TRI
ƠN
Vâng
theo lời dạy của Thầy Lama Thubten Zopa Rinpoche, con
cố gắng dịch cuốn sách “ Kim chỉ nam “ này ra tiếng
Việt với ước ao chia sẻ những lời dạy tâm huyết của
Thầy đến bạn bè huynh đệ Việt nam, tất cả những
ai quan tâm đến.
Con
kính dâng lòng tôn kính biết ơn sâu xa của con lên Thầy,
một Kadampa trong thời hiện đại, người là nơi nương tựa
của con mãi mãi, người đã dạy con đi vào con đường tu
giác ngộ.
Thành
kính tri ơn các Lama, các huynh đệ trong Tổ Chức Bảo Tồn
Truyền Thống Phật Giáo Đại Thừa (FPMT).
Thành
kính tri ơn Nhà Xuất Bản Wisdom Publications-Boston,USA đã cho
phép dịch và xuất bản tác phẩm này ở Việt Nam.
Thành
kính tri ơn Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, cô Hồng Như , huynh Nguyễn
đình Hoạch, huynh Trần trung Sơn, huynh Nguyễn Học và các
huynh đệâ gần xa đã góp sức trong việc dịch, biên tập
và xuất bản cuốn sách này.
Được
bao nhiêu công đức, xin nguyện hồi hướng cho tất cả chúng
sinh. Nguyện cầu tất cả độc giả của “Cánh Cửa Mãn
Nguyện” tinh tấn trên đường đạo đưa tới giác ngộ.
Nguyễn
văn Điểu
BẢN
DỊCH VIỆT NGỮ ẤN TỐNG KHÔNG BÁN
Người
dịch: Nguyễn văn Điểu
NỘI DUNG
Lời
tựa
Lời
nói đầu của người biên tập
1.
Phần dẫn nhập
2.
Hiểu biết cách thực hành pháp
3.
Buông bỏ cuộc đời này
4.
Chuyển hóa phi đạo đức thành đạo đức
5.
Cắt đứt ham muốn
6.
Điều phục tâm
7.
Hãy luôn nhớ vô thường và cái chết
8.
Không thấy cái tôi để nuông chiều
9.
Yêu thương chăm sóc mọi người
10.
Chỉ có một lựa chọn là tu tập pháp
11.
Cúng dường công đức
LỜI
TỰA
Khoảng
một ngàn năm trước, ở Tây Tạng, ngài Atisha, vị đại sư
độc nhất vô nhị, tác giả luận giảng Ngọn đèn Soi
đường đến Giác ngộ đã thành lập truyền thống Kadampa
tôn quý. Vị đệ tử số một của ngài là Dromton Gyalwai Jungne
người mà định mệnh đến với ngài đã được thiên nữ
Tara báo trước. Trong số ba đệ tử lâu năm nhất của Dromtonpa(thường
gọi là ba anh em nhà Kadam), có ngài Potowa Rinchen Sel. Đệ tử
thân cận của Geshe Potowa là Geshe Langri Tangpa Dorje Seng-ge.
Truyền
thống đặt tiêu chuẩn theo kinh nghiệm thực chứng (Kadampa),
chú trọng sự điều phục tám mối bận tâm thế tục (từ
đây gọi là bát phong-ND), từ bỏ dứt khoát mọi quan tâm
đến cuộc sống đời thường này, đồng thời luyện tâm
đến giác ngộ bằng cách yêu thương chăm sóc những người
khác thay vì chăm sóc bản thân mình. Thông qua các vị đạo
sư nói trên, tinh hoa của truyền thống này đã được bảo
vệ như là phép tu tập quý báu nhất của truyền thống cựu
Kadam.
Sau
đó, Lama Tsong Khapa vĩ đại cùng với người học trò tinh
thần và thân cận nhất của ngài là Khedrub Rinpoche sáng lập
truyền thống tân Kadam. Một trong những đệ tử thân cận
là Chen-nga Lodro Gyaltsen đã biên soạn luận giảng : “Khai
mở Cánh cửa Pháp, Giai đoạn Đầu của việc Tu Tâm trên
đường Đạo từng Bước đến Giác Ngộ”.
