TIẾT
THỨ NHẤT
LỜI TỰA
Trong
Phật Giáo, Chân-như (Tatha) tuy bao gồm nhiều ý
nghĩa, nhưng nói một cách đại thể, thì chân như là chỉ
cái tướng chân thực, nghĩa là cái chân tướng bất biến
của mọi hiện tượng, hoặc là cái nguyên tắc làm cho hiện
tượng giới trở lại trạng thái như như bất động. Ðó
là cái nguyên ý của danh từ Chân-như.
Lúc
đầu, trong triết học Bà-la-môn, khi nói tới thực tại của
vũ trụ thường dùng một chữ "Tat" (cái ấy). Chẳng hạn
người ta thường nói "cái ấy là cái ấy". Theo triết học
Bà-la-môn, bản thể của vũ trụ không thể dùng ngôn ngữ
văn tự mà diễn tả được, bởi thế chỉ tạm dùng danh
từ "cái ấy" khi muốn chỉ cái trạng thái bất biến bất
động của vạn hữu, tức bản thể thực tại của vũ trụ.
Trái
lại, Phật Giáo (ít nhất là Nguyên thủy Phật Giáo ) vốn
không lập ra một nguyên lý cố định nào cả mà chỉ chiếu
theo những hiện tượng của vũ trụ nguyên sinh mà khảo sát
sự thực, do đó dần dần phát hiện cái quan hệ nhân quả,
pháp tắc và động lực nội tại của sự hoạt động của
các hiện tượng. Do đó, nếu đem cái động lực, pháp tác
và quan hệ nội tại biểu hiện thành nguyên lý cố định
mà gọi là "cái ấy",”cái ấy" thì e rằng không hợp với
tâm ý suy cứu.
Như
vậy, chung cùng ta có thể gọi cái chân tướng như thực của
hiện tượng là "như thế", như thế". Theo ý này, giữa triết
học Bà-la-môn và triết học Phật Giáo, ít nhất ở điểm
xuất phát, rõ ràng đã có một sự sai khác căn bản về cách
dụng ngữ.
Song
thật ra, đây chỉ là điểm đại thể thôi. Tuy nói là tư
tưởng Chân-như của Phật Giáo, nhưng thật ra chưa hẳn nhất
định như thế. Tuỳ theo sự phân biệt về giáo lý mà nội
dung của Chân-như quan cũng chia thành nhiều loại, cho nên không
thể nói một cách nhất luật được.
Chân-như,
đứng về địa hạt lịch sử mà quan sát thì lúc đầu gọi
là cái pháp tắc của mọi hiện tượng, hoặc là cái quan
hệ bất biến nhất định, nếu nói theo văn tự thì chỉ
miễn cưỡng gọi đó là "như thế, như thế".
Song
đến khi hình nhi thượng học của triết học Phật Giáo được
triển khai thì dần dần Chân-như quan đã biến thành Thực
-thể-luận, và cuối cùng đã trở nên rất gần với Ðại
ngã (Phạm-thiên) của Upanishads. Chẳng hạn Chân-như quan trong
Ðại Thừa Khởi-Tín-Luận có thể nói gần giống như Ðại
Ngã trong Vedanta, rồi Phật Giáo hoá mà thành danh từ Chân-như,
đó là tư tưởng có thể tiêu biểu cho sự gần gũi nhất
với triết học Bà-la-môn.
Như
vậy tư tưởng Chân-như của Phật Giáo đã trải qua những
giai đoạn và được triển khai như thế nào? Về phương diện
giáo lý sử của Phật Giáo đây là một vấn đề hết sức
to lớn, nhất là Ðại Thừa Khởi-Tín-Luận được coi như
một bộ sách cương yếu thuyết minh căn bản của triết học
Ðại Thừa.
Tìm
hiểu sự phát triển căn bản của triết học Ðại Thừa
là một vấn đề rất trọng yếu và cũng rất hứng thú.
Song đây là một đề mục cực kỳ phiền toái và có những
quan hệ hết sức phức tạp, vì tư tưởng Chân-như tuy đã
có từ thời kỳ Phật Giáo Nguyên thuỷ, nhưng mãi về sau
có lẽ năm, sáu trăm năm sau Phật nhập diệt mới được
triển khai một cách rộng rãi.
Cho
nên, nếu đem nghiên cứu vấn đề để tìm ra những quan hệ
của sự triển khai đó, thiết tưởng là một việc khó khăn
lắm. Nhưng, nếu muốn thấu đáo vấn đề, trước hết ta
phải quy định cái địa vị của Ðại Thừa Khới-Tín-Luận
trong lịch sử Phật Giáo .
Theo
truyền thuyết thông thường từ xưa thì Khởi-Tín-Luận đã
được Mã-Minh trước tác khoảng một trăm năm trước thời
Long-Thụ (khoảng thế kỷ thứ nhất Tây lịch). Nhưng theo
kết quả các cuộc nghiên cứu gần đây, nếu đặt Khởi
Tín Luận trước thời Long-Thụ, đứng trên lập trường
lịch sử tư tưởng Phật Giáo phát đạt mà nhận xét, thì
điều đó e khó có thể được chấp nhận, nhất là gần
đây nhiều học giả Trung Quốc cũng cùng một quan điển.
Bởi vậy, xác định địa vị lịch sử của Khởi-Tín-Luận
thật sự là một việc khó khăn.
Vấn
đề được đạt ra là: nếu Khởi-Tín-Luận trước thời
Long-Thụ thì quan hệ lịch sử giữa tác phẩm đó với lập
trường Trung-Quán Phật Giáo của Long-Thụ ra sao? Vấn đề
này thật sự đã thành một vấn đề rất khó giải quyết.
Cho đến nay, trong giới học giả vẫn chưa có một định
thuyết nào cả?
Về
tiêu chuẩn triết học, ta có thể nói Chân-như quan là địa
vị cực điểm của Khởi Tín Luận, nhưng nếu
theo dõi lịch trình phát triển của tư tưởng theo thứ tự
đến tuyệt điểm Chân-như quan là một vấn đề thiết tưởng
không phải dễ dàng. Ðiều này ai cũng phải thừa nhận.
Ở
đây tôi xin đề cập qua đến Chân-như quan của Phật
Giáo, và mục đích là để tìm ra xuất phát điểm
của tư tưởng Chân-như quan: Tư tưởng Chân-như của Ðại
Thừa đã xuất phát từ kinh Bát-Nhã, vì kinh Bát-Nhã không
những là căn bản của tư tưởng Ðại Thừa, đồng thời
còn là mối liên lạc giữa Ðại Thừa và Tiểu Thừa. Hơn
nữa, về phương diện lịch sử, Bát-Nhã còn là bộ kinh cổ
nhất trong các kinh Ðại Thừa. Do đó, nếu nghiên cứu tư
tưởng Ðại Thừa, bất cứ về bộ môn nào, không nghiên
cứu qua kinh Bát-Nhã thì sẽ không có kết quả trọn vẹn
.
Song
từ xưa đến nay phần nhiều các học giả chỉ nghiên cứu
triết học Ðại Thừa ở thời kỳ đầu, hoặc đi sâu vào
tư tưởng của Long-Thụ là thời kỳ triết học Ðại Thừa
đã phát đạt, chứ ít ai lưu tâm đến việc nghiên cứu tư
tưởng và lập trường của kinh Bát-Nhã một cách khúc triết.
Chắc cũng có người cho rằng Ðại-Trí-Ðộ luận của Long-Thụ
là phần chú thích của Ðại-phẩm Bát-Nhã, vậy nghiên cứu
luận Trí-Ðộ tức là đã nghiên cứu Bát-Nhã rồi.
