyện gì (ở Giới-đàn) cũng rất đơn giản; bạn chớ cùng
kẻ khác so sánh xem ai ăn ngon, ngủ tốt, hoặc chuyện này
ra sao, chuyện nọ thế nào... Thọ Giới là lúc học oai nghi,
quy củ; chứ không phải là lúc bàn luận, nói chuyện thị
phi, tạo khẩu nghiệp.
Sau
khi đã thọ Giới, bạn phải hoàn toàn khác biệt so với lúc
chưa thọ Giới--lấy Giới làm Thầy, làm thêm nhiều khổ-hạnh,
quét sạch, sửa đổi hết mọi thói hư tật xấu, dứt tuyệt
mọi ý nghĩ xấu ác.
Bạn
phải luôn thường tụng Giới; như vậy mới không có những
thứ ái tình yêu đương lăng nhăng.
Có
Giới Luật câu thúc, kềm giữ, thì bạn mới không dễ làm
điều sai, chuyện quấy.
Thọ
Giới là thọ sự nhẫn nhục. Khi tai bạn nghe người ta chưởi
rủa hay khiêu khích, chọc tức mình, mà bạn chẳng để tâm
vào, thì đó chính là Giới.
"Giới"
là giới nội (tự răn chế mình), chứ không phải là giới
ngoại (kềm chế kẻ khác).
Ngay
lúc lòng bạn vừa dấy lên một ý niệm xấu ác, bạn hãy
dùng Giới Luật để ngăn chận nó lại. Ðó gọi là lấy
Giới làm Thầy.
Cần
phải học thuộc Tỳ-Ni Nhật Dụng và ứng dụng hằng ngày.
B.
Vất Bỏ Danh Lợi
Khi
chưa thọ Giới, vì không biết quy củ, Giới Luật, nên bạn
có phạm Giới; đó là không cố ý. Nay đã thọ Giới; hiểu
Giới mà phạm Giới, thì đó là cố ý. Tội này nặng lắm.
Thọ Giới rồi thì phải giữ Giới, hảy y theo Giới Luật
mà tu hành.
Thọ
Giới không phải là thọ mấy cái giới-ba (cái dấu đốt
trên đầu). Giới là ở tâm. Do đó, khi biết mình làm điều
gì sai quấy, hãy lập tức sám hối. Khi bạn trì Giới đàng
hoàng, thì sẽ không còn tướng (hay quan niệm về) nam nữ
nữa.
Thọ
Giới rồi thì phải đem Giới ra thực hành. Không phải thọ
Giới xong là lên chức Ðại Ðức, Ðại Pháp-sư. Giữa người
tu với nhau không hề có sự phân chia cao thấp.
Có
nhiều kẻ đi thọ Giới lại học được thêm lòng tham lam.
Ðến khi về chùa thì trở nên ham hưởng thụ, thích ăn ngon,
mặc đẹp, ở chỗ tốt; không còn biết gì về dũng mãnh,
tinh tấn nữa.
Trong
Giới Luật có dạy rõ quy củ của mọi việc, đến cả việc
của Thầy Chấp-sự. Bạn phải học, đọc cho thấu đáo,
thì mới không dễ phạm sai lầm; và sau này nếu có ra làm
chấp-sự, bạn mới làm việc tốt đặng.
Giới
là để răn chính mình; do đó, cầu sám hối cũng là Giới.
Giữ
Giới, nhưng đừng đi tới chỗ cực đoan, chấp trước. Nếu
không, tuy mình có ý giữ Giới mà kết quả lại là bị Giới
đẩy văng đi. Bởi vì, giữ Giới thì không sanh phiền não
(làm cho mình hoặc người khác phiền não, đau khổ) và không
xung đột với kẻ khác.
Khi
bạn có tướng mình, tướng người (phân biệt ranh giới giữa
tôi và anh, của tôi và của anh), chắc chắn bạn sẽ dễ
gặp tranh chấp. Tới chùa xuất gia, không phải là để đấu
tranh, cãi vã. Xuất gia thì phải "thống lý đại chúng", hòa
hợp với mọi người; được vậy thì ai cũng tốt.
Tới
chùa xuất gia, không phải là để tranh chấp coi ai đúng ai
sai. Thái độ đó rặt là thứ thế tục, lúc nào cũng chia
ra mình và người.
Ðã
xuất gia tu hành thì không cạnh tranh, ganh đua, cũng không cãi
vã hơn thua, ít nhiều, đúng sai...; mấy thứ đó toàn là "mùi"
danh lợi.
Khi
Hòa-Thượng nói: "Người xuất gia không được tham danh hám
lợi. Vì hễ có lợi tất sẽ có hại, do đó, không được
nuôi dưỡng lòng ham muốn danh lợi"; thì có người hỏi: "Vậy
như hiện nay, danh tiếng của Sư-Phụ vang lừng bốn biển
thì sao?"
Hòa-Thượng
trả lời: "Ta cũng không hề hay biết gì tới nó, vì chúng
đều là huyễn hóa. Không ai biết gì về mình là hay nhất!"
Người
hỏi gật gù: "Ðó mới chính là công phu chân thật!"
C.
Ðiều Cái Tâm Này!
Bây
giờ các bạn tuy đã xuất gia, song các bạn giống như ở
tại biển cả mênh mông, tìm không ra lối thoát vậy.
Người
xuất gia cần phải vô sở cầu (không có mong cầu gì cả)
và vô sở trụ (không để cho tâm vướng vào bất kỳ chuyện
gì, việc gì, hay quan niệm, tâm trạng, tình cảm gì).
Bạn
phải tu tánh; tức là sửa đổi tánh nết, thói quen xấu;
cũng tức là tu Phật-tánh. Mỗi người, ai cũng có Phật-tánh
thanh tịnh; Phật-tánh này chính là Ðạo.
Bạn
nên tùy thuận tánh tình của kẻ khác (chớ sinh xung đột),
hòa hợp với mọi người.
Xuất
gia là để trị cái tâm lăng xăng như khỉ, sửa cái ý chạy
rông như ngựa.
Xuất
gia thì phải dụng công làm việc trong mọi thời mọi lúc,
phải niệm Phật để điều phục cái tâm.
Người
xuất gia nên niệm Phật cho nhiều, không nhất định là cứ
phải ngồi Thiền; bởi vì khi công phu Thiền chưa chín muồi,
bạn dễ bị dính vào ma sự.
Người
xuất gia cần phải xả thân--ai chưởi rủa, hạ nhục, chê
bai, dằn vặt, xử tệ..., bạn phải dửng dưng như không.
Phải quét sạch sành sanh mọi quan niệm về tự ngã (cái "tôi",
của "tôi") thì mới tu hành nổi.