Tác
phẩm này như một chìa khóa mở ra con đường dẫn dắt những
hành giả sơ căn đến với Pháp. Do đó, những ai quan tâm
đến nó sẽ hưởng được những lợi ích lớn lao. Đối
với Lama Zopa Rinpoche tác phẩm này đã trở thành nền tảng
cho những kinh nghiệm hết sức xác thực về Pháp.
Với
sự toàn tâm toàn ý, tôi một lòng hoan hỉ giới thiệu luận
giảng này. Tôi chân thành dâng lời cầu nguyện, nguyện rằng
cuốn sách này sẽ góp phần xoay chuyển tâm thức của tất
cả chúng sanh hướng về Pháp và dẫn dắt họ mau chóng đến
bến bờ Giác Ngộ hỉ lạc và an lành.
Kirti
Tsenshab Rinpoche
Dharamsala,
Ấn độ.
LỜI
NÓI ĐẦU CỦA NGƯỜI BIÊN TẬP
Tháng
hai năm 1990, hơn một trăm Phật tử từ nhiều nơi trên
thế giới tập trung vềûhọc ở tu viện có tên Root
Institute, một trung tâm Phật giáo trong thành cổ Bồ Đề Đạo
Tràng, Ấn độ, nơi mà Đức Phật đã thành tựu Chánh Giác
cách đây 2500 năm. Lớp học là một cái lều rộng trang hoàng
nhiều màu sắc được dựng lên trên nền đất của tu viện
ngày xưa.
Khóa
học này là một phần hoạt động định kỳ của các khóa
giảng giáo lý và lễ quán đảnh có tên “Kỷ niệm sự
thành tựu giác ngộ lần thứ ba” do Tổ chức Bảo tồn
Truyền thống Phật giáo Đại thừa (viết tắt FPMT) lập ra.
Từ
ngày 16 đến ngày 25 tháng hai năm 1990, Lama Thubten Zopa Rinpoche
(từ đây trở đi, từ “Rinpoche” chỉ cho Lama Zopa-ND), người
lãnh đạo tinh thần của FPMT, đã giảng về “những giáo
huấn của truyền thống Kadampa”; khóa học có mười bài
giảng dựa theo tác phẩm Khai mở Cánh cửa Pháp do vị
hành giả du già Tây tạng Lodro Gyaltsen trước tác vào thế
kỷ 15.
Rinpoche
đã gây ngạc nhiên cho các đệ tử đang theo học khi tuyên
bố rằng vào cuối những năm hai mươi tuổi sau khi đọc tác
phẩm đó, Rinpoche mới hiểu được ý nghĩa chân thật của
việc tu tập Pháp. Họ ngạc nhiên bởi vì qua nhiều năm theo
học với Rinpoche và thông qua uy tín của ngài, các đệ tử
hiện diện trong khóa học, bằng kinh nghiệm, đã biết rằng
Rinpoche từng giây phút đã và đang hiến dâng cuộc đời mình
cho Pháp, cho việc tu tập tâm linh; đồng thời họ cũng biết
rằng Rinpoche là một tấm gương hoàn hảo của một hành giả
tu tập Pháp. Như vậy rõ ràng, có một nhân duyên đặc biệt
để được nghe khóa giảng này.
Như
Rinpoche thuật lại trong phần dẫn nhập, ngài sinh năm1946 trong
vùng Solu Khumbu nước Nepal gần núi Everest. Theo lời kể lại
của mẹ ngài, khi bắt đầu biết nói Rinpoche thường bảo:
“tôi là Lawudo Lama”. Lawudo Lama có tên thật là Kunsang Yeshe
đã mất năm 1945; ông nổi tiếng là một hành giả khổ hạnh
và đạt giác ngộ rất cao. Trong hai mươi năm cuối đời,
ông đã sống và thiền định trong một hang động ở Lawudo,
và là người dẫn dắt tâm linh cho dân cư địa phương. Đặc
biệt ông đã phụng sự dân làng với một năng lực vô tận
và cũng như các đại hành giả du già, ông đã vượt qua được
nhu cầu nghỉ ngủ.
Trên
thực tế, bé trai đã được thừa nhận là vị tái sinh của
Lawudo Lama. Ngawang Chopel,đệ tử chính của Lawudo Lama, theo truyền
thống, đã đến tham vấn nhiều Lama cao cấp ở Tây tạng,
tất cả đều đồng ý xác nhận vị tái sinh này. Thêm nữa,
Lama Zopa Rinpoche đã chỉ trúng các vật dụng cũ của Lawudo
Lama đã dùng.