Nếu
nghiên cứu sự phát triển của Phật Giáo mà chỉ lấy các
vị Luận-sư hay một vài bộ luận làm trung tâm, hoặc chỉ
nghiên cứu kinh tạng rồi một mực cho rằng Phật đã nói
tất cả, còn về địa vị lịch sử của kinh, luận, không
cần biết đến, thì e rằng phương pháp nghiên cứu chưa được
đúng lắm.
Muốn
nghiên cứu tư tưởng của Long-Thụ trước hết cần phải
nghiên cứu tất cả các kinh điển Ðại Thừa đã được
thành lập trước thời Long-Thụ.
Không
những thế, đôi khi ta cũng phải ngừng lại ở thời Long-Thụ,
lấy tư tưởng của Long-Thụ làm tiêu chuẩn, rồi tìm hiểu
sự phát đạt qua các kinh điển trước và sau thời Long-Thụ,
như vậy ta có thể thấy được một cách rõ ràng hơn nhưng
giai đoạn phát triển của Phật Giáo. Ðó là điều chúng
ta nên ghi nhận.
Ở
đây chúng tôi cũng áp dụng phương pháp đó để nghiên cứu
Chân-như quan, nhưng không nhất định phải lấy tư tưởng
của Long-Thụ làm tư tưởng duy nhất, mà phải nghiên cứu
tất cả tư tưởng trong kinh Bát-Nhã trước thời Long-Thụ
để tìm xem giữa tư tưởng hồi đó với tư tưởng Chân-như
trong Khởi-Tín-Luận sau này có một quan hệ nào không. Ðó
là thiển kiến của tôi trong việc nghiên cứu tư tưởng Chân-như.
Nhưng bản thân tôi xin thú thật rằng, tôi chưa nghiên cứu
toàn bộ Bát-Nhã, nhất là nguyên văn bằng tiếng Phạn (sanskrit)
thì tôi chỉ mới đọc chừng tám nghìn bài tụng Bát-Nhã
mà thôi. Bởi vậy, ở đây tôi xin chỉ giới thiệu một cách
đại cương.
TIẾT
THỨ HAI:
SỰ TRIỂN
KHAI CỦA
TƯ TƯỞNG
CHÂN NHƯ ÐẾN THỜI KỲ BÁT NHÃ.
1)
Chân- như quan ở thời Nguyên thủy Phật Giáo .
Như
đã nói ở trên, tư tưởng Chân-như đã bắt nguồn từ thời
Nguyên thủy Phật Giáo. Tưởng không cần nói, Chân-như của
Ðại Thừa sau này, khi còn ở giai đoạn phôi phai, ít ra cũng
còn hàm chứa tư tưởng Nguyên thủy Phật Giáo. Mà tư tưởng
Chân-như của Nguyên thủy Phật Giáo vốn nằm trong phần giáo
lý thâm áo.
Mục
đích chủ yếu của đức Phật là làm cách nào để đạt
đến cảnh Niết-Bàn giải thoát, mà muốn đạt đến mục
đích đó, theo Phật, điều tất yếu là phải hiểu thấu
được cái thân tướng của mọi sự vật. Ðó là điều kiện
thứ nhất.
Tiến
thêm một bước nữa, lấy sự hiểu biết ấy làm cơ sở
để xác lập cái tướng chân thật của mọi sự vật mà
định đoạt thủ đoạn để thực hiện đó là điều kiện
thứ hai.
Sự
hiểu biết gồm đủ hai điều kiện này mới được cái tướng
chân thật của thế gian mới có thể cấu tạo thành cái thế
giới lý tưởng xác thật, do đó mà phần trí kiến trở thành
vô cùng trọng yếu.
Ðứng
trên cơ sở của sự quan sát đó, đức Phật đã phủ nhận
một đấng Tạo-vật-chủ đã sáng tạo ra vũ trụ, bài xích
linh hồn cá thể; vạn hữu là một dòng lưu chuyển không
ngừng, chỉ có Niết-Bàn là hằng hữu, đó là giáo lý căn
bản của Phật Giáo.
Trong
kinh A-Hàm thường gọi cách quan sát này là "như thực" hay
"như chân", theo nguyên văn là Yathtatha hay Yathabhutam. Tựu trung,
chữ Yathabhutam là một danh từ rất rõ rệt, chỉ sự nhận
thức cái nhân tướng của mỗi sự vật.
Trong
các bản dịch của kinh A-Hàm bằng chữ Hán, những chữ đó
được dịch bằng" Như chân" hoặc "Chân như".
Nhưng thật ra đó không phải là ý nghĩa về nguyên lý hay
pháp tắc, mà trái lại đó chỉ là những danh từ chỉ rõ
một thái độ quan sát mà thôi. Ta cần phải nhớ điểm này.
Song
Yathatatha hay Yathabhutam là danh từ trừu tượng cấu tạo thành
cơ sở của quan niệm Tathata (Chân-như, như như). Tại sao?
Vì nhờ cách quan sát đúng đắn mà thấy được chân tướng
của vạn pháp, mà chân tướng của vạn pháp vốn như như
bất động và đức Phật dùng từ pháp tính (dhammta, dharmata)
để chỉ trạng thái như như đó.
Còn
về ý nghĩa của nó thì hoặc cho là pháp tính hay Chân-như
đều được cả (về pháp tính, xin xem Nguyên thủy Phật Giáo
tư tưởng luận). Như vậy, là pháp tính luận của Nguyên
thủy Phật Giáo được xây dựng trên cơ sở quan sát như
thực và từ đó đã xuất phát toàn bộ Chân-như tư tưởng
của Phật Giáo.
Nhưng
do đó mà ở đây thành một nghi vấn là: cách quán sát chân
thực của Nguyên thủy Phật Giáo là cách nào? Rồi đến pháp
tính chỉ cái gì? Ðứng về phương diện như thực hoặc Chân-như
pháp tính mà nói thì chẳng qua đó chỉ là một danh từ trừu
tượng mà thôi chứ không có ý nghĩa nội dung riêng biệt
nào cả.
Phật
nói thấy cái tướng chân thật của hết thảy các pháp mục
đích không phải để phát kiến thực tại hoặc vật như
về mặt triết học, mà cũng phải để phát hiện cái pháp
tắc của khoa học tự nhiên, như vậy, thuyết chân thực tướng
của Phật, làm thế nào để cho thế giới, tức thế gian,
của chúng ta có giá trị, và phải thuyết minh và đánh giá
thế gian này như thế nào để phát hiện con đường đi đến
giải thoát Niết-Bàn?
Nếu
trong thuyết chân thực tướng không bao hàm ý nghĩa đó thì
thật không thể được nếu giải thích thuyết đó theo một
phương thức nhất định thì đó tức là giáo lý Tứ Diệu
Ðế.
Thế
giới này, nói cho cùng cực chỉ là một thế giới khổ đau
(Khổ) mà nguyên nhân của khổ đau là do dục vọng (Tập),
diệt trừ mọi khổ đau để đạt đến một cảnh giói thường
an lạc là lý tưởng của ta (Diệt), và cái phương pháp để
thực hiện lý tưởng đó là đạo (Ðạo).
Sự
thực hiện giáo điều này sẽ trở thành tiêu chuẩn của
chân tri kiến của Phật Giáo. Tuy Phật nói là chân trí, nhưng
thật ra nó chỉ là sự phù hợp với Chân-như Pháp-tính.
Do
đó, cái Chân-như quan cố hữu của Phật Giáo Nguyên thủy
tuy nói lấy chân tướng của các pháp làm mục tiêu, nhưng
tóm lại thì chỉ đứng trên cơ sở mê, ngộ của nhân sinh
quan tôn giáo để thấu suốt chân tướng của mê, ngộ mà
thôi.
Phật
nói: "Này các Tỷ Khưu! Tứ Ðế này là Chân-như (tathani),
là tính không hư vọng (avitathani), tính không biến dị (anannathani)".
Xem câu này ta đủ rõ cái chủ ý chân như pháp tính ở trên.
