PHỤ
LỤC 33 VỊ TỔ
77.
ƯU BA CÚC ÐA
Duyên
khởi Vua A Dục tạo tháp
Quốc
vương Tần Ðầu Bà La, vua nước Ba Liên Phất Ấp, sanh người
con tên A Dục (Vô Ưu), thân hình thô xấu, khó coi. Khi vua láng
giềng là Hằng Hưu Thi La làm phản, trong các người con, vua
chỉ chọn A Dục đi chinh phạt nhưng cấp binh giáp hư nát
và vài chục quân. Tùy tùng lo lắng thì A Dục cười nói:-
Nếu ta có mạng làm vua thì tự nhiên sẽ có người đến
giúp.
Vừa
nói xong, binh giáp dưới đất bỗng vọt lên. A Dục liền
đem quân đi đánh giặc. Dân chúng nước kia nghe trên không
trung có tiếng truyền:
- Vương
từ A Dục sẽ làm vua cõi này, các ngươi chớ dấy nghịch.
Do
đó, các nước đều được bình định đến sát bờ biển.
Lúc ấy, vua cha ngọa bệnh, quần thần bèn phò A Dục đến,
muốn lập làm vua. Vua Tần Ðầu Bà La nghe được chẳng vui
liền băng hà. A Dục nghĩ thầm:
- Ta
xứng đáng làm vua thì chư Thiên tự nhiên sẽ làm lễ quán
đảnh cho ta, lấy lụa trắng quấn đầu.
Nghĩ
xong có thiết luân bay đến, A Dục làm vua Diêm Phù Ðề thống
lãnh một thiên hạ. Vua theo phép tắc chôn cha rồi tức vị,
A Dật Lâu Ðà làm đại thần. Khi ấy quần thần tự đem
thẻ đến lập công, sanh tâm cao ngạo. Vua biết ý liền ra
lệnh chặt những cây có hoa quả và trồng gai góc. Ra lệnh
ba lần mà quần thần không theo, vua liền cầm gươm giết
hết. A Dật Lâu Ðà khuyên vua: Nên lập người đao phủ. Khi
đó có một người hung ác tên Lê Tử, tự khoe khả năng.
Vua bèn lập một căn nhà chỉ mở một cửa, trong bày cách
thức trị tội giống như địa ngục. Ðao phủ tâu vua:
- Nếu
ai bước chân vào đây thì không cho ra.
Vua
bằng lòng.
Một
hôm có con một thương gia, chán khổ thế gian, xuất gia học
đạo, rồi đi du hành qua các nước, lần lượt khất thực
và bước lầm vào căn nhà ấy. Vị sa môn trông thấy trong
nhà có xe lửa, lò than ... sợ hãi, dựng tóc gáy vội vàng
quay ra, nhưng bị đao phủ chận lại và đón bắt. Vị Tỳ
kheo trong lòng thương tiếc hối hận, mắt đẫm lệ van nài
được gia hạn sống thêm một tháng để tu nhưng đao phủ
không cho. Nằn nì cho đến còn bảy ngày thì ông ta bằng lòng.
Tỳ kheo bèn nổ lực tinh tấn, tọa thiền, ngưng tâm. Ðến
ngày thứ bảy, thì gặp lúc vua đem cung nữ tống vào giao
cho đao phủ. Ðao phủ bèn cô ta bỏ vào cối, lấy chày giã,
phút chốc thịt nát xương tan. Tỳ kheo trông thấy chán ghét
cùng cực biết rằng thân mình chẳng còn bao lâu cũng sẽ
như thế; ông dứt hết mọi kiết sử thành bậc A La Hán.
Khi ấy, đao phủ bào ngài rằng:
- Kỳ
hạn đã hết.
Tỳ
kheo đáp:
- Tâm
tôi được giải thoát, đã đoạn trừ hết các hữu. Nay thân
hình này chẳng còn tiếc nuối.
Ðao
phủ liền nắm Tỳ kheo quăng vào chảo dầu sắt, sai người
đốt lửa. Lửa chẳng nóng. Ông ta liền tự tay đốt lửa
phừng phừng lên. Rồi mở nắp chảo, thấy vị Tỳ kheo kia
đang ngồi trên hoa sen. Ông ta thấy việc lạ liền báo nhà
vua. Vua liền dẫn mọi người đến xem. Tỳ kheo bay lên không
trung như cánh nhạn chúa rồi làm đủ phép biến hóa, hướng
về nhà vua nói kệ:
Tôi
là đệ tử Phật
Ðược
các lậu đã dứt
Sanh
tử khủng bố lớn
Nay
tôi đã thoát được.
Vua
A Dục nghe xong, sanh lòng kính tín đối với Phật, bạch Tỳ
kheo rằng:
- Lúc
Phật chưa diệt độ, có thọ ký điều gì chăng?
Tỳ
kheo đáp:
- Phật
thọ ký: "Sau khi ta diệt độ hơn một trăm năm, ở nước
Ba Liên Phất Ấp có ba ức nhà. Vua nước ấy tên A Dục, sẽ
làm Chuyển Luân Vương cõi Diêm Phù, dùng chánh pháp cai tri,
sau lại phân chia xá lợi của ta, lập 84,000 tháp khắp cõi
Diêm Phù Ðề". Nay vua tạo địa ngục này, giết hại vô lượng.
Nên vâng theo lời Phật thọ ký, y pháp tu hành.
Vua
A Dục chắp tay làm lễ:
- Tôi
mắc tội lớn, cúi mong Phật tử cho tôi sám hối, chớ trách
móc sự ngu si của tôi.
Tỳ
kheo độ vua A Dục xong theo hư không mà đi. Khi ấy, vua muốn
bước ra khỏi căn nhà, đao phủ chặn lại. Vua nói:
- Ngươi
muốn giết ta chăng?
- Ðúng
thế.
Vua
bảo:
- Ai
vào đây trước?
- Tôi.