Ðã
xuất gia rồi, bạn phải dẹp sạch lòng tham lam ăn uống,
ngủ nghỉ, ở sướng; như vậy thì bạn mới tu đặng phước,
huệ. Ðừng như kẻ tại gia; đầy thứ tham luyến. Tăng là
một trong ba viên ngọc (Tam Bảo--Phật, Pháp, Tăng). Do vậy,
là Tăng (Ni), bạn phải tu cho giỏi cho tốt; mà duy chỉ có
đạm bạc, đơn sơ thì mới có thể tu hành Giới, Ðịnh và
Huệ.
Chùa
là đạo tràng công cộng. Những Tăng, Ni từ các chùa khác
lại, nếu họ giữ được quy luật thì đều có thể ở lại
chùa để tu.
Công
hạnh của người xuất gia là tu ở sắc, thọ, tưởng, hành,
thức--năm Ấm; tu để khiến chúng đều "không." Do đó, hãy
mặc áo vải thô, ăn cơm đạm bạc. Ðiều này không có nghĩa
là bạn tuyệt thực, mà nghĩa là ăn đủ no, mặc đủ ấm
là tốt rồi; không được tham lam, đua đòi.
Về
chuyện ăn uống; đối với người xuất gia thì ai cho gì,
nấu gì, thì ăn nấy. Không được chấp trước, kén chọn;
không được ham ăn, thích ngon. Ðồ ăn ít một tí, hư thiu
một chút cũng vẫn ăn. Nếu cứ ham ăn, thích ngon, thì nghiệp
của bạn không dễ tiêu trừ đâu. Nếu bạn còn khởi lòng
tham ăn, thì luân hồi thoát không lọt! Kỳ thật, thức ăn
gì nếu đem thử nghiệm thì cũng có thể tìm ra độc tố.
Khi đại-chúng ăn thức gì thì bạn ăn thức nấy là đủ
rồi; đừng sinh bực dọc, khó chịu quái ngại đủ chuyện.
Người
xuất gia đừng bao giờ sợ chết. Chết thì về Tây phương,
càng tốt chớ sao!
Người
tu cần phải có sức mạnh "biến vạn sự thành vô sự" mới
được!
Khoác
trên mình tấm cà-sa rồi, bạn phải tu đến chỗ không còn
bị việc gì làm quái ngại, bận tâm. Không quái ngại, bận
tâm về chuyện thế sự; không vướng lòng vào việc nhân
tình... Hết thảy mọi sự, hễ quái ngại là thừa.
3.
Tự Ðộ
A.
Chùa Thập Phương
Chùa
thì ai cũng có thể tới ở để tu được. Kẻ tới trú phải
giữ nội quy do chùa đặt ra. Bạn không được coi mặt người
tốt xấu, rồi tự tiện làm theo ý mình, muốn cho ai trú thì
trú.
Khi
có người tới trú ở chùa, bạn không được có tâm phân
biệt, so sánh, chuyên môn kể lể chuyện xấu, lỗi lầm của
người ấy. Làm vậy, bạn sẽ khiến người tu khó tu. Chỉ
cần y tôn trọng, tuân theo nội quy của chùa là đủ rồi.
Ðừng
nên so sánh, phân biệt vị này là đệ tử của ai, vị kia
là đệ tử của ai. Hễ người nào tuân giữ Giới Luật,
quy củ, thì đều giống nhau hết. Ai ai cũng là đệ tử của
Phật. Nếu bạn cứ chia ra rành mạch rằng: "Thầy là kẻ
ở ngoài tới, tôi là đệ tử của Sư-phụ ở chùa này...";
thì bạn chẳng phải là thầy tu!
Là
người xuất gia, bạn chỉ cần tu hành cho đúng với giới
Luật. Hễ bạn tu đàng hoàng thì đi tới đâu bạn cũng được
mọi người cung kính, đến cả Thiên, Long, Bát Bộ cũng ủng
hộ, bảo vệ bạn, và chùa ở nơi nào cũng đều là nhà của
bạn!
B.
Chỗ Lầm Lẫn
Khi
bạn tu hành, nhất định bạn phải tu ở chùa lớn (đại
tùng-lâm). Tu ở những nơi có đại-chúng đông đúc thì mới
có thể rèn luyện thành bậc nhân tài.
Khi
tu, cần phải tu ở chùa lớn, đông chúng. Bởi vì chỉ ở
chốn nhiều người bạn mới biết và học được kinh nghiệm
từ những điểm xấu. Những kẻ xấu ác trong chùa đều là
những kẻ chỉ đường để bạn biết mà tu tiến bộ hơn.
Ða số các Tổ-sư đều xuất thân từ chỗ làm bếp, trồng
rau, chẻ củi... trong chùa. Chính những chỗ không ai thèm chú
ý tới, không ai giành làm, mới là nơi để bạn tu hành!
Khi
bạn tu ở chùa lớn, hãy chịu kham khổ về chuyện ăn, ở,
mặc. Mắt bạn hãy làm như chẳng thấy gì, tai bạn làm như
không nghe gì, giống hệt tên khờ. Cứ vậy mà tu thì Ðức
Hộ Pháp Vi-Ðà chắc chắn sẽ bảo vệ bạn. Sau này khi bạn
đi đến đâu, ai thấy cũng kính trọng bạn như Phật vậy.
Bấy giờ, bạn muốn xây chùa thì lập tức sẽ có kẻ ủng
hộ ngay.
Ngày
nay chúng ta đã có một ngôi chùa tốt, một đạo-tràng lý
tưởng để tu hành; bạn chớ có vọng tưởng, tính toán coi
ở chỗ nào còn có chùa tốt hơn.
Khi
lòng bạn không an định thì không cách gì bạn có thể tu
hành được!
Hỏi:
Tôi muốn rời chùa này tới chùa khác tu, hiện nay có ba chỗ;
không biết ý Hòa-thượng thì chỗ nào có nhân duyên với
tôi?
Ðáp:
Bạn ra đi là vì tâm bạn không an ổn hay là vì chùa không
an ổn?
Nếu
tâm bạn không an thì dù bạn có chạy tới Tây Phương, bạn
vẫn không an tâm.
Khi
tâm bạn lăng xăng, bứt rứt, chạy rông, mà bạn chuyển nó
ngay tức thời, thì tâm sẽ an định. Do đó, giữ Giới Luật
là việc cực kỳ quan trọng. Hễ bạn giữ Giới thanh tịnh
thì tâm sẽ thanh tịnh. Khi tâm bạn không an ổn, nhìn việc
gì bạn cũng có ngã-tướng (chấp chặt vào quan niệm về
mình và của mình); do đó bạn phải nhìn mỗi một sự việc
đều không phải là ta, và cũng không phải là của ta.