Lại tiến thêm một bậc nữa mà khảo sát, cái nhân sinh quan
lấy mê, ngộ làm tiêu chuẩn này vẫn coi sự thật là sự
thật mà quan sát vũ trụ nhân sinh; có nắm được cái chân
tướng của sự thật đó mới có thể kiến lập một cách
xác thực.
Về
phương diện này, như đã nói ở trên, đức Phật đã quan
sát một cách rất tinh tế. Thêm vào đó, Tứ Ðế được
thành lập, nếu nói theo nghĩa rộng, trên nền tảng phán đoán
giá trị của nhân sinh quan lấy mê, ngộ làm tiêu chuẩn.
Nhưng
nếu nói theo nghĩa hẹp thì chẳng qua căn cứ vào sự chung
kết của sự phán đoán hình thức chân lý về hai loại sự
thực, và lý tưởng bất đồng. Nghĩa là, Khổ, Tập thuyết
minh nhân quả của thế giới sự thực, phán đoán cái gọi
là sự tồn tại; Diệt, Ðạo, thuyết minh nhân quả của lý
tưởng tối cao của nhân sinh, phán đoán cái gọi là đương
vi.
Cho
nên đạo lý Tứ Ðế, về mặt giáo điều, tuy rất đơn giản,
nhưng về mặt tinh thần ít ra nó cũng bao gồm hai vấn đề
to tát là: vấn đề tồn tại và vấn đề lý tưởng. Mà
hai vấn đề này, trong lời dạy của đức Phật gồm có nhiều
điểm ám chỉ, còn trong lịch trình phát triển của giáo lý,
hai vấn đề đó là nguồn gốc phát sinh ra mọi Chân-như-quan.
Ở
đây, do đó vấn đề được nêu ra là: Nguyên thủy Phật
Giáo coi Chân-như pháp-tính là một hay nhiều?
Nếu
nhận xét theo Tứ Ðế thì trên đại thể, vấn đề nên chia
thành hai loại mà quan sát có lẽ sát đáng hơn. Nghĩa là Chân-như
tập hợp Khổ, Tập làm hiện thực giới và Chân-như tập
hợp Diệt, Ðạo làm lý tưởng giới.
Về
vấn đề trên, đức Phật đặc biệt đề xướng một thuyết
rất có tiếng: đó là thuyết Duyên-khởi. Theo
thường tình của chúng ta thì lấy ý chí làm cơ sở, rồi
dần dần khai phát thành lập hiện thực giới mà quan sát
mọi mối liên hệ. Song Phật thì lại khác, Phật dùng pháp
tắc Duyên-khởi, đặc biệt thuyết minh pháp tính thường
trụ, Duyên-khởi, như thực v.v. mà đề cao pháp tắc thường
hằng bất biến tính.
Về
vấn đề sau liên quan đến lý tưởng giới thì nói thuyết
Bát-Chính-Ðạo, người ta chỉ cần thực hành tám chính hạnh
là ai ai cũng có đạt đến giải thoát Niết-Bàn. Nhất là
ngày xưa trong lúc ngồi quán sát các pháp trên bờ sông Ni-Liên-Thiền,
đức Phật đã coi cái đạo pháp mà Ngài đã tự giác ngộ
là cái đạo Nhất Thừa của chư Phật để xác nhận cái
phổ biến tính và nhất ban tính của đạo pháp đó.
Sau
này đến các phái Tiểu Thừa, trong các loại Chân-như, đặc
biệt nói đến Duyên-khởi-chi-tính Chân-như, cũng vì lý do
đó, và chẳng qua cũng không ngoài việc phát huy cái tinh thần
trên đây của Phật. Song, nói thật ra thì đó cũng mới chỉ
là quan sát tổng quát mà thôi. Nếu lại tiến thêm một bậc
nữa mà khảo sát thì trong cái Chân-như quan của đức Phật
đã đành có thể chỉ bao hàm một ý nghĩa mà thôi, đây là
điểm ta không thể bỏ qua.
Những
cái gọi là nhiều chẳng qua cũng cùng một pháp tắc sự thực,
không phải chỉ liên quan đến că bản của mười hai nhân
duyên, mà trong tất cả hiện tượng đều có một pháp tắc
nhất định.
Về
lý tưởng giới cũng thế, không phải chỉ có Bát-chính-đạo
khái quát, mà Duyên-khởi Chân-như, Thánh-đạo Chân-như và
Niết-Bàn cũng có mối quan hệ tất nhiên, cứ theo lý đó
mà suy rộng ra thì ta có thể có nhiều lý do để thành lập
nhiều Chân-như quan.
Nhưng
nếu khảo sát một cách tóm tắc thì cái gọi là pháp tắc
sự thực và pháp tắc lý tưởng, nói theo tinh thần của Phật,
thì rốt cục chỉ có thể quy về một cái tâm của ta. Bởi
vậy, theo đó, Chân-như chỉ có thể được coi là MỘT mới
đúng với tinh thần của Phật.
Theo
Phật, nếu truy nguyên cho ra cái pháp tắc đã cấu tạo thành
thế giới hiện thực thì đó chính là dục vọng (tức ý
chí) của chúng ta, sự khẳng định của chính chúng ta tương
đương với cái pháp tắc đã sáng tạo ra thế giới. Còn
về pháp tắc cấu tạo lý tưởng giới là sự biểu hiện
ý chí phủ định dục vọng của chúng ta, đó là về pháp
tắc tạo dựng thế giới mới.
Do
đó, tuy có tiêu cực và tích cực khác nhau, nhưng chung cự
không ngoài cái pháp tắc đã đựơc kiến thiết bởi ý chí
đồng nhất. Từ nguồn gốc đó, về sau các phái triết học
Phật Giáo đã lập ra nhiều Chân-như quan, có phái chủ trương
nhiều, có phái chủ trương một, cũng có phái lấy Chân-như
làm trung tâm.
Tóm
lại, nếu đem đối chiếu với những dữ kiện về Chân-như
của hậu thế thì ta nhận thấy Chân-như quan của Nguyên thủy
Phật Giáo không có một điểm nào trình hiện một cách rõ
rệt cả. Tuy nhiên, nếu đi sâu vào những ý nghĩa tiềm tàng
trong kinh văn mà suy cứu đến tư tưởng cứu kính để nhận
xét thì ta thấy trong đó đã chứa đựng đầy đủ những
cái mà đời sau đã khai thát và phát triển về mọi phương
diện. Ðiều này, như ta đã thấy ở trên, đại khái rất
rõ ràng.
Bây
giờ nếu đem tất cả những điều đã trình bày ở trên
mà nghiên cứu một cách thấu triệt thì ít nhất mọi người
phải thừa nhận những sự thực sau đây:
a)
Vạn hữu tuy là lưu chuyển, song trong cái lưu chuyển đó vẫn
có cái pháp tắc thường hằng;
b)
Trong lưu chuyển giới này vẫn có Niết-Bàn giới thường
hằng bất biến;
c)
Dù là lưu chuyển giới hay Niết-Bàn giới, nếu truy nguyên
ra thì rốt ráo cũng chỉ là cái tâm của chúng ta;
d)
Sau hết, cái chân tướng kể trên chỉ được nhận ra khi
nào chính trị và chính niệm đã xa lìa sự thiên kiến và
chấp kiến.
Tất
cả những điều trên đây là nguồn gốc của Chân-như quan
của triết học sau này. Bởi thế, trước tiên chúng ta cần
ghi nhận điểm này. Ở thời kỳ Nguyên thủy Phật Giáo, những
tư tưởng đó vẫn chưa có sự thống nhất hoặc phân hoá,
và đó là cái lý do tại sao được gọi là Nguyên thủy vậy.
2)
Chân-như quan của các phái tiểu thừa.