Trong
phần dẫn nhập, Rinpoche kể cho chúng ta nghe về thời niên
thiếu của ngài. Đầu tiên, Rinpoche ở tại tu viện Thami,
về sau tại Rolwaling, Nepal và cuối cùng đi đến Tây tạng,
ở tu viện của Doma Geshe Rinpoche xứ Pagri. Lawudo Lama là một
hành giả cư sĩ thuộc truyền thống Nyingma, trái lại khi Lama
Zopa Rinpoche đến ở tu viện Domo Geshe, Rinpoche lần đầu tiếp
xúc với truyền thống Gelug và trở thành một tu sĩ. Vị Hộ
Pháp ở tu viện cũng xác nhận Rinpoche là một Lama tái sinh
và đã cho những chỉ giáo để nuôi dạy ngài.
Sau
ba năm ở Pagri, Rinpoche quyết định đi đến tu viện Sera,
một trong những trường đại học Phật giáo nổi tiếng của
Gelug ở gần Lhasa để tiếp tục tu học. Tuy nhiên vị Hộ
Pháp bất ngờ khuyên Rinpoche đừng đi và nên ẩn tu thiền
định.
Như
Rinpoche kể lại, khi nghe tin người Trung Hoa sắp đến
vùng Pagri, Rinpoche bỏ đi đến nước Bhutan rồi sang Ấn
Độ, tới Buxa Duar ở miền Tây Bengal. Rinpoche ở lại đây
tám năm, tiếp tục tu học với hàng trăm Lama, các tăng, và
ni sư di cư sang, sống trong một trại tập trung của người
Anh lập nên trước đây.
Chính
trong lúc này, Rinpoche được Lama Thubten Yeshe thuộc Tu viện
Sera, quan tâm chăm sóc và từ đó Rinpoche luôn luôn là đệ
tử tâm huyết cho đến khi Lama Yeshe mất vào năm 1984. Khi Lama
Yeshe mất, Rinpoche đã nói: “Lama Yeshe đối với tôi còn hơn
một người cha, hơn một người mẹ”, “Lama Yeshe đã chăm
sóc tôi như gà mẹ dùng mỏ mớm thức ăn cho con”.
Ròng
rã suốt hai mươi năm sau đó, hai vị Lama này đã có những
tác động rất lớn lao đến thế giới phương tây, thu hút
hàng ngàn đệ tử nhờ vào năng lực giảng dạy cũng như
lòng từ bi bao la; các ngài miệt mài họat động vì lợi ích
người khác.
Năm1965
khi Rinpoche bị đau phổi đang điều dưỡng ở Darjeeling, hai
Lama đã gặp Zina Rachevsky, đệ tử đầu tiên của họ từ
Mỹ đến. Là con gái một nhà quí tộc Ukraina trốn sang Pháp
trong thời cách mạng Nga; cô Zina bắt đầu nhận sự giảng
dạy từ Lama Yeshe và Rinpoche với vốn liếng tiếng Anh mới
học, làm thông dịch cho cô ta.Từ đó về sau, cả hai Lama
đã đặc biệt dạy Pháp cho các đệ tử phương Tây bằng
tiếng Anh.
Vào
năm 1968, lúc đó Zina đã xuất gia, họ cùng chuyển tới Nepal.
Và chính ở Nepal sự nối kết của hai vị Lama với các đệ
tử phương Tây bắt đầu phát triển mạnh. Trước tiên, họ
ở Baudhanath ngay ngoài thành Kathmandu, nơi có một cái tháp
Phật cổ. Theo như Rinpoche kể lại “mỗi ngày từ cửa sổ,
Lama Yeshe đưa mắt nhìn ra xa tới ngọn đồi phía bắc, bên
kia những đám ruộng bậc thang dưới thung lũng. Ngài dường
như bị ngọn đồi thu hút và vào một ngày nọ chúng tôi
ra khỏi nhà đi đến tận ngọn đồi đó để xem xét. Đó
là đồi Kopan”.