Muốn
tới Tây Phương, bạn phải tu tới chỗ tâm không còn loạn,
tức là vọng tưởng không ùn ùn nổi lên nữa. Khi đối diện
với bất kỳ chuyện gì, lòng bạn cũng chỉ có một niệm
thanh tịnh, thì đó chính là Tây Phương.
Tâm
không an, thì vọng tưởng cứ lăng xăng mãi. Do vậy, bạn
phải lấy tâm để an tâm; nếu không vậy thì làm sao "an"?
Khi tâm bạn muốn chạy rông, hảy tự hỏi rằng nó muốn
chạy đi đâu.
C.
Thăm Viếng Học Hỏi
Ở
Ðài-loan không có chỗ nào để thăm viếng học hỏi, nên
bạn hãy tự mình nghiên cứu chính mình là đủ.
Ðừng
nên bồn chồn, bứt rứt, nóng nảy.
Thiện-tri-thức
ở đâu? Ở lòng mình!
Khi
lúa chín, đầu bông lúa nặng trĩu nên cong oằn xuống; khi
lúa chưa chín thì đầu ngọn đứng thẳng vút. (Kẻ hiểu
Ðạo, tu hành thành thục, thì hạ thấp mình xuống; còn kẻ
mới tu Ðạo thì lúc nào cũng tự cao, không biết uốn mình.)
Ðối với người tu không tốt, bạn cũng phải tham phỏng
học hỏi; bởi kẻ tu xuất sắc thì hiếm khi tìm thấy, mà
e rằng bạn cũng nhìn không thấu chỗ xuất sắc của người
ta là ở đâu. Do đó, đi thăm viếng học hỏi kẻ xấu cũng
đúng; bởi vì thấy được điểm xấu, điều lỗi lầm của
họ, bạn hãy dùng nó để tự cảnh giác, thức tỉnh chính
mình; tự hỏi mình có lỗi làm tương tự hay chăng, và tránh
phạm lỗi ấy.
Tham
phỏng học hỏi là phải nghiên cứu điểm xấu, điểm hư
của người ta. Họ phạm lỗi ấy ư? Mình phải tu sao để
đừng phạm nó! Họ không tu đúng Giới Pháp; mình phải tu
sao cho đúng Giới Pháp!
Bạn
xuất gia là vì mục đích tu hành, do đó đừng nên ra ngoài
học thêm pháp thế gian. Những điều ở trường Phật-Học-Viện
dạy chưa chắc hoàn toàn là Phật Pháp, Phật-học, vì luôn
bị xen tạp bởi những môn như Xã-hội học, Kinh-tế học,
v.v... Nếu bạn cứ ở gần những môi trường như vậy, lâu
dần thì tâm bạn sẽ không cách gì thoát ly nổi thế tục.
Khi
các bạn đến với đạo Phật, cạo đầu đi tu, hãy xem bạn
có thể liễu sanh thoát tử hay không; đó là điều bạn chẳng
thể không hiểu. Như đã đi tu lại còn muốn đi học kiếm
bằng cấp, thêm kiến thức; thử hỏi ở trường học có
ai dạy bạn mặc áo thô, ăn cơm đạm, buông xả để tu hành
chăng?
Nhiều
Tăng-sĩ đã xuất gia rồi, lại đi học ở Phật-Học-Viện.
Sau khi tốt nghiệp, họ chỉ tăng trưởng lòng ngã mạn, tự
cao tự đại, cứ muốn làm Trụ-trì. Song, họ nhờ vào đâu
để "thống lý đại chúng", khiến mọi người hòa hợp, vui
vẻ tu hành? Họ không làm sao có năng lực để cảm hóa tha
nhân; cũng không ai chịu nổi họ!
Do
đó, bậc Tăng-sĩ phải thiết thực tu hành khổ-hạnh, niệm
Phật cho nhiều, phước huệ song tu.
D.
Quan Hệ Giữa Kẻ Ðồng Tu
Làm
thân đồ đệ, nếu bạn biết Thầy của mình có lỗi lầm
gì, dù lớn đến đâu, bạn cũng chớ nói với kẻ khác. Bởi,
nếu bạn làm như vậy, thì đó cũng là một hành động lỗi
lầm!
Sau
khi nghe kẻ khác nói về lỗi lầm của vị Thầy của y, bạn
đem những điều đã nghe ấy kể lể với mọi người, thì
bao nhiêu tội của y đều quy vào thân bạn. Bởi vì đó là
phạm lỗi nói điều xấu của các vị đồng tu.
Ðối
với các huynh đệ đồng tu trong chùa, bạn không có gì phải
sợ sệt cả. Hãy tôn trọng, cung kính lẫn nhau.
Khi
muốn nhờ ai làm việc gì, bạn đừng dùng thái độ ra lệnh
(như lớn tiếng, ra oai, nói cộc lốc), sai khiến họ giống
như cha sai con, chủ sai tớ; bởi đó là thái độ của kẻ
thế tục.
Mình
là người tu Ðạo, thì phải lấy Phật Pháp làm mô phạm
(tức là dùng lời nói nhỏ nhẹ, từ tốn, cung kính yêu cầu
họ làm việc).
Khi
anh em huynh đệ ngồi với nhau, các bạn nên đàm luận về
Phật Pháp. Ðừng bàn tới mọi đề tài khác để tránh loạn
tâm. Ðừng nên tham gia tán gẫu, nói những chuyện vô nghĩa,
phí thì giờ.
Khi
trong huynh đệ có người nói chuyện về Phật Pháp, thì đừng
nên xen chuyện thế tục vào. Nếu không, càng nói càng lạc
để xa lắc. Hơn nữa, khi đã nói chuyện thế tục, thế nào
bạn cũng đề cập tới chuyện ăn uống, thức này ngon, thức
kia dở v.v...
Hai
chúng Tăng và Ni phải phân ra ranh giới cho rõ ràng. Các vị
sống tới trăm tuổi cũng phải phân rành mạch như vậy. Trừ
phi bạn đã khai ngộ, chứng quả, có được Ðịnh-lực sâu
dày; bằng không, bạn sẽ rất dễ phạm lỗi lầm, gây ra
đủ vấn đề phức tạp.
Khi
Tăng và Ni nói chuyện với nhau, các vị không được mặt
đối mặt, mắt ngó mắt. Khi Tăng và Ni cần trao đổi, đưa
vật gì, thì hai bên cũng không được chạm tay nhau.
Sư-Phụ
tu có Ðịnh-lực; bằng không, Ta cũng không thể để mấy
cô tới gần trong tầm một trăm bước nữa. Các vị bây giờ
chưa có được một phần mười chánh niệm; do đó, các vị
vẫn còn ở trong vòng rất nguy hiểm, nên cần phải chú ý
cho kỹ.
E.