Người
đem cái tư tưởng Chân-như tiềm tàng trong Nguyên thủy Phật
Giáo mà khai thác, phát triển là Ðại Thừa Phật Giáo. Vì
muốn thuyết minh cái chân tinh thần của Phật tiềm tàng trong
các kinh điển nguyên thủy mà Ðại Thừa được phát động
và thành lập, bởi vậy Chân-như là một vấn đề dĩ nhiên
phải được đưa ra để nghiên cứu. Nhưng nếu đứng về
phương diện văn hiến mà nhận xét, thì đến đây ta thấy
vẫn còn một giai đoạn để làm tiêu chuẩn cho Ðại Thừa:
đó là giáo lý của phái Tiểu Thừa.
Tiểu
Thừa Phật Giáo tuy kế thừa Nguyên thủy Phật Giáo, nhưng
vì trung thực thái quá cho nên về hình pháp cũng như về giáo
lý một, nhất khái đã trở thành chủ nghĩa hình thức, đặc
biệt về sự tổ chức giáo lý đã lấy sự cấu tạo một
nền thần học cực kỳ phiền toái làm điển đắc ý (sau
Phật nhập diệt một trăm năm chia thành Thượng-toạ-bộ
và Ðại-chúng-bộ, sau Phật nhập diệt từ hai đến ba trăm
năm tất cả đã có tới mười tám bộ phái, đó là theo các
sử sách còn truyền lại).
Do
đó, vấn đề Chân-như tư tưởng tuy không phải đề mục
luận cứu của các vấn đề khác, nhưng bất cứ vấn đề
nào có liên quan đến nó ma không được khảo sát qua thì
quyết không thể nào thấu triệt được nó. Và Vô-vi-pháp
là đề mục rất quan hệ với nó, nhất là vấn đề này
đã được Ðại-chúng-bộ triển khai một cách triệt để.
Về
vạn hữu, Phật Giáo chia làm hai loại: Hữu-vi-pháp và Vô-vi-pháp.
Hữu-vi-pháp
có sinh diệt chuyển biến. Vô-vi-pháp vắng lặng bất biến.
Song Tiểu Thừa Phật Giáo, lúc đầu coi hai loại này đồng
thời tồn tại, ngoài Hữu-vi-pháp không thể có Vô-vi-pháp
biệt lập tồn tại. Chẳng hạn như Thuuyết-nhất-thiết-Hữu-bộ
của Thượng-toạ-bộ-hệ, căn cứ vào luận Câu-Xá, chia vạn
hữu thành bảy mươi lăm loại, trong số đó, bảy mươi hai
loại thuộc Hữu-vi-pháp, còn ba loại kia (Trạch-diệt-vô-vi,
Phi-trạch-diệt-vô-vi, Hư không-vô-vi) thuộc Vô-vi-pháp.
Như
vậy, Vô-vi là chân tướng của vạn hữu, và đối với tư
tưởng Chân-như pháp-tính, nó không có quan hệ nào đặc biệt
cả, còn đối với các hiện tượng nó chỉ chiếm một địa
vị ẩn tàng mà thôi. Nhưng đến Ðại-chúng-bộ thì quan niệm
về Vô-vi-pháp cũng dần dần được khoáng trương. Nghĩa là
trong cái pháp tắc sinh sinh động, biến hoá không ngừng của
Hữu-vi-pháp, nhưng nhiên nó vẫn có một quan hệ bất biến.
Nếu
nhận xét theo Dị-Bộ-Tôn-luận thì Thượng-toạ-bộ lập
thành ba Vô-vi, Ðại-chúng-bộ thành chín Vô-vi, tức là: Trạch-diệt-vô-vi,
Phi-trạch-diệt-vô-vi, Hư-không-vô-vi, không-vô-biên-xứ-vô-vi,
Thức-vô-biên-xứ-vô-vi, Vô-sở-hữu-xứ-vô-vi, Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ-vô-vi,
Duyên-khởi-chi-tính-vô-vi, và Thánh-đạo-chi-tính-vô-vi.
Còn
vấn lấy tứ Vô sắc làm vô-vi biến Tứ-vô-sắc-định thành
cảnh giới mà nếu đứng về phương diện biến hoá mà nói,
tuy là hữu-vi nhưng cái nguyên lý làm cho Tứ-vô-sắc-định
được gọi là Tứ-vô-sắc định nếu truy cứu đến nguyên
ủy thì thật ra nó đã phát xuất từ một cái gì bất biến,
bất động.
Lại
nữa, Duyên-khởi-chi-tính và Thánh-đạo-chi-tính cũng tức
là pháp tắc Duyên-khởi pháp tắc sự thực và pháp tắc lý
tưởng giới giải thoát đã nói ở trên, đồng thời tuy là
tư tưởng của Phật Giáo Nguyên thủy, song chỉ là vấn đề
triển khai mà thôi. Duy có điểm đặc biệt là: Hoa Ðịa-Bộ
tuy thuộc về Thượng-toạ-bộ-hệ, nhưng cách lập pháp lại
chịu rất nhiều ảnh hưởng của Ðại-chúng-bộ.
Nhận
xét theo Tôn-Luân-luận cũng vậy, Hoá-Ðịa-bộ cũng lập thành
chính Vô vi : Trạch-diệt-vô-vi,cho đến lại lập ra Thiện-Pháp-Chân-như,
Bất-thiện-pháp-chân-như, Vô-ký-pháp Chân-như, Ðạo-chi-Chân-như,
và Duyên-khởi-Chân-như.
Từ
Tứ-bất-động-Vô-vi thứ tư, sau đến Duyên-khởi Chân-như
và Ðạo-chi-Chân-như thì đại khái cũng giống với chính
Vô-vi của Ðại-chúng-bộ. Song cái đặc sắc của Hoá-Ðịa-Bộ
là căn cứ vào pháp tắc nhân quả bất biến và tất nhiên
mà lập nên ba Vô-vi Thiện Ác và Vô-Ký.
Trở
lên tuy theo tài liệu của Dị-Bộ-Tôn-Luân-luận, nhưng nếu
nghiên cứu và so sánh tài liệu này với giáo lý của các
phái Tiểu Thừa, khảo sát sử liệu của Nam-truyền-Luận-Sự
(kathavatthu) thì ta thấy tài liệu rất dồi dào mà điểm rất
thú vị là: tuy căn cứ vào Luận-Sự, nhưng dựa vào Chân-như
quan để lập ra các loại Vô-vi, thì tóm lại, lại thuộc
về Ðại-chúng-bộ, đặc biệt là chủ trương của Án-Ðạt-La-phái
(Andhaka), Bắc-Ðạo-phái (Uttarapathaka), Ðông-sơn-bộ (Pubbaseliya)v.v.
(lúc Hoá-Ðịa-bộ cũng gia nhâp, như trên đã nói, Hoá-Ðịa-bộ
chịu ảnh hưởng của Ðại-chúng-bộ rất sâu).
Ở
đây nếu đề cập đến tất cả thì tóm lại, thuyết chính
Vô-vi của Ðại-chúng-bộ hay Hoá-Ðịa-bộ, tuy có chủ trương
phân tán, nhưng trên toàn bộ thì từ trước chưa thấy có
một sự kiện nào được thêm thắt vào cả.
Chẳng
hạn trước kia tuy có Duyên-khởi-Chân-như, nhưng Tứ-đế-Chân-như
kết hợp cả hai, song đến đây Hoá-Ðịa-bộ lại chủ trương
Tứ-đế-Chân-như (Cattarisaccaniasamkhataniti -KA63). Nghĩa là Khổ,Tập,Diệt,
Ðạo biểu thị cái quan hệ toàn nhất và thường hằng bất
biến. Ðứng trên lập trường nầy ta có thể giải thích
như sau: muốn đem pháp tắc thực tế và pháp tắc lý tưởng
kết hợp thành một nguyên lý duy nhất.
Lại
nữa, trước tuy có ý niệm về Chân-như quan thuộc loại này
vẫn chưa thấy biểu hiện rõ rệt. Nếu nói theo phái Luận-Sự
thì ngay trong phái Tiểu Thừa cũng có chủ trương thuyết đó.
