|
|
.
CẨM NANG
TU ÐẠO
Hòa
Thượng Quảng Khâm
Việt
Dịch: Ban Phiên Dịch Vạn Phật Thánh Thành
 |
 |
1.
Tâm Chúng Sanh
2.
Thói Quen, Tập Khí
3.
Danh Lợi và Chậm Chạp
Chương
VIII:
Cảnh
Giới Của Chúng Sanh
1.
Tâm Chúng Sanh
Vọng
tưởng không có chủ tể. Phật (mới là bậc) có chủ tể.
Tu
làm sao mà về già càng tu càng không quái ngại. Hễ muốn
vãng sanh thì chỉ nhắm mắt như ngủ là đi ngay. Chúng ta đêm
nào ngủ cũng tựa như cái xác chết, chẳng biết chuyện gì
xảy ra xung quanh. Sáng tỉnh dậy, mở mắt ra là lập tức
bắt đầu tiến trình chấp trước; nhìn cái này là 'của
ta', thấy cái kia là 'của mình'...
Các
bạn không thể thấy được những thứ vô hình hài, vô sắc
tướng; do đó không có hứng thú, không thích chúng. Vì vậy,
các bạn chỉ ham thích truy cầu thứ có sắc tướng mà thôi.
Lúc
cha mẹ sinh bạn, bạn nào hay biết gì. Khi lớn lên một chút
thì bạn bị 'dính bụi trần', chấp chặt quan niệm về cái
ngã liền. Hễ chấp trước quan niệm về cái ngã thì sẽ
có phiền não ngay. Song le,
'Xưa
nay không một vật,
Làm
sao dính bụi trần?'
Những
vị ở cõi trời thấy chúng ta giống hệt như mấy con giòi
đen, thứ giòi ở trong cầu tiêu. Ðức Phật A-Di-Ðà phát
48 đại nguyện là để tiếp độ mình tới Thế-giới Cực-Lạc;
song mình cứ một mực tham luyến cõi Ta-Bà, cho khổ là vui,
hệt như mấy con giòi đen (cho cầu tiêu ô uế là nơi đầy
thú vị)!
Mình
thấy cầu tiêu hôi hám không chịu nổi nên muốn vớt mấy
con giòi ra, thả chúng vào chỗ nước trong trẻo. Song lũ giòi
ấy lại tham luyến cái cầu tiêu ô uế hơn mọi thứ, thà
chết chứ không chịu đi đâu cả!
Con
người ta học làm điều xấu thì rất dễ; còn học làm chuyện
tốt thì khó lắm!
Bốn
loài chúng sanh hễ ăn no rồi thì ngủ, tâm lúc nào cũng tán
loạn.
2.
Thói Quen, Tập Khí
Kẻ
thẳng thắn dễ khai mở trí huệ.
Cá
tánh của mỗi người rất quan trọng.
Tánh
tình tốt, hiền hòa, thì đi tới đâu cũng hòa đồng được
với mọi người, tùy thuận được người khác. Song tùy thuận
cũng có hạn lượng; bởi vì đối với kẻ làm việc xấu
thì mình không thể tùy thuận làm theo, mà phải kiên định
lập trường, nguyên tắc hành động.
Bản
thân con người thì không xấu ác gì; chỉ có thói quen, tập
khí là hư xấu. Ai cũng có thói hư tật xấu, chỉ khác là
kẻ ít người nhiều mà thôi. Chỉ cần bạn hướng tâm tu
Ðạo là đủ. Hễ bạn có thể tha thứ cho ai, thì hãy tha
thứ ngay. Ðừng bao giờ cho người ta là hư xấu.
Anh
A có thói hút thuốc, đi đâu cũng phì phà khói thuốc. Anh
B thì có thói đa nghi, lúc nào cũng nghi ngờ này nọ. Có lần
A hút trước mặt B. Anh B tức giận, nghi rằng anh A khinh khi
mình; thế là hai đàng sanh ra cãi vã, xung đột. May có anh
C biết thói quen của hai người, nên đến giải hòa; khiến
đôi bên từ đó sửa đổi, bỏ thói hút thuốc, bỏ tánh
đa nghi.