Nhẫn Nhục
Thọ
Giới tức là nhẫn nhục. Nếu bạn có thể nhẫn nhục chịu
đựng hết mọi sự, thì bạn sẽ khó mà phạm Giới.
Bạn
phải tu nhẫn nhịn vì nhẫn là gốc của việc tu. Nếu không
biết nhịn nhục thì chỉ uổng cho bộ áo nhà tu đang khoác
trên mình. Bạn chớ luôn cho rằng hễ việc gì mình làm là
đúng (kẻ khác là sai); thái độ ấy sẽ làm cho bạn khó
tu tâm.
Dựa
theo lòng nhẫn nại mà tu hành thì mới là tu căn bản. Kết
quả là đi tới đâu bạn cũng có năng lực cảm hóa người
khác. Do đó, tu hạnh Nhẫn-nhục mới có đức hạnh; ai thấy
bạn họ cũng sẽ sanh lòng hoan hỷ, và bạn có thể hóa độ
họ.
Sau
khi đã xuất gia, bạn phải xem hạnh Nhẫn-nhục là cao nhất,
là số một. Những kẻ nói xấu, chửi bới, chê bai, phê bình
bạn, đều là những kẻ chỉ đường cho bạn. Không có họ,
bạn chẳng thể tiến bộ, chẳng thể thành tựu.
Ðừng
cho rằng những nghịch duyên đó làm khổ bạn rồi sanh lòng
ghét chúng, chán chúng, coi cái gì cũng không vừa lòng mình,
thấy cái gì cũng gai mắt, rồi bạn nghĩ: "Thôi, cuốn gói
đi quách! Về nhà cho rồi!" Song, biết đi đâu cho tốt? Cũng
không thể đi cưới vợ, vì bạn biết làm vậy còn khổ hơn
kia mà, nào khác gì sống ở địa ngục đâu?
Khi
bị ai công kích, phê bình, bạn nên nhẫn chịu. Dù có bị
oan cũng ráng nhịn. Bạn còn phải cảm ơn người ta vì may
mắn lắm mình mới được (phê bình) như vậy.
Khi
ai đem việc xấu ác, lỗi lầm mà đổ thừa, vu oan cho bạn;
bạn cần phải nhẫn nại.
Dù
bạn có đúng lý mà kẻ khác vu khống, nói càn rằng bạn
sai bạn lỗi, thì bạn vẫn nên sám hối, xin lỗi kẻ ấy
(đừng tranh biện); bởi vì tu hành chính là tu ở chỗ này.
Phải
quán sát như thế nào? Bạn phải quán những lời lẽ ấy
như tiền bạc; và khi người kia phun lời xấu ác thì cũng
giống như y đang vung tiền cho bạn vậy. Nếu khi những cảnh
giới ấy tới mà bạn không nhẫn, không biết làm sao tu nhẫn
nhục, thì chỉ sanh ra đủ thứ phiền não, bực bội mà thôi!
Kẻ
đả kích, bài bác chửi rủa bạn, bạn cho rằng y xấu. Song,
theo quan điểm tu Ðạo, y quả là người giúp bạn; bạn phải
cảm ơn y. Y đem tiền ở cõi Cực-Lạc tới tặng bạn, bạn
không chịu nhận, lại chạy trốn, khóc lóc om sòm!
Khi
chuyện gì xảy đến với bạn, bạn cũng nhẫn nhịn được,
thì tu mới tiến bộ. Dù bạn có đúng lý cũng đừng cãi
cọ tranh biện; cứ sám hối, xin lỗi người ta là đủ. Ðó
là bạn đang tích tập công đức cho chính bạn vậy.
Nhẫn-nhục
Ba-la-mật là hạnh mà khi bạn nhẫn nhục, bạn không cảm
thấy và không cho rằng mình đang làm hạnh Nhẫn-nhục, không
rêu rao là mình nhẫn nhục, và cũng không đè nén, dồn ép
nội tâm (không để lộ sự giận dữ bên trong); vì đó toàn
là có tướng trạng.
Khi
nhẫn nhục mà lòng bạn không hề có cảm giác gì, không thấy
chuyện gì xảy ra; như khi có ai chửi rủa bạn, bạn không
biết là họ chửi mình; thì mới đúng là hạnh Nhẫn-nhục
Ba-la-mật.
F.
Một Niệm Cách Biệt
Nếu
bạn không chịu thể hội Ðạo, thì tuy là thầy tu, tâm bạn
vẫn còn vất vưởng ở ngoại cảnh, xoay chuyển theo cảnh
giới và sự việc bên ngoài; như thế vẫn còn rất nguy hiểm.
Trong
chùa cũng đầy dẫy chuyện thị phi, trắng đen, đẹp xấu.
Kẻ có trình độ thì nghĩ rằng: "Chờ tôi tu khá khá, tôi
sẽ lại độ các vị." Kẻ không hiểu biết thì sẽ làm những
việc hư, kết oán cừu thêm. (Ý là xem bạn có thể chuyển
biến ngoại cảnh hay không.)
Nếu
có ai muốn hại bạn, bạn nên suy nghĩ: "Có lẽ là hồi xưa
mình có làm hại hắn ta; bây giờ mình không nên gây thêm
oán cừu, mà phải độ hắn."
Chuyện
gì cũng có nhân quả, dù là việc nhỏ như một cây kim, một
sợi chỉ, một lời nói--tất cả đều có nhân quả.
Ðừng
bao giờ tập thói cố chấp.
Có
người hỏi: Cái bát của tôi bị bể; phải chăng cái bát
cơm của tôi cũng mất luôn? (Ý nói là bát bể, thì phải
chăng cũng hết tu.)
Hòa-Thượng
đáp: Ðừng nên chấp trước. Nếu cái bát của cô bị người
ta làm bể, rồi có nhân việc đó mà oán hận, muốn trả
thù kẻ kia, thì rõ ràng là chỉ vì cái bát mà cô tạo oán
cừu, gây hận thù với người khác vậy!
Khi
nghiệp chướng ập tới, vô minh, phiền não dấy khởi, nếu
bạn không có chánh-niệm thì tà-niệm sẽ nổi lên. Khi ấy,
thấy ai bạn cũng gai mắt, bực dọc; thấy việc gì bạn cũng
không hài lòng. Bạn chỉ muốn cuốn gói đi ở chùa khác;
hoặc bạn cảm thấy đời tu vô vị, không có ý nghĩa gì,
chỉ muốn hoàn tục cho xong chuyện.
Bạn
biết chăng; chỉ cần bạn nổi một niệm phiền não lên là
bạn đã sai rồi, không cần phải bàn tới việc bạn có đúng
lý hay không!
Ðừng
tìm coi người ta có lỗi lầm hay không. Bạn phải tự thắp
sáng cõi lòng, chiếu rọi tâm mình, hồi quang phản chiếu--xét
xem mình đã làm tốt chưa.