Vua
nói:
- Nếu
vậy, người phải chết trước. Rồi sai tả hữu bắt đao
phủ bỏ trong bồn keo, lấy lửa đốt và sai phá địa ngục
này, khiến mọi người nhẹ nhõm. Vua đến thành Vương Xá
đem xá lợi trong tháp Phật làm 84,000 hòm vàng, bạc, lưu ly,
pha lê, lại làm bình báu, sai các quỷ thần tạo 84,000 tháp.
Tôn giả Da Xá duỗi tay phóng 84,000 tia sáng, sai quỷ "mau lẹ"
đặt khắp thôn xóm, thành ấp ở Diêm Phù Ðề cứ mỗi ức
nhà đặt một tháp. Ở nước Chấn Ðán (Trung Hoa) có 19 tháp.
Xưa,
Thế Tôn cùng các tỳ kheo đi theo thôn xóm khất thực, giữa
đường gặp hai đứa bé, một tên Xà Da, một tên Tỳ Xà
Da đang nghịch cát chơi. Từ xa trông thấy Thế Tôn, đầy
đủ ba mươi hai tướng trang nghiêm. Xà Da nghĩ thầm:
- Ta
nên đem bột miến cúng Phật.
Rồi
bền lấy tay vốc cát bỏ vào bình bát của Thế Tôn. Tỳ
Xà Da cũng chắp tay tùy hỷ. Chú bé phát nguyện:
- Do
công đức căn lành bố thí này xin được làm vua một thiên
hạ, và ngay đời này được cúng dường chư Phật.
Thế
Tôn mỉm cười bảo A Nan:
- Sau
khi ta diệt độ một trăm năm. Ðứa bé này ở nước Ba Liên
Phất Ấp làm Chuyển Luân Vương thống lãnh một thiên hạ,
họ Khổng Tước, tên A Dục, dùng chánh pháp trị dân. Rồi
lại phân phát xá lợi của ta, tạo 84,000 tháp. A Nan, ông đem
cát trong bát này rải chỗ kinh hành của Như Lai. A Nan vâng
theo lời Phật dạy.
Vua
A DỤC tham lễ ƯU BA CÚC ÐA
Nước
Ba Liên Phất Ấp có Thượng tọa tên Da Xá, vua A Dục rất
kính lễ, lập tịnh xá Kê Tước, thỉnh Da Xá trụ trì. Ðến
khi ấy, lại đến Kê Tước bạch Da Xá rằng:
- Có
Tỳ kheo nào được Phật thọ ký để làm Phật sự không?
Tôi sẽ đến đấy cúng dường, cung kính.
Da
Xá đáp:
- Lúc
Phật Bát Niết Bàn, du hành đến nước Ma Thâu La, bải ngài
A Nan: "Sau khi ta Bát Niết Bàn một trăm năm, sẽ có con trưởng
giả tên Ưu Ba Cúc Ða xuất gia học đạo, hiệu là Vô Tướng
Phật.
Vua
hỏi:
- Vậy
đã xuất thế chưa?
Ðáp:
- Ðã
xuất thế rồi, đang ở trong núi Ưu Bàn Trà.
Vua
nghe xong liền muốn đến đó mới sai sứ giả báo trước.
Ngài Ưu Ba Cúc Ða nghĩ, nếu vua đến thì thị tùng đi theo
sẽ sát hại vô số côn trùng. Nên đáp sứ giả:
- Tôi
sẽ tự đến chỗ vua.
Ưu
Ba Cúc Ða đi đến vương cung, vua rất vui mừng đến trước
Tôn giả cúi lạy, quì gối, chắp tay thưa:
- Nay
con thống lãnh cõi Diêm Phù Ðề, làm Chuyển Luân Vương cũng
chẳng vui bằng gặp Tôn giả, như được gặp Phật, sung sướng
vô cùng. Ðệ tử Như Lai có khả năng như thế.
Vua
lại hỏi:
- Tôn
giả nhan mạo đoan chánh còn tôi hình dung thô xấu. Vì sao
vậy?
Ngài
Ưu Ba Cúc Ða nói kệ:
Lúc
tôi hành bố thí
Tâm
sạch, tài vật tốt
Chẳng
như vua bố thí
Ðem
cát cúng cho Phật.
Vua
lại bạch:
- Xin
Tôn giả chỉ cho chỗ Phật thuyết pháp, du hành và Phật thọ
ký chỗ tháp các đại đệ tử nên lễ bái cúng dường.
Ưu
Ba Cúc Ða đáp:
- Lành
thay, lành thay!
Và
dẫn vua đến các nơi ấy, chỉ từng chỗ một. Vua cúng dường
xong, đến tháp A Nan, Tôn giả nói:
- Vị
này là thị giả Phật, đa văn bậc nhất, tuyển tập kinh
Phật.
Vua
bèn truyền đem trăm ức trân bảo cúng dường tháp này và
bảo quần thần rằng:
- Thân
thể của Như Lai, tánh pháp thanh tịnh, Ngài đều có thể
phụng trì, nên cúng dường nhiều hơn. Ngọn đèn chánh pháp
thường còn ở đời, tiêu diệt sự ngu si tăm tối này, đều
do từ Ngài mà ra, nên ta cúng dường nhiều hơn.
Vua
lại đến dưới cây Bồ đề, tay bưng lò hương, hướng bốn
phương làm lễ mong các bậc đệ tử hiền thánh của Như
Lai ở các phương đều đến tụ hội. Khi ấy có ba vạn A
La Hán tề tựu. Vua thấy tại tòa thứ nhất không có người,
bèn hỏi lý do. Tôn giả Hải Ý nói:
- Ðây
là chỗ dành cho ngài Tân Ðầu Lô. Vị này đã đích thân
gặp Phật. Vua hỏi:
- Nay
ở đâu?
Hải
Ý nói:
- Hãy
đợi chốc lát.