Đồi
Kopan trước kia là nơi ở của nhà chiêm tinh của Vua Nepal,
và năm 1969 hai vị Lama dời đến đó ở. Năm sau, nhận lời
mời của thân quyến, Rinpoche trở về thăm Solu Khumbu và trong
thời gian này, người con trai của Lawudo Lama trao lại cho Rinpoche
hang động Lawudo cùng các đồ dùng trước đây của cha mình.
Cũng chính trong thời gian này, Rinpoche mới hoàn thành được
tâm nguyện của Lawudo Lama là lập một tu viện cho
con em trong vùng. Rinpoche đặt tên ngôi trường là “Trung tâm
Mount Everest”.
Năm
1971, Rinpoche ban bài giảng đầu tiên cho một nhóm mười hai
đệ tử phương Tây – một bài giảng sâu sắc về thiền
định và triết lý Phật giáo. Chính lần giảng dạy đầu
tiên này mà sau đó đã trở thành sự kiện mang tính thông
lệ hàng năm và thu hút hàng trăm người tham dự từ
nhiều nơi trên thế giới.
Chán
ngán xu hướng tôn sùng vật chất, thiếu thốn một điều
gì có thể phù hợp cho những khao khát nội tâm, những người
phương Tây đã tìm đến đây và đã cảm xúc sâu xa bởi
những phương pháp của Phật giáo Đại thừa tràn đầy lòng
từ bi và minh triết, thực tiễn. Đó không phải là những
ngôn từ trống rỗng mà là một truyền thống giáo lý và
những thực hành thiền định sống động, một dòng truyền
thừa từ thầy sang trò không gián đoạn, xuất phát từ Đức
Phật truyền cho tới ngày nay. Các phương pháp đó có hiệu
quả rõ rệt, lấy bằng chứng cụ thể từ việc sống cùng
với các Lama, lắng nghe họ giảng, cũng như làm theo những
lời chỉ dạy dành riêng cho mình hay để ý tới những hành
động của các Lama khi ở cùng người khác. Đây là những
phương pháp thể hiện rất sống động về sự nhẫn nại,
ưu ái, hài hước, uyên bác, hoan hỉ, tràn đầy lòng thương
yêu.
Đáp
lại yêu cầu của các đệ tử phương Tây mỗi lúc một nhiều,
các Lama đã đi phương Tây lần đầu vào năm 1974. Họ đến
nước Mỹ, Úc, New Zealand và chặng dừng chân đầu tiên là
ở New York. Rinpoche nói: “Chuyến đi không gây ngạc nhiên
cho tôi lắm vì tôi đã không thấy lạ đối với những nơi
ấy nhờ vào việc học tiếng Anh từ tạp chí Times, và gặp
nhiều người phương Tây trẻ có, già có, nghe họ nói về
kinh nghiệm sống của họ ở đó”.
Sau
các chuyến đi của hai Lama, các đệ tử ở nhiều quốc gia
bắt đầu thành lập các trung tâm giảng Pháp và Thiền định,
và vào năm 1975 khi mạng lưới các trung tâm này đủ lớn
mạnh, Lama Yeshe quyết định đặt tên cho hệ thống này là
Tổ chức Bảo tồn Truyền thống Phật giáo Đại thừa (viết
tắt FPMT). Kopan là đầu mối của tổ chức này. Mỗi năm
Rinpoche mở lớp giảng được gọi là “Khóa giảng tháng
mười một”. Số lượng trung tâm tăng không ngừng, và hàng
năm các Lama từ Kopan đi đến các trung tâm trên thế
giới, đáp ứng những lời mời thỉnh giảng dạy càng lúc
càng tăng.
Giờ
đây “Trung tâm Mount Everest” đã dời từ núi xuống thung
lũng Kathmandu ở Kopan, cơ sở này tiếp tục mở rộng thêm
để phục vụ việc tu tập cho người Sherpas, Manangpas, Tsumpas
và cho nhiều người khác nữa ở Nepal cũng như cho những người
Tây tạng.
Năm
1973 Zina Rachevsky bị bệnh và chết giữa lúc đang ẩn tu thiền
định. Theo như Rinpoche nói, có những dấu hiệu lúc Zina mất
cho thấy ni sư đã thành tựu những chứng ngộ tâm
linh.