Tu
là sửa đổi chính mình dựa theo chân lý, chứ không phải
dựa vào người khác. Do đó, bạn phải cung kính, tôn trọng
Tam-Bảo (hiện thân của chân lý).
Hễ
là chúng sanh thì ai cũng có lỗi lầm hư xấu; song hễ ngày
nào biết sám hối, biết ăn năn sửa đổi, thì tốt liền.
Dù là loài nở ra từ trứng, hoặc sanh ra từ thai bào, từ
chỗ ẩm thấp hay từ sự biến hóa--tất cả đều có Phật-tánh.
Nhiều thứ súc sinh tánh rất linh thông, hơn cả con người
nữa; song, chỉ tội là chúng không biết nói để chúng ta
hiểu mà thôi.
Bạn
nhận thức được điều xấu của mình, đó là một việc
rất tốt.
Là
người, ai ai cũng đầy một bụng phiền não; nếu không tự
biết lỗi thì làm sao tu? Do đó, tu chính là từ đây, từ
sự nhận thức này mà trừ khử phiền não. Nếu không vậy,
mỗi ngày bạn cứ như cũ, chẳng thay đổi gì--cứ ăn, ngủ,
làm việc, không tu để ngộ Ðạo; thì tới già bạn vẫn
hệt như bây giờ, mà đầu óc thì đầy nhóc những phiền
não!
Bạn
cả ngày chỉ đầy dẫy niệm xấu, không có một chút chánh
niệm; bạn không nghĩ về sắc (thứ có hình tướng như sắc
đẹp, áo quần, tiền bạc, chùa chiền, cơm canh...), thì cũng
nghĩ tới thứ vo sắc (có tên mà không có hình thể như danh,
lợi, sung sướng, hưởng thụ, ý niệm, tư tưởng...).
Hễ
bạn tranh chấp, đấu tranh, cãi vã, tính toán hơn thua, thì
tâm bạn không sao được yên. Ðừng cho rằng người khác
sai, mình đúng. Họ không sai, không lỗi đâu; mà chính bạn
đã không biết tu hành. Chỉ vì lòng bạn có phiền não, tức
bực, khó chịu, oán hờn, nên tâm mới không yên ổn. Cứ
để sự việc trôi qua thì nó sẽ tan biến, và bạn mới có
được chánh-niệm.
Người
ta chê bai bạn xấu, bạn hư; bạn chớ nổi nóng, bực dọc,
khó chịu. Họ khen bạn hay, bạn tốt; bạn đừng vui sướng,
cao hứng. Trong cái dở luôn có cái hay, trong cái tốt luôn
xen lẫn cái xấu.
Kẻ
nào khen ngợi, ve vuốt, tăng bốc bạn; kẻ đó không phải
là vị thầy tốt, không phải là bậc minh-sư. Những ai nguyền
rủa, mắng chửi bạn bất kể bạn đúng hay sai; họ mới
chính là những bậc minh-sư. Lúc họ xử tệ với bạn chính
là lúc họ giúp bạn thành tựu.
Nếu
khi bị chèn ép, xử tệ, mà bạn nghĩ rằng: "Các ngài khinh
thường tôi như vậy; song, tôi vẫn cứ tu để các ngài hiểu";
thì bạn là người có chí khí; và như vậy, ắt có ngày bạn
sẽ thành công!
Bạn
đúng lý mà y sai; cứ để cho y làm gì thì làm, coi như bạn
là sai lầm vậy. (Vì bạn có giải thích, có tranh cãi tới
đâu, y cũng không thèm nghe; vậy cãi có ích gì?) Ðó chính
là bạn biết làm chủ chính mình, không bị người ngoài hay
sự việc làm lay chuyển.
Những
cảnh giới mà bạn tiếp xúc bây giờ đều là do những hạt
giống bạn trồng xưa kia, bây giờ chúng hiện ra thôi.
Thấy
người tại gia mặc áo quần đẹp đễ (tức là một thứ
cảnh), thì có kẻ tự nghĩ: "Mình đi tu sao mà khổ thế này?
Cái gì cũng không có, chỉ được mặc ba cái áo nâu sồng
thô sơ này..."; có kẻ lại nghĩ khác: "Ôi! Trong cõi Ta-Bà
khổ não này chỉ có ăn mặc đẹp đẽ đến thế mà thôi;
có gì là hay, lạ đâu?"
Nhiều
nữ tín đồ khi chưa xuất gia thì nhồi phấn, thoa son, kẻ
mắt, vẽ mày...; bây giờ mấy cô làm Ni-cô ở đây, chẳng
ai còn vậy, coi tốt hơn!
Hai
người, một cô xấu xí, một cô đẹp tuyệt. Cô xấu xí
thì biết mình xấu nên đánh phấn đánh son, trang điểm tươm
tất lắm. Song, càng trang điểm bao nhiêu, càng xấu bấy nhiêu;
không bằng để tự nhiên!
Tu
hành cần có năng lực chịu đựng--chịu khổ, chịu ăn cơm
đạm, chịu mặc áo thô.
Ðời
này, thế giới vật chất phong phú, muốn gì có nấy rất
dễ dàng. Nhiều thứ, do kỹ thuật tiến bộ nên không còn
cần dùng tới tay chân nữa, nên vô cùng tiện nghi.
Là
kẻ xuất gia tu hành, các bạn phải quan sát, suy tư về tấm
gương tu hành của chư Tổ hồi xưa. Theo bước chân các ngài
mà tu thì mới chấm dứt được sanh tử.
Tôi
(Hòa-Thượng) xuất gia tu hành không phải vì mục đích hưởng
thụ; tôi muốn tu sao cho việc ăn uống, ngủ nghỉ, áo quần
thật đơn giản. Tôi thà là bị xã hội coi thường, cho rằng
tất cả mọi thứ ở đây không thể bì được với người
đời còn hơn!
Khi
được xã hội trọng vọng, thì giữa họ và mình sẽ sinh
ra mối dây tình cảm, yêu mến, và rồi sẽ đưa tới nỗi
khổ phải xa cách nhau; kết quả là tạo thạnh vòng luân hồi
luẩn quẩn! Khi bạn bị xã hội khinh rẻ, coi thường, thì
bạn sẽ bớt lòng phan duyên (thích lấy cái này, sở hữu
cái kia, giao kết với người này người nọ để trục lợi),
bớt tâm vọng tưởng (cứ nghĩ hết chuyện này đến chuyện
khác, không hết chuyện này đến chuyện khác, không dứt),
và dễ chuyên tâm dụng công hơn!
4.
Ðộ Người
A.