Nói
xong ngài Tân Ðầu Lô từ hư không hạ xuống. Vua mời đến
tòa ngồi và đảnh lễ. Ngài chẳng thèm nhìn. Vua bèn hỏi:
- Con
nghe nói Tôn giả thân thấy Phật đến phải chăng?
Ngài
Tân Ðầu Lô lấy tay vén lông mi lên hỏi:
- Hội
chăng?
Vua
đáp:
- Chẳng
hội.
- Long
vương ao A Nậu Ðạt từng thỉnh Phật thọ trai, lúc ấy tôi
cũng dự trong số đó.
Ưu
Ba Cúc Ða nhân một hôm đến nhà một lão Tỳ kheo ni vừa
vào cửa liền đụng bể bát. Tỳ kheo ni nói:
- Lục
quần Tỳ kheo hạnh rất thô, mấy lần đến nhà tôi, cũng
chưa hề như vậy. Tôn giả nối vị Tổ sao hạnh thô thế!
Cúc
Ða bèn thối đi.
Có
người chấp thân kiến, cầu ngài Ưu Ba Cúc Ða độ cho. Ngài
bảo:
- Pháp
cầu độ cần phải tin lời ta, không được trái lời ta dạy.
Người
ấy đáp:
- Ðã
đến với Thầy, cố nhiên phải vâng lời.
Ngài
bèn hóa ra một cây cao vút bên triền núi hiểm trở, bảo
người ấy leo lên cây. Rồi dưới gốc cây, hóa ra một hầm
lớn, sâu rộng ngàn khuỷu. Ngài bảo ông ta buông chân, ông
ta vâng lời buông hai chân. Ngài khiến buông một tay. Ông ta
đáp:
- Nếu
buông tay nữa, rớt xuống hầm chết.
Ngài
nói:
- Trước
đã giao ước thọ giáo, sao lại trái ý ta?
Khi
ấy người kia sự yêu mến thân liền tiêu diệt, ông ta buông
tay rơi xuống. Chẳng còn thấy cây, thấy hầm, bèn chứng
đạo quả.
78.
PHỤC ÐÀ NAN ÐỀ
Gặp
Nan Sanh (Hiếp Tôn giả). Ngày xuất gia, ánh sáng lành chiếu
chỗ ngồi có hai mươi mốt viên xá lợi hiện lên.
79.
HIẾP TÔN GIẢ
Phía
Bắc Thiên Trúc có Vô Trước xiển dương tông giáo, em là
Thiên Thân. Ban đầu người em theo Tiểu thừa, làm luận năm
trăm bộ. Vô Trước thấy em căn duyên sắp thuần thục, bèn
giả bệnh kêu đến. Khi gần tới, Ngài sai một đệ tử đi
rước. Ðêm cùng ngủ trong quán trọ, đệ tử tụng kệ:
Nhược
nhơn dục liễu tri
Tam
thế nhất thế Phật
Ưng
quán pháp giới tánh
Nhất
thiết duy tâm tạo.
Thiên
Thân nghe, hoát nhiên khai ngộ, hối hận tội đã bài xích
Ðại thừa khi xưa đều do lưỡi tạo. Liền ngồi dậy lấy
dao bén định cắt lưỡi.
Ngài
Vô Trước biết được, duỗi cánh tay, nắm lại dỗ ràng:
- Em
vì ngộ Ðại thừa vì thời tiết đến, xưa dùng lưỡi hủy
báng, nay nên dùng lưỡi tán thán. Nếu cắt lưỡi đi, thì
còn lợi gì?
Thiên
Thân bèn thôi, đội sao mà đi. Ðến chỗ ngài Vô Trước,
lắng nghe từ chỉ rồi tạo luận Ðại thừa năm trăm bộ.
Người đời gọi là Luận Sư Ngàn Bộ.
Một
hôm Vô Trước nhập Pháp Quang định, ban đêm lên cung trời
Ðâu Suất thỉnh vấn Bồ tát Di Lặc về nghĩa kinh Kim Cang.
Ngài Di Lặc bèn thuyết tám mươi bài tụng, ngài Vô Trước
phân mười tám trụ xứ, tạo luận hai quyển. Thiên Thân ước
đoán hai mươi bảy nghi, tạo ba quyển luận. Thiên Thân lại
giảng Bà Sa Luận cho chúng, đem bài giảng mỗi ngày làm một
bài tụng nhiếp hết nghĩa. Lại đi khắp các nước, các luận
sư các nơi không thể hiểu nổi. Do đó Ngài lại tự tạo
trường hàng để giải thích bài tụng tức Câu Xá Luận.
Một
hôm Thiên Thân từ nội cung của đức Di Lặc xuống. Vô Trước
hỏi rằng:
- Nhân
gian bốn trăm năm, trời kia chỉ có một ngày đêm. Ðức Di
Lặc ở trong một thời (giờ) thành tựu cho năm trăm ức Thiên
tử chứng Vô sanh pháp nhẫn, chưa rõ thuyết pháp gì?
Thiên
Thân nói:
- Cũng
chỉ thuyết pháp này. Chỉ là Phạm âm thanh nhã khiến người
ưa nghe.
80.
PHÚ NA DẠ XA
Tông
Cảnh Lục nói: "Tây Thiên trong núi Vân Ðà Sơn có một La
Hán tên Phú Lâu Na, Mã Minh đến gặp thấy ngồi yên trong
rừng, chí khí cao vời không sanh lường được, Mã Minh bảo:
- Sa
Môn thuyết pháp. Tôi có chỗ sáng tỏ muốn khuất phục ông.
Tôi nếu không hơn sẽ chặt đầu tạ lễ.
La
Hán làm thinh, mặt không lộ vẻ thua hay thắng; Mã Minh đến
gõ mấy cái cũng không trả lời. Mã Minh bèn lùi suy nghĩ:
- Ta
thua rồi! Ông ta đã thắng ta. Ông ta lặng thinh không nói,
ta không thể khuất phục được. Ta dùng lời nói, tuy như
lời có thể khuất phục mà tự ta chưa thể thoát khỏi lời.