Bởi
vậy, thói xấu mà mình không tự nhận biết để sửa đổi,
thì chỉ gây phiền não cho kẻ khác. Tâm đa nghi chỉ hại
mình, chướng ngại việc tu. Khi thấy ai bất hòa, xung khắc,
thì bạn chớ đổ dầu vào lửa khiến sự tình thêm rắc
rối; mà phải luôn tìm cách giải hòa!
Có
kẻ hay phê bình, chỉ trích, hoặc nói xấu người khác. Thật
ra, y không tự hiểu việc làm của y là sai, mà y cũng không
cố ý muốn chỉ trích, nói này nói nọ. Chẳng qua là do thói
quen xấu mà y đã huân tập từ vô lượng kiếp về trước
thúc đảy, khiến y bất giác làm vậy.
Trước
kia có một người, khi nói chuyện với ai anh ta cũng luôn nhìn
ngang liếc dọc, làm ra vẻ thần bí; khiến người khác khi
nhìn anh ta thì họ có cảm giác như anh ta đang nói xấu ai
đó. Kỳ thực, nào phải vậy! Ðó chỉ là thói quen xấu mà
thôi.
Do
đó, làm việc gì bạn cũng phải tự tại, tự nhiên; nếu
không, bạn có thể rước đủ thứ phiền hà vô ích vào thân!
3.
Danh lợi và Chậm Chạp
Mỗi
người, ai cũng đầy một bụng phiền não.
Xưa
kia ở Ðại Lục (Trung Hoa), hễ người nào càng cố công tu
hành, càng có căn cơ, thì càng bị thử thách nhiều lắm.
Có kẻ cố ý dùng đủ thái độ vô lý lại chèn ép, khiêu
khích người ấy. Hoặc có kẻ thấy người ấy gần hoàn
thành một công trình gì đó thì tới phá hoại cho sụp đổ
tan tành. Tuy nhiên, phải xem căn cơ của người ấy thế nào
rồi mới thử thách đặng. Nếu thử thách kẻ không có căn
cơ, bản lãnh, thì y sẽ sanh phiền não.
Ở
Ðài Loan thì khó mà thử thách ai. Bởi vì hầu hết các Ni-cô
đều xuất thân từ mái nhà ấm cúng của cha mẹ, quen thói
nhõng nhẽo; cho nên đối với họ, chỉ phải dùng toàn phương
pháp thế gian mà thôi.
Ðời
xưa, có vị Sư Phụ muốn thử coi công phu tu hành của đệ
tử. Ngài bảo đệ tử mang ngược dép lại.
Kẻ
có căn cơ, trí huệ, liền quỳ xuống; thì Sư-Phụ từ bi
chỉ dạy. Kẻ ngu si thì quả thật mang dép ngược lại ngay.
Còn kẻ không có căn cơ thì lập tức nổi đóa, sinh phiền
não; cho rằng Sư-Phụ sai lầm, cố ý làm cho y phiền não.
Khi
kẻ có căn cơ nghe bạn nói về y (phê bình, chỉ trích, mắng
nhiếc), thì y biết rằng đó chính là lời Sư-Phụ y đang
dạy dỗ; do đó, y biết cầu sám hối.
Khi
kẻ thiếu căn cơ nghe bạn nói về y, thì y lập tức đấu
khẩu, hỏi gặng vì sao bạn dám nói động đến y; và rồi
y sanh lòng tức tối, phiền não. Y sẽ nghĩ tới mái nhà ấm
cúng của cha mẹ y, nào là được ăn ngon, mặc đẹp, lại
được đi học..., những tấn tuồng cũ kỹ khiến y sẽ đọa
lạc mãi trong luân hồi.
Hễ
việc gì tới mà mình tỉnh ngộ, thấu triệt, thì mình là
kẻ có căn cơ. Kẻ không có căn cơ thì việc gì (trái ý muốn,
trái sở thích) đến với y, y đều sanh phiền não, bực bội.
Kẻ
không có căn cơ thì phiền não cả đống. Dù bạn cố ý giải
thích, y cũng không thể hiểu.
Không
trừ phiền não thì chánh niệm (sự suy tư đúng với chân
lý hay Phật lý) không thể hiện tiền.
|