Chủ trương của Bắc-Ðạo-Phái lập luận thế này : Tất
cả pháp Chân-như đều là Vô-vi (Sabbabhammanan tathataasamkha
tati K. V. 195).
Thí
dụ cây thông, cây trúc chính nó là vật biến hoá, nhưng cái
quan niệm về cây thông, cây trúc thì bất biến. Do ý nghĩa
đó mà trong Luận-Sự cho nó là một Chân-như. Nói theo nghĩa
hẹp của Chân-như quan thực thể thì có thể cho quan niệm
trên gần với tưởng pháp của Ðại Thừa.
Như
vậy, dù căn cứ vào Tôn-Luân-luận, hay căn cứ vào Luận-Sự,
các phái Tiểu Thừa, nhất là các phái thuộc Ðại-chúng-bộ-hệ,
đã hấp thụ tinh thần của Phật Giáo Nguyên thủy liên quan
đến các pháp Vô-vi, khai thác các loại Chân-như-quan,hoặc
đứng về mặt pháp tắc, hoặc đứng về mặt quan hệ, hoặc
dựa vào điểm thực tính để phát hiện cái quy luật sinh
diệt biến hoá của thế giới, hay muốn từ cái căn để
của nó mà phát hiện cái thực -thể bất sinh bất diệt.
Dĩ
nhiên trong đó thay vì nói cái căn để của hiện tượng thì
lại nói đối với ý nghĩa Vô-vi tịnh tồn của hiện tượng
cũng có, và mặc dầu vậy, cái phạm vi của Vô-vi sau đã
dần dần mở rộng thêm, do đó không bao lâu Vô-vi chính có
tuy bất động, nhưng vẫn chứa đựng ý nghĩa về nguyên lý
làm cho nó biến động để rồi sau này đã trở thành tài
liệu đầu tiên của triết học Chân-như quan.
Song
có một điều chưa được thoả mãn là một mặt lập nên
các loại Chân-như, mặt khác vẫn chưa thấy có một ý tưởng
thâu tóm tất cả những ý tứ đó để tạp thành một Chân-như
căn bản độc nhất vô nhị. Ðứng trên cái lý tưởng Nhất-Thừa-Pháp
của chư Phật, thì dù theo giáo lý của Phật Giáo Nguyên thủy,
hay theo yêu cầu thống nhất của lòng người, điểm này không
thể không làm cho người ta bất mãn.
Ðương
nhiên, nếu nhận xét theo Tôn-Luân-luận, hay Luận-Sự, ta thấy
gần như đã dần dần tiến tới việc thành lập một Chân-như
thống nhất. Ðại-chúng-bộ hầu hết lập ra bốn Vô-sắc
Vô-vi, đến Hoá-Ðịa-bộ thì lại tập hợp thành một Bất-động
Vô-vi duy nhất (Thiện-Pháp, Bất-thiện-pháp, Vô-ký-pháp ba
Chân-như.
Theo
Từ-Ân thì đó là Tam Thể Nhất Lý). Cũng như Ðông-Sơn-Bộ
thống nhất Duyên-khởi-chi-tính và Thánh-đạo-chi-tính làm
thành Tứ-đế-Vô-vi. Ðiểm này rất rõ ràng, tuy nhiên đó
chỉ là sự thống nhất bộ phận chứ vẫn chưa đạt đến
sự thống nhất toàn bộ.
Như
vậy, đến Ðại-chúng-bộ Chân-như quan tuy đã được thuyết
minh rất rõ ràng, nhưng nếu đứng về phương diện Hình-nhi-thượng-học
mà nhận xét thì vẫn còn nhiều điểm chưa đề cập tới.
Muốn đem thống nhất tất cả về mặt triết học, đó là
Chân-như quan của triết học Ðại Thừa mà kinh Lăng-Già hoặc
Khởi-Tín-Luận đã đạt đến tuyệt đỉnh đó. Còn Chân-như
quan của Bát-Nhã thì thật đã được thành hình giữa khoảng
từ Chân-như quan của các bộ phái cho đến Chân-như quan của
Ðại Thừa Khởi-Tín-Luận.
TIẾT
THỨ BA :
LẬP TRƯỜNG
TOÀN BỘ CỦA BÁT NHÃ.
1)
Hệ thống tư tưởng của Bát-Nhã.
Ðề
cập đến Chân-như quan của Bát-Nhã mà không nói đến lịch
sử hệ thống tư tưởng của nó thì quyết không thể được.
Vì nếu không làm như thế thì ý nghĩa của Chân-như quan đó
không thể được trình bày một cách rõ ràng. Mà điểm này
tuy hơi phiền toái, nhưng lại phải bắt đầu từ Nguyên thủy
Phật Giáo.
Tưởng
không cần nói ai cũng hiểu giáo lý căn bản của Nguyên thủy
Phật Giáo là Tứ Ðế. Mà Tứ Ðế tuy là giáo pháp có tổ
chức, song, pháp như đã trình bày ở trên, nếu khảo sát
một cách riêng rẽ thì đó là một tổng hợp của hai quy
phạm, nghĩa là cái quy phạm thuyết minh sự thực hiện hữu
về Khổ Tập và cái quy phạm thuyết minh lý tưởng tương
lai về Diệt Ðạo.
Theo
tinh thần của Phật Giáo Nguyên thủy, muốn thấy được cái
tướng chân thực của sự vật tức là phải lý giải cái
lý tưởng chân chính một cách chính xác đúng theo đạo trình,
hai quy phạm này như hai bánh xe không thể rời nhau. Song nghiên
cứu hai quy phạm này cho có thứ lớp là một vấn đề phức
tạp, nghĩa là nên nghiêng về loại nào để quan sát? Nói
đến vấn đề này, ta thấy không nhiều thì ít cũng có chổ
bất đồng, bởi lẻ các phái chủ trương khác nhau, đó là
lý tự nhiên. Thật vậy, sau khi đã chia thành bộ phái, đối
với vấn đề này, cách quan sát có chỗ bất đồng, về phương
diện giáo lý, đó là một nhiệm vụ trọng yếu. Nghĩa là
về phía Thượng-toạ-bộ, tức là bảo thủ, vấn đề chủ
yếu là vấn đề sự thực, nói theo danh từ chuyên môn là
đặt trọng tâm về phương diện giải quyết vấn đề luân
hồi, tất cả đều hướng về sự quan sát và chỉnh lý để
giải quyết nó một cách thích đáng. Còn về phía Ðại-chúng-bộ,
tức phái cấp tiến, thì ngược lại lấy vấn đề lý tưởng
làm chủ, tất cả hướng về giải thoát để giải quyết
và chỉnh lý. Bởi thế, lập trường của Thượng-toạ-bộ,
trên đại thể, tự nhiên đã trở thành Thực Tại Luận;
và phía Đại Chúng Bộ, nếu có, thì tất nhiên đó là Quan
Niệm luận. Nói theo danh từ chuyên môn thì phái trước là
"Hữu" và phái sau là "Không". Vì Thượng-toạ-bộ chỉ muốn
thuyết minh cái thứ tự của sự thành lập luân hồi giới
nên đã thừa nhận sự tồn tại của sự vật. Còn Ðại-chúng-bộ
thì siêu việt hẳn sự tồn taị của luân hồi, nghĩa là
lấy giải thoát làm mục tiêu mà quan sát hết thảy, cho nên
có vẻ như muốn khuynh hướng về một thế giới quan phủ
định hiện tượng. Và lập trường này, căn cứ vào sự
bất đồng và ảnh hưởng giáo lý, Phật Giáo sau này ta có
thể nhận thấy rõ về mọi mặt.