Thật đáng xấu hổ.
Ngài
bèn xin xuất gia.
Thuyết
này cùng Truyền Ðăng không đồng.
81.
MÃ MINH
Dạ
Xa bảo chúng: "Ðại sĩ này xưa là vua nước Tỳ Xá Lợi,
vì nước ấy có một loại người khỏa thân, như ngựa lộ
hình. Vua vận thần thông, phân thân làm tằm, những người
ấy được áo mặc. Sau Ngài sanh vào Ấn Ðộ, Mã nhân cảm
luyến kêu thương, nên gọi là Mã Minh, sau thuyết pháp dẹp
các dị luận".
Có
một ngoại đạo đến đòi luận nghĩa, nhóm các quốc vương,
đại thần và bốn chúng tụ họp tại luận trường.
Mã
Minh nói:
- Nghĩa
của ông lấy gì làm tông?
Ngoại
đạo đáp:
- Hễ
có ngôn thuyết, tôi đều có thể phá.
Mã
Minh bèn chỉ quốc vương nói:
- Hiện
nay đất nước khang ninh, quốc vương trường thọ. Mời ông
phá đi!
Ngoại
đạo khuất phục.
82.
LONG THỌ
Ngài
được phó tháp, trong 90 ngày tụng thông kinh sách ở Diêm
Phù Ðề, lại nghĩ:
- Kinh
Phật cõi đời tuy diệu mà cú nghĩa chưa hết, ta nên phu diễn
thêm để khai ngộ người sau.
Ngài
liền dùng thần lực đến Long cung mở rương bảy báu lấy
kinh điển Phương Ðẳng trong 90 ngày thông hiểu rất nhiều.
Long Vương nói:
- Ngài
xem kinh hết chưa?
Ngài
đáp:
- Kinh
của ông vô lượng chẳng coi hết được. Chỗ tôi đạt đủ
gấp 10 lần ở Diêm Phù.
Long
Vương nói:
- Các
kinh trên trời Ðao Lợi hơn đây gấp trăm ngàn ức lần.
Ngài
ở Long Cung tu hành, thâm nhập vô sanh. Rồng đưa Ngài ra khỏi
cung, từ đây về sau Ngài hoằng dương Phật pháp rộng lớn,
tạo các luận Ðại vô úy ... mấy mươi vạn kệ (Trung Quán
Luận là một phẩm, Ðại Trí Ðộ Luận).
Kinh
nói:
Sau
khi Phật Niết Bàn,
Ðời
vị lai sẽ có
Tỳ
kheo Nam Thiên Trúc
Có
hiệu là Long Thọ
Hay
phá tông Hữu – Vô
Hiển
pháp Ðại thừa ta
Ðắc
sơ hoan hỷ địa
Vãng
sanh An Dưỡng Quốc.
Ngài
vào Long cung xem tạng kinh, thấy kinh Hoa Nghiêm có 3 bản.
Bản
thượng có 13 thế giới vi trần số kệ, 1 tứ thiên hạ vi
trần số phẩm.
Bản
trung có 498,800 bài kệ, 1,200 phẩm.
Bản
hạ có 100,000 bài kệ, 48 phẩm.
Bản
thượng chỉ có Phật mới biết được.
Bản
trung chỉ có Bồ tát trụ địa mới biết được. Ngài bèn
ghi chép bản hạ, trở về Ấn Ðộ. Ấn Ðộ truyền đến
Trung Hoa 80 quyển kinh, 39 phẩm. Phẩm chia ra làm bảy chỗ,
chín hội.
Hội
1: Ở Bồ Ðề đạo tràng thuyết 6 phẩm, 11 quyển, ngài Phổ
Hiền làm hội chủ.
Hội
2: Ở điện phổ Quang Minh thuyết 6 phẩm, 4 quyển, ngài Văn
Thù làm hội chủ.
Hội
3: Ở trời Ðao Lợi, thuyết 6 phẩm, 3 quyển, Pháp Huệ làm
hội chủ.
Hội
4: Ở trời Dạ Ma, thuyết 4 phẩm, 3 quyển, Công Ðức làm
hội chủ.
Hội
5. Ở trời Ðâu Suất, thuyết 3 phẩm, 12 quyển, Kim Cang Tràng
làm hội chủ.
Hội
6: Ở trời Tha Hóa, thuyết 1 phẩm, Kim Cang Tạng làm hội chủ.
Hội
7: Lại ở điện Phổ Quang Minh, thuyết 11 phẩm, 13 quyển.
Phổ Hiền và Như Lai. Phẩm Phổ Hiền nói về nhân bình đẳng,
phẩm Như Lai Xuất Hiện nói về quả bình đẳng.
Hội
8: Ba lần ở Phổ Quang Minh Ðiện, thuyết 1 phẩm, 7 quyển.
Cũng ngài Phổ Hiền làm hội chủ.
Hội
9: Trong rừng Thệ Ða thuyết 1 phẩm, 21 quyển, thì Như Lai
cùng Thiện hữu.
Ðây
là bản hạ, phần trước 3 vạn 6 ngàn kệ. Còn 6 vạn 4 ngàn
kệ, 9 phẩm ở Ấn Ðộ.
83.
CA NA ÐỀ BÀ
Ðề
Bà đắc pháp rồi, danh vang khắp nơi. Nhưng vẫn lo người
không tin lời mình. Khi ấy ở Thiên Trúc có thờ tượng Trời
Ðại Tự Tại, ai cầu gì được nấy.
Ðề
Bà đến miếu xem, vạn chúng đi theo vào. Quả nhiên tượng
trợn mắt như nổi giận. Ðề Bà nói:
- Thần
thì phải xứng là thần, sao lại nhỏ nhen thế! Chính đáng
là phải dùng oai linh để cảm hóa người, dùng trí đức
để dạy dỗ vật, chứ sao lại mượn vàng làm thân, pha lê
làm mắt để mê hoặc đời. Ðó chẳng phải chỗ người
trông mong.