Biết điều tốt của thí chủ
Khi
thí chủ quý trọng bạn, họ mới cúng dường. Vì thế, bạn
nên có lòng tri ân, cảm kích, mà tu hành cho đàng hoàng.
Như
các bạn ăn mặc đơn sơ, đạm bạc, lại dám xả thân làm
việc công quả cho chùa; người ngoài nhìn bạn họ sẽ nhận
thấy rằng: "Các vị tu sĩ này thật làm tôi cảm động; họ
biết xả thân vì Ðạo, vì chùa..." và tự nhiên họ muốn
cúng dường bạn. Như thế, vô hình trung, bạn đã độ họ,
khiến họ trồng căn lành trong ruộng phước đức. Ðây chính
là hoằng Pháp, lợi sinh vậy!
Người
tu phải chịu cực chịu khổ, không được chấp trước vào
quan niệm về "tôi" và cái "của tôi", rồi sanh ra tật thích
chải chuốt cho đẹp đẽ, ăn uống cho ngon lành, và muốn
mọi sự phải cho tiện nghi, sung túc. Thân mặc áo nâu sòng
cho sạch sẽ, chỉnh tề là đủ; bởi kẻ xuất gia mà sống
quá sướng, quá hưởng thụ thì không người tại gia nào
muốn cúng dường cả! Người tu mà biết chịu cực, sống
kham khổ, thì thí chủ mới khâm phục, mới muốn cúng dường.
Ðời sống chỉ cần có cơm ăn no, có áo mặc ấm là đủ
lắm rồi.
Người
xuất gia: chân đạp đất của tín thí, đầu đội trời của
tín thí, thân mặc áo thí chủ cho, miệng ăn cơm thí chủ
cúng, ngủ ở phòng thí chủ xây. Cứ tính là mỗi ngày bạn
tu được một trăm đồng tiền công đức. Hễ bạn khởi
tâm động niệm khiến thân miệng ý không thanh tịnh, thì
khấu trừ đi ba mươi đồng. Thêm vào là tiền ăn uống đáng
giá ba mươi đồng, tiền trú ngụ là hai mươi đồng, tiền
ăn mặc đáng năm mươi đồng; tổng cộng là một trăm ba
mươi đồng tiền công đức. Ðấy, công đức tu hành bạn
làm ra trong ngày không đủ để trả những phí tổn trên;
vậy thì bạn còn có công đức gì nữa? Tín chủ cúng dường
khó tiêu lắm!
Muốn
Tăng-đoàn trang nghiêm, bản thân mình phải trang nghiêm. Bất
cứ ở chỗ nào, lúc nào, mình cũng phải trang nghiêm. Thí
dụ khi tụng Kinh, nếu người ta thấy chư Tăng, Ni vô cùng
trang nghiêm, thì tự nhiên họ sẽ sanh lòng tín ngưỡng đối
với Ðạo, và không coi Phật giáo là thứ tiêu cực nữa.
B.
Tiếp đãi tín đồ
Bồ-tát
là kẻ độ chúng sanh, do đó mình phải rộng kết duyên lành
với chúng sanh. Hiện tại tôi còn sống, khi người ta tới
bái kiến tôi thì các bạn phải ráng kết thiện duyên với
họ. Thấy tín đồ nào, bạn cũng nên tiếp đón, chào hỏi;
song không được phan duyên (dùng thủ đoạn tình cảm để
kiếm lợi lộc riêng tư), không được cống cao ngã mạn,
rằng "Tôi là người xuất gia, các vị chỉ là kẻ tại gia!"
Bạn phải hiểu rằng tất cả mọi phí tổn cho sinh hoạt
hàng ngày như ăn, ở, mặc của tôi đều là do thí chủ cúng
dường mà ra!
Khi
có người kết duyên xấu với thí chủ, các bạn chớ có
bị người ấy ảnh hưởng, khiến mình cũng kết duyên xấu
với thí chủ. Bạn phải có năng lực nhận định phải trái,
phải tự làm chủ chính mình; bởi chúng ta cần rộng kết
duyên lành.
Cho
nên nói: "Vị thành Phật, tiên kết nhân duyên"; nghĩa là khi
chưa thành Phật, trước hết, phải kết duyên lành với mọi
người.
Khi
có tín đồ lại chùa, bạn hãy khéo dùng lời lành tiếp đãi
họ, mời họ lạy Phật, ăn cơm, đi dạo coi chùa. Ðó chính
là kết duyên lành, và cũng là cách tu hành. Ðiều cốt yếu
nhất là đừng bày đặt ra vẻ thanh cao, "ta đây là Thầy".
Cái đó không phải là tu hành gì cả. Tín đồ là kẻ đang
tu học, bạn là người tu thì phải hành Ðạo Bồ-tát. Không
nên tu thứ hành vi xấu; phải tập cử chỉ tốt. Khi có kẻ
bất lương đến chùa, bạn đừng để ý tới y là xong. Ðừng
nên cằn nhằn, cũng đừng chửi rủa người khác hoài. Tu
hành thì phải tu cho tới lúc có trí huệ; bấy giờ, hễ đụng
chuyện gì, bạn cũng thấu suốt được ngay. Khi đó, nói chuyện
gì bạn cũng có thể nói một cách viên dung. Khi mình đã đứng
vững rồi, kẻ khác sẽ do đó mà sanh lòng hoan hỷ tiếp nhận
lời bạn, mà bạn cũng không tạo nghiệp.
Tín
đồ mang vật phẩm đến cúng dường, đó là vì họ muốn
cầu phước. Vì vậy, dù vật nhỏ như một ngọn cỏ, bạn
cũng phải vui vẻ tiếp nhận. Nếu khi thấy họ đem những
thứ tốt đẹp lại cúng dường, rồi bạn sanh ra tham lam,
thì bạn không thể ngộ Ðạo được. Khi có người mang thức
ăn dở đến, bạn đem nấu lại cho ngon lành, thì đó là bạn
tu cả phước lẫn huệ! Nếu bạn không biết xử lý một
cách thích đáng, ngược lại, cứ trách móc thí chủ đã cúng
thức ăn hư thối; thì đó là tự bạn nổi phiền não và
tự bạn tạo khẩu nghiệp mà thôi!
Dù
là người trong gia đình hay bà con của mình tới chùa ăn cơm,
mình cũng nên khuyên họ cúng dường tiền cơm cho chùa để
họ có quan niệm đúng đắn (về nhân quả, nghiệp báo.)
Bạn
nên lân mẫn, thương hết mọi chúng sanh; hãy nghĩ rằng họ
và mình chỉ là một. Thí chủ lại tu, lại trồng thiện căn;
mình phải lấy tâm Bồ-đề, tâm từ bi đối với họ mới
đúng.