Tựu
trung, điểm đáng chú ý là : Thượng-toạ-bộ lấy thế giới
quan Hữu làm bối cảnh để phát khởi những kiến giải về
sinh mệnh, rồi cuối cùng đã trở thành nguyên nhân phát sinh
ra triết học A-lại-da-thức. Về phía Ðại-chúng-bộ thì
lấy thế giới quan Không làm bối cảnh để thuyết minh quan
niệm "tất cả đều có Phật tính" mà sản sinh ra các loại
Chân-như quan đã được trình bài ở trên. Có thể nói đây
là điểm tiền phong của triết học A-lại-da-thức. Những
tư tưởng như : "Phi tức phi ly uẩn ngã", "Tế ý thức", "Cùng
sinh tử uẩn" v.v… đều đã phát sinh từ các phái thuộc
Thượng-toạ-bộ-hệ. Còn các thuyết như : Tâm Tính Bản Tịnh,
Vô-vi-Hữu-Dụng, Chân-như v.v…, đại để là chủ trương
của các phái thuộc Ðại-chúng-bộ-hệ.
Về
phương diện lấy việc giải quyết vấn đề luân hồi làm
chủ, quy định chủ thể của luân hồi là vấn đề rất
trọng yếu ; về phương diện lấy vấn đề giải thoát làm
chủ, sự phát hiện chỗ y cứ của cái bất biến bất động
trở thành một việc rất hệ trọng. Sự bất đồng của
hai Bộ-phái là do kết quả của hai lập trường trên đây.
Ðương nhiên, như Nghiêm Mật đã nói, trong Thượng-toạ-bộ-hệ
cũng có phái thâu nạp ý kiến của Ðại-chúng-bộ-hệ và
ngược lại. Bởi vậy, nếu muốn minh định rõ ràng lập
trường của hai phái là một việc rất khó khăn. Tuy nhiên,
trên đại thể, lập trường của hai phái như vừa được
trình bài trên đây đại khái là một sự thực hiển nhiên.
Như
thế thì tư tưởng Bát-Nhã đã phát xuất từ hệ thống nào?
Ðều này không cần phải nói lại thêm rườm rà, đương
nhiên là nó đã phát xuất từ Ðại-chúng-bộ-hệ. Nghĩa là,
về phương diện giáo lý, căn cứ theo truyền thuyết Chân
đế, thì những bộ phái như : Nhất Thiết Bộ, Thuyết Giả
Bộ, Thuyết Xuất Thế Bộ v.v… thuộc Ðại-chúng-bộ hệ
đều chủ trương hết thảy các pháp chỉ là giả danh mà
không có thực thể, pháp Vô-vi tuy là có, nhưng hiện tượng
giới chỉ là giả danh. Thế giới quan Bát-Nhã thực sự đã
được xây dựng và triển khai trên nền tảng của thuyết
này. Hơn nữa, Phật thân quan, Tâm-tính-bản-tịnh-quan, và
nhiều đề mục đặc thù khác, nếu nghiên cứu ta sẽ thấy
giữa tư tưởng Bát-Nhã và tư tưởng Ðại-chúng-bộ có sự
quan hệ trực tiếp. Về mặt văn-hiến, điểm này có thể
được chứng minh một cách rất rõ ràng. Thêm vào đó, về
mặt địa dư, khu vực mà Ðại-chúng-bộ rất thịnh hành
để rồi trở nên căn cứ địa rất gần với tư tưởng
Ðại Thừa là Nam Ấn Ðộ, nhất là khu vực Án-Ðạt-La. Tư
tưởng Bát-Nhã ít ra lúc đầu cũng bắt nguồn từ phương
Nam. Ðiều này chính kinh Bát-Nhã cũng đã cho ta thấy rõ. Trong
tám nghìn bài tụng Bát-Nhã có ghi việc này : "Kinh Bát-Nhã
vốn lưu hành ở phương Nam, từ phương Nam truyền đến phương
Tây, từ phương Tây tiến đến phương Bắc, rồi từ đó
cuối cùng lan tràn khắp bốn phương". Ðiều này có phải
đã ám chỉ toàn bộ kinh Bát-Nhã, lúc đầu đã phát xuất
từ Nam Ấn Ðộ không? Nói đúng ra thì tư tưởng Bát-Nhã
đã thoát thai từ học phái Án-Ðạt-La thuộc Ðai-chúng-bộ-hệ,
điểm này ta chỉ suy cứu về quan hệ địa dư cũng đủ thấy
rõ. Kinh Bát-Nhã tuy nói nhiều về Chân-như, nhưng nếu nói
theo hệ thống thì chẳng qua chỉ kế thừa tư tưởng của
Ðại-chúng- bộ -hệ mà thôi.
Tóm
lại, tư tưởng Bát-Nhã đã phát xuất từ phép tu dưỡng
không chấp trước của Phật Giáo Nguyên thủy. Xây dựng trên
nền tảng của chủ nghĩa không chấp trước này để tổ
chức và thành lập giáo lý mà kế thừa Ðại-chúng-bộ-hệ.
Mặc khác, vì sự đối kháng với giáo lý phiền tỏa của
Hữu-Bộ mà thành lập. Trong lịch sử giáo lý Phật Giáo,
điểm đặc biệt trọng yếu của tư tưởng Bát-Nhã là: nó
là sản phẩm đầu tiên của Ðại Thừa đồng thời bất
cứ nói theo ý nghĩa tịnh hay động, nó đã trở thành cơ
sở của tất cả tư tưởng Ðại Thừa.
2)
Toàn bộ tư tưởng Bát-Nhã.
Tưởng
không cần phải nhắc đi nhắc lại, ta đã biết rằng chủ
trương nhất quán của Bát-Nhã là ở chỗ phủ định tất
cả những quan điểm sai biệt để nói lên cái lý "Vạn pháp
tức không". Nếu nói theo lập trường thường thức thì thế
giới này tuy có những hiện tượng thiên sai vạn biệt, nhưng
đến trên lập trường Ðệ-Nhất-Nghĩa-Ðế, nếu thấu suốt
được cái chân tướng của những hiện tượng đó thì tất
cả đều chỉ là giả hiện, tất cả là không, đó là chủ
trương căn bản của Bát-Nhã.
Bát-Nhã
(Prjaana) nghĩa là trí tuệ, nhưng trí tuệ đây là cái
chân quán trí của Ðệ-Nhất-Nghĩa-Ðế, nói theo danh từ chuyên
môn thì nó là "Quán chiếu Bát-Nhã". Sở dĩ kinh Bát-Nhã được
gọi là Bát-Nhã vì trong toàn bộ kinh đều chứa đựng và
nói lên cái đại trí tuệ đó.
Trí
tuệ Bát-Nhã không phải cái trí tuệ do phân loại sự vật
sai biệt mà là cái trí tuệ phủ định mọi hiện tượng
sai biệt, siêu việt tương đối, trực tiếp thấu suốt được
thực tướng của vũ trụ là không. Theo chủ trương của Bát-Nhã
thì không những chỉ cái thế giới thường thức của chúng
ta đây là giả hiện, không có thực tướng, mà ngay cả đến
những yếu tố là những cái chúng ta có thể thấy hay tưởng
tượng được mà từ trước đến nay trong Phật học thường
quan tâm đến là Ngũ Uẩn, Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới,
những đề mục đã do sự quan sát khoa học mà đạt được,
tất cả cũng chỉ là hiện tượng giả danh, chính đó không
có thực thể, không tồn tại, tất cả chỉ là không. Do đó,
tất cả những quy phạm hay pháp tắc liên quan đến sự tụ,
tán, ly, hợp của những yếu tố đó cũng đều là giả danh.