Rồi
bắc thang vào vai tượng, leo lên đục con ngươi của tượng
ra. Người xem sanh nghi nói:
- Trời
Ðại Tự Tại lại bị một chú Bà Là Môn nhỏ bắt nạt
sao?
Ðề
Bà nói:
- Thần
minh cao xa nên lấy việc gần để thử tôi. Tôi được tâm
của Ngài nên mới dám làm thế.
Nói
xong, bày các thứ cúng dường. Ðêm ấy trời Ðại Tự tại
giáng xuống thọ nhận đồ cúng và nói:
- Ông
được tâm tôi, người được hình tôi. Ông đem tâm cúng,
người đem vật chất dâng. Người biết mà kính ta là ông.
Người sợ mà vu oan ta là mọi người. Nhưng ông tuy cúng rất
tốt đẹp, nhưng thiếu cái tôi cần.
Ðề
Bà nói:
- Thần
cần vật gì?
Trời
Ðại Tự Tại nói:
- Tôi
thiếu con mắt trái, cho ta được chăng?
Ðề
Bà cười, móc mắt mình đưa ra. Càng móc càng sanh hoài không
hết. Từ sáng đến chiều, mắt móc mấy vạn. Thần khen:
- Lành
thay, Ma nạp! Thật là bố thí cao thượng nhất. Ông muốn
cầu gì?
Ðề
Bà nói:
- Tôi
đã sáng tâm, không cần nhờ ở ngoài.
Sau
Ðề Bà đến thành Ba Liên Phất, nghe các ngoại đạo muốn
ngăn chướng Phật pháp, tính kế đã lâu. Ðề Bà bèn cầm
tràng phan vào trong chúng kia, họ bèn hỏi:
- Sao
ông không đi trước?
Ðề
Bà nói:
- Sao
ông không đi sau?
- Ông
hình như người bần tiện?
- Ông
giống người cao quý.
- Ông
hiểu pháp gì?
- Ông
trăm thứ chẳng hiểu.
- Tôi
muốn được Phật.
- Tôi
rõ ràng được Phật.
- Ông
đâu đáng được.
- Tôi
vốn đã được đạo, còn ông thực chẳng được.
- Ông
đã chẳng được, tại sao nói được?
Ðề
Bà nói:
- Ông
có ngã do đó chẳng được. Còn ta không ngã nên ta đáng được.
Họ
bèn chịu thua, hỏi Ðề Bà:
- Ông
tên gì?
- Tôi
tên Ca Na Ðề Bà.
Người
kia trước đã nghe tên Ðề Bà, bèn hối lỗi đến tạ tội.
Trong chúng còn thay nhau vấn nạn, Ðề Bà dùng biện tài vô
ngại chiết phục hết.
* Bên
Trung Hoa thời này nhằm đời Hán Cao Ðế năm Canh Thìn.
Hán
Vũ Ðế, niên hiệu Nguyên Thú năm thứ hai (121 trước Công
Nguyên). Tướng quân Phiêu Kỵ về phương Nam để dẹp Hung
Nô, khi qua Cư Duyên bắt vua Hưu Ðồ, được một người vàng
cao hơn một trượng. Vua cho là đại thần đặt ở cung Cam
Tuyền, không tế tự, chỉ đốt hương lễ bái mà thôi. Ở
đây đạo Phật lưu thông chậm.
84.
LA HẦU LA ÐA
La
Ða lấy tay phải nâng bát vàng lên đến Phạm cung lấy cơm
thơm về thiết trai đại chúng. Ðại chúng chợt đem tâm chán
ghét. La Ða nói:
- Chẳng
phải lỗi của ta, mà do nghiệp của các ông.
Rồi
bảo Nan Ðề cùng ăn, chúng lấy làm lạ, La Ða nói:
- Ông
chẳng ăn được đều do đây vậy. Nên biết người chia tòa
với ta tức là Phật thời quá khứ Ba La Thọ Vương, xót thương
loài người mà thị hiện. Bọn ông cũng ở trong kiếp Trang
nghiêm, đã chứng Tam quả mà chưa chứng vô lậu.
Chúng
nói:
- Thần
lực của thầy ta, điều này đáng tin. Còn nói ông ta là Phật
quá khứ thì chúng con trộm ngờ.
Nan
Ðề biết chúng sanh ngã mạn bèn nói:
- Thế
Tôn lúc tại thế, thế giới bằng phẳng, chẳng có gò nỗng,
sông suối, ngòi lạch, nước rất ngon ngọt, cây cối tươi
tốt, đất nước hưng thịnh. Không có tám khổ, hành mười
thiện. Từ khi ngài nhập diệt ở song thọ hơn 800 năm, thế
giới gò trống, cây cối khô héo. Người không có lòng tin,
chánh niệm nhỏ ít, chẳng tin chân như, chỉ thích thần lực.
Nói
xong lấy tay phải ấn xuống đất cho đến mé Kim Cương luân,
lấy nước cam lồ đựng vào bình lưu ly, đem vào hội. Ðại
chúng vừa thấy, tức thời khâm mộ, hối lỗi làm lễ.
85.
TĂNG GIÀ NAN ÐỀ
Ngài
khi phó chúc xong, tay phải vịn cây mà tịch. Ðại chúng bàn
luận:
- Quần
chúng quy tịch dưới gốc cây là điềm che mát cho người
sau.
Họ
định đem toàn thân lên đất cao, dựng tháp. Nhưng chúng dùng
toàn lực cũng không nâng lên được, bèn đem mấy voi tới
kéo cũng không động. Bèn thiêu thân ngay tại gốc cây, cay
càng thêm tươi tốt.