Khi
ai đang nói, bạn chớ ngắt lời hoặc nói xen vào. Chờ họ
nói xong, mình hãy nói; đó gọi là lễ phép. Khi ứng tiếp,
nói chuyện với thí chủ, bạn chỉ nên nói về Phật-pháp.
Khi họ muốn nói chuyện thế tục, bạn hãy xin lỗi mà nói
rằng: "Tôi không có thì giờ, xin mời bạn lên lễ Phật,
hay tản bộ dạo chơi." Khi gặp kẻ xấu, bạn chớ để ý
tới y là tốt nhất; bởi vì hai đồng tiền mà đập vào
nhau thì chắc chắn phải kêu lẻng kẻng!
Quan
hệ với người đời: bất quá họ chỉ xã giao mà thôi. Vì
vậy, khi bạn ứng tiếp họ, tâm bạn phải biết tự chủ,
luôn có Phật-pháp (soi sáng). Không nên cùng người thế tục
đàm luận chuyện đời. Hãy đem Phật-pháp lại so sánh.
Nói
những chuyện khôi hài song song đầy ý vị Phật-pháp sẽ
làm người nghe đỡ phiền não.
Kẻ
tu hành mà không nói Phật-pháp, lại đi đàm luận thế sự;
đó nào phải là bổn phận của người xuất gia? Khi người
tu mà còn nói chuyện trần tục của người đời, tức là
y chưa
đoạn được tục khí (thói quen trần tục); thế thì
làm sao y đủ tư cách bàn tới hai chữ "tu hành"?
C.
Sự nghiệp của Bồ-tát
Mỗi
vị Thầy đều có một phương pháp độ sinh khác nhau; do vậy,
bạn chớ tùy tiện chê bai, phê bình. Bởi nếu làm vậy, bạn
sẽ tạo ảnh hưởng không tốt đối với lòng tin Phật-pháp
của kẻ khác. Việc này có nhân quả đấy!
Vì
muốn độ chúng sanh nên mình phải hằng thuận, phải chiều
theo chúng sinh, cũng giống như mình đánh lừa đứa nhỏ (vì
muốn cứu mạng nó) vậy; mà phần lớn là để chúng sinh
trồng căn lành trong ruộng phước.
Tôi
không đòi hỏi gì cả. Chúng sanh thấy tôi thì sinh lòng hoan
hỷ; song, bản thân tôi, tôi không hề biết đến.
Làm
việc gì mình cũng phải rõ suốt chân lý của việc ấy thì
mới lãnh đạo, dẫn dắt được người ta. Nếu mình không
thông suốt chân lý, làm sao dẫn dắt kẻ khác?
Hiện
tại, người tu cần dùng Phật-pháp và sự thật để chỉ
đạo, giáo hóa chúng sanh. Không vậy thì mọi việc đều biến
thành thế tục; mình chẳng những không thể tùy thuận ai
được mà lại còn mất đi lòng độ lượng nữa!
Hoằng
Pháp, lợi sinh: đây không phải là việc nói suông. Chỉ cần
bạn tu trì cho tốt, thì tự nhiên khi nhìn bạn, ai cũng sanh
lòng hoan hỷ, cung kính.
(Ví
như Hòa-thượng Quảng Khâm: Ngài không hề xuống núi song
kẻ ngưỡng mộ và quy y Ngài thì nhiều không xiết.)
Hoằng
Pháp, lợi sinh tức là cần mình hy sinh thân xác này.
Bạn
phải làm một vị Bồ-tát. Không thể cho mình tốt là đủ,
rồi mặc kệ kẻ khác. Phải coi kẻ khác là trọng yếu, còn
mình thì sao cũng được. Phải làm lợi ích tha nhân. Khi bạn
chỉ làm lợi ích cho riêng mình thì vô minh, phiền não của
bạn sẽ đầy dẫy.
Người
xuất gia lấy lòng nhân từ làm gốc, lấy phương tiện làm
dụng, lấy lòng đại bi làm thể. Tất cả (mọi căn lành,
mọi pháp môn...) đều từ lòng từ bi mà phát sinh.
Gia,
ví như tập khí, thói quen, vô minh, phiền não, những chủng
tử xấu của mình. Quốc, ví như đại chúng. Mình phải trị
gia trước, rồi mới trị quốc sau. Nghĩa là trước hết,
bạn hãy trừ sạch mọi thói hư tật xấu, vô minh phiền não
của mình; rồi sau đó đem đức hạnh ra cảm hóa kẻ khác,
"thống lý đại chúng."
5.
Ðiểm tốt của việc tu
Xuất
gia là việc đại hiếu. Bạn cần phải báo đáp bốn ân lớn
(ơn cha mẹ, ơn thí chủ, ơn chư Phật, ơn Thầy), và cứu
độ ba đường khổ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh). Bạn
sẽ độ thoát cha mẹ mình trong muôn vàn kiếp, không phải
chỉ có cha mẹ đời này mà thôi.
Bộ
áo người tu không phải ai ai cũng mặc được. Chỉ có kẻ
phước-khí mới mặc đặng.
Một
kẻ xuất gia, dù y không tu hành gì lắm, chỉ biết ăn chay
trường, không sát sinh, không có tội lỗi lớn, thì kiếp
sau y có thể đầu thai làm người lại và tu hành tiếp. Y
sẽ không bị rớt vào ba đường khổ hay bốn loại sanh (sanh
ra từ trứng, từ thai, từ nơi ẩm ướt, hay từ sự biến
hóa).
Hỏi:
Khi một kẻ xuất gia phá Giới, phạm tội ác vô biên, bị
rớt vào địa ngục, phải chăng y còn tệ hơn kẻ tại gia?
Như vậy, chi bằng tu tại gia tốt hơn?
Ðáp:
Xuất gia tu vẫn tốt hơn! Tuy y (kẻ xuất gia) bị đọa lạc,
song khi y chịu hết quả báo, y có thể trở lại tu hành. Chắc
chắn rồi y cũng xuất gia, bởi y đã trồng ít nhiều căn
lành rồi. (Một kẻ ngoại đạo, nếu đem so sánh, còn kém
hơn một người xuất gia phá giới).
Kẻ
có căn cơ, thì sau khi đi tu, y hiểu rõ mọi chuyện, thể hội
được điểm tốt cũng như điểm xấu giữa người xuất
gia và người tại gia. Có kẻ chẳng bao giờ thể hội được
điều ấy.
Sở
dĩ bạn không thể nhìn thấy, không thể biết được điểm
tốt của việc xuất gia, là vì bạn còn nghiệp chướng. Nếu
nghiệp chướng ấy không tiêu trừ, thì khi bạn lâm chung,
chúng sẽ hiện ra.
Nhìn
hời hợt thì kẻ xuất gia chỉ biết ăn ngày ba bữa, làm
vài chuyện này nọ. Kỳ thật, xuất gia là vì muốn trừ khử
lòng tham lam,sân giận, si mê và tiêu trừ nghiệp chướng.