Cho nên, quá khứ, hiện tại, vị lai, nhân quả, sinh, trụ,
diệt v.v…, nếu nói theo lập trường Ðệ-Nhất-Nghĩa-Ðế,
thì tất cả chỉ là hiện tượng mà thôi, chứ tuyệt nhiên
không phải chân tướng của các pháp. Thêm vào đó, không
những chỉ thế giới hiện thực như thế, mà ngay cả đến
cái gọi là thế giới lý tưởng cũng vậy. Những đức mục
tu dưỡng là không, cho đến quả vị La Hán, quả vị Như
Lai, quốc độ Phật, nếu trực quán cái chân tướng của
nó thì rốt ráo cũng chỉ là không. Mà cho đến cả cái tâm
của ta cũng chỉ là hiện tượng. Nếu nói một cách đơn
giản thì mê, ngộ, thực tế, lý tưởng, tất cả đều là
hiện tượng của cái tâm sai biệt của ta, tất cả đều
là không, đó là chủ nghĩa của Bát-Nhã. Kinh Bát-Nhã vì muốn
tận lực thuyết minh điểm đó nên thường hay nêu lên "Nhị
Thập Không" mà đã gần trở thành một định chế vậy.
Kinh
nói: "Nội không, ngoại không, nội ngoại không, không
không, đại không, thắng nghĩa không, hữu vi không, Vô-vi không,
tất kính không, vô tế không, tán không, vô biến dị không,
bản tính không, tự tướng không, cộng tướng không, nhất
thiết pháp không, bất khả đắc không, vô tính không, tự
tính không, vô tính tự tính không".
Những
đề mục này đã được thuyết minh đủ trong Thắng Thiên
Vương Bát-Nhã (phần thứ sáu của kinh Đại Bát-Nhã ) nhưng
rất phức tạp cho nên ở đây chúng tôi không bàn đến.
Tóm
lại, lập trường của Bát-Nhã là phủ định tất cả để
nói lên cái " không" nhưng rồi đến chính
cái không cũng lại phải phủ định nốt, chứ nếu
còn chấp trước vào nó thì không thể thấu suốt được
chân tướng của các pháp. Lập trường này cũng tương tự
như lập trường của Upanishads, vì Upanishads nói : "Chân tướng
của pháp chung cùng chỉ là không không (Neti,neti)!".
Như
vậy, nói cho cùng, Bát-Nhã đã theo căn cứ nào, và dựa theo
điểm tất yếu nào để phủ định tất cả những tướng
sai biệt mà chủ trương thuyết không? Ðiểm này nếu dựa
vào bối cảnh lịch sử mà phân biệt thì có thể đưa ra
hai lý do sau đây :
a)-
Nói theo nhận thức luận thì như các nhà quan niệm luận đã
nói, thế giới này là biểu tượng của tâm. Thế giới quan
của Phật Giáo Nguyên thủy tuy là thực tại luận, nhưng đối
với thế giới của ta, tức là cõi thế gian này, toàn do kết
quả của hành động của chúng ta, đó là tư tưởng của
quan niệm luận. Và đó cũng là điểm mà Bát-Nhã muốn đạt
đến. Ðiều này được nói đến một cách rõ ràng trong tám
nghìn bài tụng của nguyên điểm kinh Bát-Nhã trang 15. Ngài
Thi Hộ dịch quyển thứ nhất tờ 3b có đoạn văn như sau
:
"Này
ông Xá Lợi Phất ! Thực ra không có một pháp nào tồn tại,
nếu không biết rõ như thế thì tức là vô minh. Những người
phàm phu vì không biết như thế nên mới sinh lòng chấp trước,
vì chấp trước nên cho tất cả các pháp là có thật, vì
cho các pháp là có thật, nên chấp trước nhị biên (chấp
thường, chấp đoạn), và vì chấp trước nhị biên nên mới
không thấy, không biết cái chân tướng của các pháp. Vì
không thấy, không biết nên chấp trước tất cả các pháp
hiện tại, quá khứ, vị lai, do đó mới chấp có danh sắc
: vì chấp danh sắc cho nên các pháp đều thật có, bởi thế
mà không thấy không biết được đạo như thật (Yathabhutam
marga); vì không thấy, không biết được đạo như thật nên
không siêu việt được tam giới, không thấy rõ được thật
tướng của mọi pháp".
Trên
đây là đoạn văn của đức Phật giải đáp mối thắc mắc
của ngài Xá Lợi Phất cho rằng các pháp vốn là không
mà sao lại có thế giới này? Và theo ý nghĩa của đoạn
trên thì chấp trước và sự hoạt động tình ý, rồi biến
kế (biểu tượng) và sự hoạt động nhận thức hỗ tương
tập hợp mà tạo ra những hiện tượng của vạn hữu. Ý
nghĩa trên đây cũng đã được nói đến trong Trí Ðộ luận,
quyển thứ 39 ; tam giới có là do sự tạo tác của tâm, tất
cả đều là biến hiện của thức. Ðiểm này đã trở thành
căn cứ của thuyết KHÔNG.
b)-
Căn cứ thứ hai là nền tảng tất yếu về sự tu dưỡng,
tức là phải thấu suốt tất cả đều là không để thực
hiện lý tưởng giải thoát Niết-Bàn. Về chân tướng của
Niết-Bàn thì tuy có nhiều nghị luận khác nhau, nhưng tựu
trung có một điểm mà tất cả các học phái đều nhất tri
thừa nhận, đó là cái cảnh giới mà ở đấy tất cả dục
vọng của cá thể không còn tồn tại nữa.
Do
đó, quan niệm về không đối với đạo giải thoát là một
phương pháp trọng yếu. Ðứng về phương diện thực tế
mà nói thì quan niệm Không của Bát-Nhã cũng không ngoài phương
pháp quán sát này. Về vấn đề đó trong kinh Bát-Nhã có nhiều
thuyết ; hoặc nói là : vô sỉ, vô trước, vô văn, vô tự
là Bát-Nhã (Thắng-Thiên-Vương quyển thứ II) ; hoặc nói :
vô tướng, vô nguyện, vô sinh, vô tác, vô nhiễm, tịch tĩnh
là Bát-Nhã (nguyên văn trong tiểu- phẩm Bát-Nhã, trang 341).
Tóm
lại, mục tiêu chính của Bát-Nhã là xúc tiến chủ nghĩa
không nhiễm trước. Như vậy, nếu đem kết quả cách quan
sát về mục đích tu dưỡng của Bát-Nhã và kết quả cách
quan sát về nhận thức luận ở trên mà kết hợp lại thì
thành ra hết thảy đều là không. Ðiểm này ta
có thể coi là một chủ trương rất lớn.
3)
Chân-không Diệu-hữu.
Như
thế là Bát-Nhã theo lập trường nhận thức luận và lập
trường tu dưỡng, phủ định tất cả các tướng sai biệt
của mọi pháp mà chủ trương thuyết không. Vậy thì thế
giới quan của Bát-Nhã há chẳng phải là một luận thuyết
vô-vũ-trụ để rồi đưa đến chủ nghĩa hư vô sao? Ðó là
câu hỏi thường được nêu ra và đại khái đa số cho là
đúng. Nhưng thật ra nhận xét đó chưa đánh trúng vào chủ
ý của Bát-Nhã. Ðây là điểm ta không thể bỏ qua. Trong phạm
vi biểu tượng thì chân ý của Bát Nhã thật sự đều cho
là không, nhưng có điều ta cần lưu ý là mục tiêu của Bát
Nhã là một cảnh giới ngoài phạm vi biểu tượng và
chính ở cảnh giới đó Bát-Nhã mới biểu thị chủ ý của
nó một cách đích thực.
Trước
hết, đứng về phương diện nhận thức luận mà nhận xét
thì Bát-Nhã chủ trưởng rằng tất cả hiện tượng đều
là biểu tượng của tâm ta, ngoài tâm ra tất cả đều là
không; tuy nhiên Bát-Nhã không hoàn toàn phủ nhận sự tồn
tại của hình nhi thượng học. Nói đến sự tồn tại thì
tuy Bát-Nhã không chấp nhận danh từ đó, song, dù sao thì Bát-Nhã
cũng thừa nhận rằng dưới những lớp hiện tượng có một
cái gì bất biến bất động. Mà cái bất biến, bất động
đó không thể dùng một danh từ nào thích hợp để diễn
tả được, về mặt biểu tượng chỉ có thể gọi đó là
cảnh giới khái niệm, như vậy, ngoài chữ "không" ra, không
còn phương pháp nào khác để diễn tả cái chân ý của nó.