*
Niên
hiệu Hồng Gia năm thứ hai. Quang Lộc đại phu là Lưu Hướng,
tuyển truyện thần tiên, nói:
- Từ
Hoàng đế trở xuống đến nay. Người đắc tiên đạo được
149 người mà 74 người đã thấy kinh Phật.
Lại
nói:
- Xem
khắp sách vở, thường thường thấy có kinh Phật.
Niên
hiệu, Nguyên Thọ nguyên niên năm Kỷ Mùi (2 trước Công nguyên),
Cảnh Hiến đi sứ nước Ðại Thị Nguyệt trở về được
kinh Phù Ðồ, người đời ấy không ai biết.
86.
CƯU MA ÐA LA
Cưu
Ma Ða La là con Bà La Môn nước Ðại Nguyệt Thị, xưa là trời
Tự Tại Thiên Dục giới lục thiên, thấy Bồ tát Anh Lạc,
chợt khởi lòng tham ái, bị đọa xuống trời Ðao Lợi, nghe
Kiều Thi Ca thuyết Bát nhã Ba la mật, do được pháp thù thắng
nên lại sanh lên Phạm Thiên. Vì căn tánh lanh lợi, khéo thuyết
pháp yếu, chư thiên tôn làm Ðạo sư. Thời tiết kế tục
Tổ vị đến, Ngài giáng sanh nước Nguyệt Thị.
87.
BÀ TU BÀN ÐẦU
Xưa
Như Lai tu ở Tuyết Sơn có ổ Dã Thước ở trên đảnh. Phật
thành đạo rồi, Dã Thước thọ báo làm vua nước Na Ðề.
Phật thọ ký rằng:
- Ông
đến 1,000 năm sau sanh trong nhà Tỳ Xá Khư ở thành La Duyệt,
cùng một bào thai với Thánh.
Nay
quả không sai.
Sau
độ Ma Noa La con thứ hai vua nước Na Ðề. Trước, nước Na
Ðề có voi dữ làm hại, Noa La sanh thì voi ngừng, ba mươi
năm không ai biết lý do. Khi Tổ Bàn Ðầu thuật lại vua nghe
thì có sứ giả đến báo có 10,000 voi lớn đang phá thành,
vua lo lắng. Tổ nói đưa Ma Noa La ra thì yên. Vua thử sai Ma
Noa La ra. Ma Noa La ra đến cửa thành phía Nam, vỗ bụng hét
lớn, thành bị chấn động, bầy voi điên đảo, chạy tán
loạn. Lúc ấy dân chúng mới biết nước được an nổn là
nhờ Ma Noa La.
88.
MA NOA LA 1
Khi
được truyền kệ, bầy hạc bay lên vừa kêu vừa đi.
Ma
Noa vọt lên hư không làm 18 phép thần biến trở về tòa chỉ
xuống đất, phát ra một dòng suối thần. Ngài lại nói kệ:
Tâm
địa thanh tịnh tuyền
Năng
nhuận ư nhất thiết
Tùng
địa ư dõng xuất
Biến
mãn thập phương tế.
Hặc
Lặc Na vui vẻ kính vâng phụng hành.
Ngài
truyền pháp xong, ngay chỗ ngồi lặng lẽ thị tịch. Chúng
hỏa táng và lượm xá lợi xây tháp thờ.
Tháp
xá lợi có bốn mặt:
Trước:
Vua Thi Tỳ cắt đùi tặng ó để cứu bồ câu.
Sau:
Vua Từ Lực chích thân đốt đèn.
Trái:
Thái tử Tát Ðỏa nhào xuống bờ vực để hổ ăn thịt.
Phải:
Vua Nguyệt Quang thí bỏ đầu báu, đều là tiền thân của
Phật.
1 Xin
xem Tiểu sử Ngài trong cuốn "33 vị Tổ Thiền Tông" của
Hòa thượng Thích Thanh Từ, trang 122.
89.
BỒ ÐỀ ÐẠT MA
Thuyết
pháp Nam Ấn Ðộ:
Bát
Nhã Ða La thị tịch, Bồ Ðề Ðạt Ma giáo hóa ở bổn quốc.
Có hai sư là Phật Ðại Tiên và Phật Ðại Thắng Ða, vốn
cùng Ðạt Ma đồng học Thiền quán Tiểu thừa. Sau Phật Ðại
Tiên cùng Ðạt Ma gặp Bát Nhã Ða La, tu theo chánh pháp. Còn
Phật Ðại Thắng Ða chia đồ chúng làm 6 tông:
1-
Hữu tướng tông. 2- Vô tướng tông.
3-
Ðịnh huệ tông.4- Giới hạnh tông.
5-
Vô đắc tông . 6- Tịch tĩnh công.
Rồi
triển hóa riêng.
Ðạt
Ma than:
- Họ
có một thầy đã là lọt vào vết chân trâu, huống là phân
làm sáu tông. Ta nếu chẳng trừ, họ sẽ bị cột mãi trong
tà kiến.
Nói
xong, hiện chút thần lực, đến chỗ tông Hữu tướng hỏi:
- Tất
cả các pháp, cái nào là thực tướng?
Trong
chúng có một tôn trưởng là Tát Bà La đáp:
- Ở
trong các tướng, không lẫn các tướng đó gọi là thực tướng.
- Ở
trong các tướng mà không lẫn thì làm sao định được?
- Ở
trong các tướng thật không có định; nếu nhất định các
tướng sao gọi là thực?
- Các
tướng chẳng định gọi là thực tướng, nay ngươi chẳng
định, sẽ được thực tướng chăng?
- Tôi
nói chẳng định chẳng phải nói các tướng. Nên nói các
tướng, nghĩa của nó cũng thế.
- Ngươi
nói bất định là thực tướng, thì định mà bất định
vậy là chẳng phải thực tướng.
- Ðịnh
đã bất định thì không phải thực tướng, nhưng cái biết
tôi chẳng phải, cái đó bất định bất biến.