Có
người nói: Mấy Thầy ăn chay nên nói luận điệu của kẻ
ăn chay; nếu ai cũng đi tu thì xã hội sẽ ra sao?
Hòa-thượng
đáp: Ai ai cũng đi tu thì chúng ta cùng nhau vãng sinh Thế-giới
Cực-lạc ở Tây-phương; như thế không phải là càng tốt
hay sao?
6.
Ðạo Cao Một Tấc, Ma Cao Một Thước
Nghiệp
ác mình tạo ra từ nhiều kiếp thì cao ngất như núi. Ðời
này, khi mình đi tu, những ác nghiệp ấy có thể xuất hiện.
Do đó, có lúc mình cảm thấy cái nghiệp sau khi xuất gia lại
nhiều hơn lúc còn tại gia. Bấy giờ, mình cần có sức lực
mạnh mẽ để vượt qua. Nếu mình không hàng phục được
phiền não, lại khởi tâm động niệm, thì sẽ tạo thêm nghiệp
mới!
Xuất
gia tu hành là việc không tầm thường.
Việc
xuất gia thì nhiều lắm. Khi những kẻ oán, thân, chủ nợ
(ở kiếp trước) đến đòi nợ, thì mình sanh bệnh hoặc
gặp đủ thứ chuyện rắc rối kéo tới. Nếu mình chẳng
vượt qua được thì không cách gì an lòng tu Ðạo đặng.
Do đó, khi bạn bệnh khổ, hãy tự khuyến khích, sách tấn
chính mình. Lạy Phật, niệm Phật nhiều hơn thì nghiệp chướng
sẽ tiêu tan.
Kẻ
tại gia nhìn (sinh hoạt người tu) nhưng không hiểu, nên cho
là người tu khổ sở lắm. Ðối với kẻ có Ðạo-tâm không
kiên cố, thì y coi đời tu như là cuộc sống ở địa ngục
trần gian; y luôn cảm thấy việc gì cũng không tốt và không
tự tại, lại sanh phiền não nhiều. Có nhiều vị tuy Ðạo-tâm
kiên cố hơn, song do hạt giống xấu gieo trồng từ nhiều
kiếp trước, nên tuy nghe Sư-phụ giảng dạy mà không để
vào lòng gì cả. Ảnh hưởng của trần gian thế tục đối
với họ thì còn nặng nề, sâu đậm lắm.
Ở
chùa mình, các bạn còn thấy người tới từ mọi nơi: nào
là tướng mạo thế này, hình sắc thế kia... đủ cả. Những
Tăng, Ni trẻ tuổi thì ý niệm về tình cảm yêu đương còn
nặng nề lắm. Khi thấy những cặp trai gái đến, nếu các
vị bị cảnh tượng ấy làm tâm dao động, rồi sanh lòng
ước muốn, ưa thích, thì các vị sẽ dứt mất Ðạo-tâm
(tâm tu hành). Nếu các vị nhận định tâm trạng ưa thích
của mình là tội lỗi, thì mới có Ðạo-tâm.
Kẻ
xuất gia trẻ tuổi thời nay thật rất nguy hiểm. Họ rất
dễ bị ngoại cảnh làm thay đổi chí hướng. Những kẻ nửa
đời xuất gia (tức là đã kết hôn rồi), thì đã nếm hết
mùi đời, nên đối với ngoại cảnh, họ có phần nào tự
chủ hơn. Song le, nếu người trẻ tuổi xuất gia mà chịu
tu hành đàng hoàng, thì trí huệ sẽ khai mở, rất dễ thành
tựu.
7.
Ni Chúng
Người
nữ thiếu tu hành 500 đời. Nếu biết tu, các cô có thể ngay
thân này, đời này được giải thoát. Song các cô đừng quá
coi trọng tấm thân: ăn no là tốt rồi, mặc ấm là đủ thôi,
không cần ngủ thì chớ ngủ. Không làm như vậy thì chỉ
có tham lam, tán loạn, mất Ðạo-tâm mà thôi!
Sanh
làm thân người nữ song được xuất gia, được gặp bậc
đại Thiện-tri-thức, lại được ở nơi đạo tràng mà yên
ổn tu hành; các cô phải cảm nhận là mình vạn phần may
mắn! Các cô nên mau mau tu trì, sửa đổi bản tánh nóng nảy,
trừ bỏ ý nghĩ xấu ác, thay đôi quan niệm sai lầm xưa kia.
Ðài
Loan vẫn còn tốt là vì các cô còn có thể xuất gia. Nếu
không, e rằng người nữ trong xã hội chỉ đọa lạc mà thôi.
Nay các cô xuất gia rồi, nếu còn không chịu tu, thì biết
kiếp sau các cô có còn được thân người để tu hành nữa
không?
Ðừng
cho rằng các cô tu như vậy là cực khổ lắm, rồi sanh lòng
ghét cái này, bực cái kia, thấy việc gì cũng sai cũng trật;
lại nghĩ: "Thôi, đi phứt cho rồi!" Song, các cô đi, mà biết
đi đâu? Cũng không thể đi lấy chồng, bởi như vậy, rốt
cuộc chỉ thêm đau khổ như sống ở địa ngục mà thôi!1
Nhiều
cô đã mắc phải căn bịnh trần trọng - bệnh nhiều tình
cảm. Các cô không được tái phạm cái trò tình cảm dây
dưa ấy, như là thích ngủ chung với nhau. (Nếu cô này không
chịu ngủ chung với cô kia, thì bị cô kia nói cô này không
tốt với cô). Các cô phải ngủ riêng, tách rời một chút.
Nếu các cô cứ cố chấp hoài thì chính là tà đó!
Người
nữ mà xuất gia được là chuyện khó rồi; sao các cô còn
đòi hỏi đi đây đi đó để tham phỏng, học hỏi này nọ?
Chỉ cần các cô học hỏi chính mình (lúc khởi tâm động
niệm, lúc có tham, sân, si, ngạo mạn, tà kiến). Các thầy
thì mới nên đi tham phỏng học hỏi!
Các
cô phải hết sức tránh nói chuyện với người nam giới,
với các Thầy.
1 Khi
Hòa-thượng Quảng Khâm (83 tuổi) muốn nhập niết bàn, Ngài
có nói: "Các ni cô ở Ðài Loan không thể chịu khổ - khổ
ở đây ám chỉ mọi thứ khổ, ví như làm các thứ khổ hạnh,
tu nhẫn nhục, hay lúc tinh tấn niệm Phật, lạy Phật... mà
thân thể bệnh khổ, sức - các cô không chịu nổi khổ cực,
thì không cách gì chứng đắc được cả!"