Một
năm sau, khi về thăm lại hang động Lawudo, Rinpoche bắt gặp
cuốn sách giáo lý mà nó được làm nền tảng cho tác phẩm
này. Cuốn sách đó đã khiến Rinpoche nói rằng chỉ sau khi
đọc nó, Rinpoche mới tìm ra được “phương cách tu tập
Pháp”.
Nội
dung cuốn sách như thế nào mà khiến Rinpoche, một hành giảvĩ
đại, đã nói như vậy? Như Rinpoche có giải thích, Khai mở
Cánh cửa Pháp (tên cuốn sách-ND) là “thực hành đầu tiên
bạn phải áp dụng nếu bạn muốn tu tập Pháp”.
Như
Rinpoche xác định ngay từ đầu và cũng như trong suốt tác
phẩm này, điểm chủ yếu là: một thực hành được coi là
tu tập tâm linh hay không, không phải được xác định bằng
hình thức tu tập như Thiền định, cầu nguyện hay tụng kinh,
trì chú mà phải được xác định bằng động cơ (tâm
nguyện) muốn tu tập. Rinpoche chỉ rõ cái gọi là hoạt động
tâm linh có thể không phải là hành động tu tập Pháp, nói
cách khác, nó không đem tới một quả vịû thiện hạnh nếu
nó được thúc đẩy bởi ham muốn, gắn với những thành
đạt tầm thường của đời sống thế tục này.
Ngược
lại ngay cả cái gọi là một hoạt động thế tục có thể
sẽ là sự tu tập Pháp nếu nó được thúc đẩy bởi một
động cơ vì mục tiêu lớn rộng hơn, lâu dài hơn.
Theo
quan điểm của Phật giáo Đại thừa, động cơ của một
hành động được coi lớn nhất là ước muốn thành tựu
giác ngộ để dẫn dắt người khác đạt tới trí tuệ và
đại bi tối thượng. Tiêu điểm này là độc nhất vô nhị
của Đại thừa, con đường của các Bồ Tát – các vị có
được tâm giác ngộ, bồ đề tâm không cần dụng công (mặc
nhiên tự phát) ; nói cách khác, một động cơ Đại thừa
tự nhiên và liên tục tự phát. Lamrim – đường đạo từng
bước đưa tới giác ngộ – đã vạch rõ những phương pháp
khác nhau để thành tựu bồ đề tâm. Giáo lý này bao gồm
những phép tu từng bước, rút từ các lời dạy của Đức
Phật, lần đầu tiên được Lama Atisha vĩ đại giảng dạy
ở Tây tạng vào thế kỷ mười một.
Một
phương pháp rất hữu hiệu khác nữa để phát triển bồ
đề tâm là làm theo một loạt các lời dạy và thiền định,
được gọi là chuyển hóa suy nghĩ hay luyện tâm (tiếng Tạng:
lo-jong). Phương pháp này đặc biệt nhấn mạnh sự tu tập
trao đổi mình với người, nói cách khác, yêu thương chăm
sóc người khác thay vì nuông chiều bản thân mình.
Nói
chung, hành giả học sử dụng từng giây phút của cuộc sống
– dù đang được sung sướng hay bất hạnh – để phá hủy
chướng ngại lớn nhất của bồ đề tâm, đó là thói quen
chỉ biết có mình, chỉ biết lo cho mình.
Trong
tác phẩm Giải thoát trong Lòng Bàn tay, Pabongka Dechen Nyingpo
giải thích rằng:
Phép
chuyển hóa suy nghĩ (lo-jong) có thể xua tan bóng tối của vị
kỷ (nuông chiều mình – ND), giống như một tia sáng có thể
xua tan đêm đen. Nó có thể trừ khử căn bệnh vị kỷ giống
như thảo dược có thể trị lành bệnh tật. Trong thời
đại ngày nay khi năm thứ suy đồi đang rất phổ biến và
các phép tu khác không hiệu quả thì phép luyện tâm này
(lo jong) sẽ giúp được cho bạn và bạn sẽ không bị các
nghịch cảnh gây trở ngại. Phép tu này có tác dụng rất
to lớn.(trang 588-589)
Phép
luyện tâm này được dạy đầu tiên vào thế kỷ thứ tám
bởi Shantideva, vị đạo sư Đại thừa ở Ấn Độ; ngài khuyên
các hành giả du già thực hành phép tu tập này một cách bí
mật bởi vì, như Pabongka Dechen Nyingpo nói, chúng không “làm
hài lòng một bình chứa không thích hợp”.