- Nay
ông bất biến, thì cái gì là thực tướng? Ðã biến thì
qua rồi, nghĩa này cũng vậy.
- Bất
biến sẽ còn, còn mà không chỗ nơi nên biến là thực tướng
để định cái nghĩa này.
- Thực
tướng bất biến, biến thì chẳng phải thực. Ở trong có,
không, sao gọi là thực tướng?
Tát
Bà La thầm biết thánh sư huyền giải, thầm đạt ý chỉ.
Bèn lấy tay chỉ hư không nói:
- Ðây
là hữu tướng của thế gian, cũng có thể thành không. Nên
thân này của con, có được như thế không?
- Nếu
hiểu thực tướng, tức thấy không phải tướng. Nếu rõ
không phải tướng thì sắc này cũng vậy. Nên ở trong sắc
mà không mất sắc thể. Ở trong phi tướng mà chẳng ngại
có. Nếu hiểu như thế, thì đây gọi là thực tướng.
Chúng
kia nghe xong, tâm ý rỗng rang, đảnh lễ tín phục.
*
Bồ
Ðề Ðạt Ma lại đến tông Vô tướng hỏi:
- Ngươi
nói vô tướng, làm sao chứng được?
Trong
chúng có Ba La Ðề đáp:
- Tôi
gọi vô tướng là tâm không hiện.
- Tâm
ngươi không hiện, làm sao rõ được?
- Tôi
rõ vô tướng, tâm không thủ xả. Ngay lúc rõ cũng không có
người đang (rõ).
- Ở
các tâm có không, không có thủ xả, lại không có người
đang (rõ). Thì các sự rõ biết là không.
- Nhập
Phật tam muội còn không sở đắc, huống là vô tướng mà
muốn biết nó.
- Tướng
đã chẳng biết thì ai nói có không? Còn không sở đắc, sao
gọi là tam muội?
- Tôi
nói không tướng là chứng mà không chỗ chứng, chẳng phải
tam muội nên tôi nói tam muội.
- Chẳng
phải tam muội, làm sao có tên gọi? Ông đã chẳng chứng;
không phải chứng thì chứng cái gì?
Ba
La Ðề nghe xong, ngộ được bổn tâm, lễ tạ và sám hối
những sai lầm cũ.
Ðạt
Ma thọ ký:
- Ông
sẽ đắc quả, không bao lâu sẽ tự chứng. Nước này có
ma, chẳng bao lâu ông sẽ hàng phục chúng. Nói xong Ngài biến
mất.
Ðến
tông Ðịnh huệ hỏi:
- Ông
học định huệ, là một hay hai?
Trong
chúng có Bà Lan Ðà đáp:
- Ðịnh
huệ của tôi, không một không hai?
- Ðã
không một, hai sao lại gọi là định huệ?
- Tại
định mà không phải định. Ở huệ mà không phải huệ, một
mà không một, hai cũng chẳng hai.
- Ðáng
một mà chẳng một, đáng hai mà chẳng phải hai, đã chẳng
phải định huệ, thì theo định huệ nào?
- Chẳng
một, chẳng hai, mà định huệ hay biết; chẳng phải định,
chẳng phải huệ cũng lại như thế.
- Huệ
chẳng phải định thì làm sao biết? Chẳng một, chẳng hai
thì ai định, ai huệ?
Ba
Lan Ðà nghe rồi, tâm nghi tan biến.
*
Ngài
đến tông Giới hạnh hỏi:
- Cái
gì gọi là giới? Thế nào gọi là hạnh? Giới hạnh này là
một hay là hai?
Trong
chúng có một hiền giả thưa:
- Mộ,
hai hay hai, một đều do kia sanh. Y theo giáo không nhiễm. Ðậy
gọi là giới hạnh.
- Ông
nói y giáo tức có nhiễm, một hay hai đều phá, sao nói y giáo?
Hai cái này trái ngược. Hành chẳng đến được, trong ngoài
chẳng rõ, sao gọi là giới?
- Ta
có trong ngoài, điều đó đã biết rõ, đã được thông đạt,
thì đó là giới hạnh. Nếu nói trái ngược; đều phải hoặc
đều trái. Còn nói đến thanh tịnh thì tức là giới, tức
là hạnh.
- Ðều
phải, đều trái sao nói là thanh tịnh?
Ðã
được thông thì sao lại nói trong ngoài?
Hiền
giả nghe xong, hổ thẹn chịu phục.
*
Ngài
đến tông Vô đắc hỏi:
- Ông
nói vô đắc là không đắc cái đắc nào?
Ðã
không chỗ đắc thì cũng là đắc cái vô đắc.
Trong
chúng có Bảo Tĩnh đáp:
- Tôi
nói vô đắc, chẳng phải đắc cái vô đắc. Nên nói đắc
đắc, vô đắc tức là đắc.
- Ðắc
đã không đắc, đắc cũng chẳng phải đắc. Ðã nói đắc
đắc, thì đắc đắc cái nào?
- Thấy
đắc chẳng phải đắc, chẳng phải đắc là đắc. Nếu thấy
không có đắc gọi là đắc đắc.
- Ðắc
đã chẳng phải đắc, thì đắc đắc chẳng có đắc. Ðã
không có chỗ đắc, thì lấy cái đắc nào để đắc?
Bảo
Tĩnh nghe rồi, chóng trừ lưới nghi.
*
Ngài
đến tông Tịch Tĩnh hỏi:
- Sao
gọi là tịnh tĩnh? Ở trong pháp này?
Cái
gì tịch? Cái gì tĩnh?
Có
một tôn giả đáp:
- Tâm
này bất động gọi đó là tịch, ở pháp không nhiễm gọi
là tĩnh.
- Bổn
tâm nếu không tịch, cần mượn tịch tĩnh; xưa nay đã tịch
đâu cần tịch tĩnh?
- Các
pháp vốn không, vì không nên không, ở cái không kia không
nên gọi là tịch tĩnh.
- Không
không đã không, các pháp cũng vậy. Tịch tĩnh không tướng,
cái gì tĩnh? Cái gì tịch?
Người
ấy nghe chỉ dạy, hoát nhiên khai ngộ. Rồi từ đó năm chúng
đều quy y Ngài.
33
Bài tán Hình Tượng TỔ SƯ của ngài HÁM SƠN
Tổ
thứ 1
TÔN
GIẢ MA HA CA DIẾP
(Maha-Kasypa)
Thân
hình sắc vàng
Kim
chi sắc hình
Kim
cang là tâm
Kim
cang vị tâm
Vâng
gìn huệ mạng
Phụng
trì tuệ mạng
Thường
chuyển pháp luân
Thường
chuyển pháp luân
Thế
Tôn nâng hoa
Thế
Tôn niêm hoa
Khẽ
mỉm miệng cười
Phá
nhan nhất tiếu
Ðến
nay khiến ngưòi
Chí
kim linh nhân
Nghĩ
suy chẳng đến.
Tư
nghì bất đáo.
Tổ
thứ 2
TÔN
GIẢ A NAN
(Ananda)
Nghe
nhiều như biển
Ða
văn như hải
Uống
dòng rượu pháp
Ẩm
súc pháp lưu
Chư
Phật còn mất
Chư
Phật xuất một
Chẳng
rời đầu lưỡi
Bất
ly thiệt đầu
Pháp
êm dịu hóa
Cổ
hoàng pháp hóa
Tiết
phách thành lệnh
Tiết
phách thành lệnh
Thế
nên thầy ta
Thị
cố ngã sư
Là
chánh trong thiên
Vi
thiên trung chính.
Tổ
thứ 3
TÔN
GIẢ THƯƠNG NA HÒA TU
(Sanakavasa)
Căn
linh Bát Nhã
Bát
Nhã linh căn
Kiếp
trước đã chứng
Túc
sanh dĩ chứng
Nên
Sư sắp sanh
Cố
sư tương xuất
Cỏ
lành ứng trước
Thụy
thảo tiên ứng
Dùng
tâm ấn tâm
Dĩ
tâm ấn tâm
Như
lửa vào lửa
Như
hỏa đầu hỏa
Ðường
hẹp gặp nhau
Hiệp
lộ tương phùng
Không
có chỗ trốn
Ðịnh
một xứ đóa.
Tổ
thứ 4
TÔN
GIẢ ƯU BA CÚC ÐA
(Upagupta)
Một
người tâm không
Nhất
nhân tâm không
Cung
ma chấn động
Ma
cung chấn động
Cầm
mũi kim cương
Ác
kim cương phong
Ai
dám đùa giỡn
Thùy
cảm khinh lộng
Nếu
chịu quay đầu
Nhược
khẳng hồi quang
Tâm
cuồng chóng hết
Cuồng
tâm đốn hiết
Lễ
bái quy y
Lễ
bái quy y
Các
tội tiêu diệt
Chư
tội tiêu diệt.
Tổ
thứ 5
TÔN
GIẢ ÐỀ ÐA CA
(Dhrtaka)
Ðã
ngộ bổn tâm
Dĩ
ngộ bổn tâm
Như
trời soi đêm
Như
nhật chiếu dạ
Mộng
sanh tử này
Thị
sanh tử mộng
Ánh
sáng siêu việt
Quang
minh siêu việ
Pháp
thầy vốn không
Sư
pháp bổn vô
Tâm
con chẳng có
Ngã
tâm bất hữu
Như
không hợp không
Như
không hợp không
Lưỡi
không ra miệng
Thiệt
bất xuất khẩu.
Tổ
thứ 6
TÔN
GIẢ DI GIÁ CA
(Miccaka)
Ðều
do đây đến
Ðô
nhân thử lai
Chẳng
vì việc khác
Bất
vi biệt sự
Gặp
nhau giữa chợ
Náo
thị tương phùng
Tự
bày pháp khí
Tự
thị kỳ khí
Huyền
kiến chưa đến
Huyền
kiến vị nhiên
Sớm
biết hôm nay
Tảo
tri kim nhật
Cứ
lo buôn bán
Ðương
hành mãi mại
Chẳng
kế giá cả
Bất
luận giá trị.
Tổ
thứ 7
TÔN
GIẢ BÀ TU MẬT
(Vasumitra)
Từ
đường nóng đến
Tùng
nhiệt lộ lai
Chợt
gặp bạn thân
Hốt
phùng thân hữu
Một
lời luận nghĩa
Nhất
ngôn luận nghĩa
Chóng
biết chưa có
Ðốn
tri vị hữu
Xin
vị cam lồ
Khất
cam lồ vị
Chỉ
pháp hư không
Thị
hư không pháp
Nếu
nói có được
Nhược
vị hữu đắc
Rơi
bảy rụng tám
Lạc
thất lạc bát.
Tổ
thứ 8
TÔN
GIẢ PHẬT ÐÀ NAN ÐỀ
(Buddhanandi)
Chẳng
phải không nói
Bất
thị bất ngôn
Nói
không đến được
Ngôn
chi bất cập
Chẳng
phải không đi
Bất
thị bất hành
Vốn
không tung tích
Bổn
vô tung tích
Nay
gặp người này
Kim
ngộ kỳ nhân
Mới
mở miệng được
Nãi
khả khai khẩu
Từ
đây liền đi
Tùng
thử tiện hành
Chẳng
rơi hang ổ
Bất
đọa khòa cửu.
Tổ
thứ 9
TÔN
GIẢ PHỤC ÐÀ MẬT ÐA
(Buddhamitra)
Ở
trong thai mẹ
Trụ
mẫu thai trung
Qua
sáu mươi năm
Kinh
lục thập niên
Chỉ
đợi thầy đến
Chỉ
đãi sư lai
Mới
thỏa duyên trước
Phương
toại tiền duyên
Trên
đảnh quang minh
Ð