Chính
Đại sư Atisha đã đem giáo lý này đến Tây tạng và bí mật
trao truyền cho Dromtonpa, đệ tử ruột của ngài. Và từ đó
bắt đầu giòng truyền thừa Kadampa vĩ đại gồm các vị
du già nổi tiếng trong phép tu tập chuyển hóa suy nghĩ (lo-jong).
Và ngày nay các du già Đại thừa áp dụng phép tu tập này
trong các khóa thiền chính.
Luận
giảng Khai mở Cánh cửa Pháp thuộc truyền thống Kadampa
này. Cuốn sách chủ yếu nhấn mạnh đến nhược điểm của
sự ham muốn, đến vô thường và cái chết. Những điều
này là “những thực hành đầu tiên nếu bạn muốn tu tập
Pháp”, bởi vì, thực tế mà nói, một khi thấy được rằng
liền sau ham muốn có nhân của đau khổ, bạn mới có
khả năng tu tập và cuối cùng bạn mới có thể hoán đổi
mình với người khác để phát triển bồ đề tâm.
Với
cuốn sách “Cánh cửa Mãn nguyện” này, Lama Zopa Rinpoche đã
sử dụng những lý lẽ mạnh mẽ, xác thực, nêu ra cho người
đọc thấy rằng, bằng việc thực hành những phương pháp
này và bằng sự nhận biết không có cái tôi để nuông chiều,
chúng ta có thể phát hiện được sự mãn nguyện và sự hạnh
phúc của mình ỏ mức sâu sắc nhất, tức là sự giác ngộ,
và từ đó chúng ta có thể dẫn dắt người khác đạt tới
trạng thái giác ngộ viên mãn.
Đây
là lời khuyên tâm huyết, cốt lõi trong những bài giảng của
Rinpoche từ khi ngài ban cho khóa thiền định đầu tiên năm
1971. Rinpoche là một Kadampa trong thời hiện đại. Ngài là
một tấm gương điển hình hoàn hảo về những lời giảng
mà ngài đã dạy và ngài đã không ngừng yêu thương chăm
sóc người khác hơn là bản thân mình.
Từ
khi người thầy kính yêu của ngài là Lama Yeshe qua đời vào
năm 1984, Lama Zopa Rinpoche là vị Lãnh đạo Tinh thần duy nhất
của FPMT. Tổ chức này tiếp tục phát triển ở nhiều nước,
có hơn bảy mươi trung tâm thiền định, nhập thất, chữa
bệnh cũng như những tu viện, nhà xuất bản và các hoạt
động khác nữa trên mười bảy quốc gia.
Kopan
đang phát triển mạnh. Trung tâm Mount Everest giờ đây là nhà
của hơn 250 tăng ni đang theo học giáo lý Phật theo cách
thức tu viện truyền thống.
Rinpoche
không ngừng đi nhiều nơi trong thế giới (mandala) của Ngài,
giảng dạy và dẫn dắt hàng ngàn đệ tử. Đặc biệt nhất
trong số các đệ tử mà Rinpoche đang dẫn dắt có Lama Tenzin
Osel Rinpoche, sinh năm 1985 ở Tây Ban Nha, được đức H.H.Dalai
Lama chính thức thừa nhận là vị tái sinh của Lama Thubten
Yeshe. Giờ đây đến lượt Lama Zopa là “còn hơn một người
cha, hơn một người mẹ”. Rinpoche chăm lo dạy dỗ vị Lama
trẻ này từng giây từng phút, chuẩn bị cho Lama trẻ này
có thể đảm đương một khối lượng rất lớn các hoạt
động Phật Pháp với tư cách là Lama Yeshe.
Chúng
tôi chân thành biết ơn Merry Colony, Alfred Leyens, Connie Miller,
Paula Chichester và Roger Munro đã đóng góp cho cuốn sách này
được xuất bản. Xin cầu nguyện cho những ai đọc Cánh cửa
Mãn nguyện nhanh chóng nhận ra tiềm năng tự tại, đạt tới
hạnh phúc tối thượng.
09-07-04:34:12