Nhưng cái không đó không phải là cái không trống rỗng, hư
vô, chỉ toàn phủ định tính, mà là cái không linh động,
cái không : “Diệu-Hữu". Tuy cái không cũng phủ
định ý nghĩa hiện tượng, nhưng một khi đã đạt đến
Diệu-Hữu thì lại từ căn đễ của hiện tượng làm cho
ý nghĩa hiện tượng sống lại. Đó là thuyết mà kinh
Bát Nhã mệnh danh là “Chân Không Diệu Hữu”,
là “thực tướng” của các pháp. Trên bề
mặt tuy ý nghĩa đó chưa hiển trứ một cách rõ ràng, nhưng
ở bề trong thì nó đã bao hàm đầy đủ, và cái thường
được gọi là " sắc tức thị không, không tức thị sắc"
chính là để biểu thị ý nghĩa đó. Tư tưởng Chân-như của
Bát-Nhã, nếu đứng về phương diện nhận thức luận mà
nói thì thật sự đã xuất phát từ điểm này.
Lại
đứng về phương diện tu dưỡng mà nói, Bát-Nhã tuy căn cứ
vào thuyết không mà xúc tiến chữ nghĩa không chấp trước
như đã nói ở trên, nhưng không chấp trước ở đây không
phải chủ nghĩa tu dưỡng lấy tiêu cực, ẩn tuẫn làm mục
tiêu sinh hoạt, mà, trái lại, không chấp trước vào bất
cứ một việc gì để phát huy cái tinh thần hoạt động tự
do vô ngại. Chẳng hạn, kinh Kim Cương nói : " Ưng vô sở trụ
nhi sinh kỳ tâm" đó là cực điểm tu dưỡng của Bát-Nhã.
Do đó ta thấy kinh Bát-Nhã đã đạt qua được cái không để
nói lên cái năng lực tự do của nó một cách rất khoáng
đại. Thậm chí còn nói cái tác dụng vi diệu có thể lấp
biển dời non, cái diệu lực có thể dung nạp trăm nghìn núi
Tu Di trong một sợi lông cũng đều do cái năng lực đại tự
do đó mà thực hiện được.
Kinh
Bát-Nhã cũng đặt nặng vấn đề từ bi cứu khổ. Thế giới
quan bình đẳng của Bát-Nhã, về mặt luân lý, có thể nói
là vì thương hết thảy chúng sinh mà thực hiện. Nói một
cách đơn giản, sự tu dưỡng về không quán của Bát-Nhã
không phải là một cái gì tiêu cực, mà là một cái gì đầy
tính chất tích cực lấy sự thực hiện sai-biệt-giới một
cách cụ thể làm mục đích. Nói cách khác, đối với sai-biệt-giới
cụ thể vận dụng tất cả mọi hoạt động Vô-vi, vô-tác
để thực hiện Ðệ-Nhất-Nghĩa-Không, bình đẳng vô sai biệt:
đó là lập trường thực tiễn của Bát-Nhã. Như vậy, Bát-Nhã
không phải lấy chủ nghĩa hư vô, hoặc vô-vũ-trụ-luận làm
chổ lập cước, mà lập trường của Bát-Nhã là từ Chân-Không
trở lại khẳng định hết thảy để thành lập Diệu-Hữu.
Nếu đứng về phương diện này mà nói thì Chân-như quan của
Bát-Nhã đã căn cứ vào giá trị của sự hoạt động cụ
thể vô ngại mà được đề xuất.
TIẾT
THỨ TƯ :
CHÂN NHƯ QUAN
CỦA BÁT NHÃ.
1)
Tài liệu về Chân-như quan của kinh Bát-Nhã.
Muốn
nói đến toàn bộ lập trường của Bát-Nhã, trước hết
ta lại phải khảo sát về tư tưởng Chân-như quan. Mà muốn
hiểu rõ tư tưởng đó lại cũng cần phải xét qua những
tài liệu nghiên cứu của nó. Sở dĩ phải thế là vì chúng
tôi muốn cống hiến một chút tiện nghi cho những ai muốn
nghiên cứu về vấn đề này một cách xa hơn.
Tưởng
không cần nói ai cũng biết rằng trong Ðại Tạng kinh có rất
nhiều kinh Bát-Nhã. Nhưng trong đó bộ hoàn bị hơn cả là
bộ Ðại Bát-Nhã gồm 600 quyển do Huyền Trang dịch. Ta có
thể nói đó là bộ Bách Khoa toàn thư về loại Bát-Nhã (ở
đây không kể đến Nhân Vương Bát-Nhã, vì bộ này có thể
là kinh giả). Có điều nên chú ý là mặc dầu kinh Bát-Nhã
có nhiều loại song về hình thức cũng như nội dung, Bát-Nhã
không phải bất đồng mà chỉ có sự sai khác về cách bàn
luận rộng rãi hay tóm lược mà thôi.
Kinh
Bát-Nhã có 600 quyển chia làm năm phần. Phần đầu (400 quyển
đầu), phần hai (78 quyển kế tiếp ) phần ba ( 59 quyển kế
tiếp ), phần bốn ( 18 quyển kế tiếp ) và phần năm ( 10
quyển chót ).
Trong
số 600 trăm quyển có hơn 500 quyển là sự tập hợp của
một tổ chức đồng nhất các kinh văn và chỉ có sự sai
khác ở chổ nói rộng hay nói sơ lược mà thôi. Do đó, ta
có thể nói một cách tóm tắt rằng, về hình thức kinh Bát-Nhã
tuy to lớn, nhưng về nội dung thì lại rất giản dị. Quyển
số tuy có tới mấy trăm, nhưng nội dung tư tưởng, nếu ta
năm bắt được một cách thích đáng và trọn vẹn của một
bộ Bát-Nhã nào đó, thì đại khái ta có thể suy ra manh mối
của các bộ khác. Ðiều này cũng rất thích hợp với phương
pháp sử dụng tài liệu trong việc nghiên cứu tư tưởng Chân-như
của kinh Bát-Nhã.
Vậy
thì tài liệu về Chân-như trong số các bộ đó như thế nào?
Ðiểm này trong kinh Bát-Nhã tuy chổ nào cũng nói đến Chân-như
quan, nhưng có một phẩm đặc biệt bàn luận về vấn đề
này một cách đầy đủ đó là Chân-như Phẩm (Tathata Parivartta).
Tuy
vậy, muốn khảo cứu Chân-như quan của Bát-Nhã, ta cần phải
thông qua toàn bộ, đó là điều tất nhiên. Song, như trên
đã nói, trong nhiều bộ cũng có nhiều chổ đại đồng, tiểu
dị, cho nên muốn đơn giản thì chỉ cần nghiên cứu một
phẩm Chân-như nào đó cũng đủ. Nhưng vấn đề được đặt
ra là liệu theo phương châm đó có thích đáng không? Về điểm
này tôi cho rằng phần thứ tư, tức là Tiểu phẩm Bát-Nhã
( nguyên điển : Attasahasrika Praja-paramita) thích đáng
cả về nội dung lẫn địa vị lịch sử. Phần thứ tư này,
trong các bộ Bát-Nhã dù cho không phải là nguyên bản
đi nữa, nó vẫn là một bộ kinh có tổ chức và có lẽ cũng
là một bộ kinh cổ nhất. Ngoài ra, Đại Phẩm Bát Nhã
(Ðại Bát-Nhã phần thứ hai :Pancavimsati sahasrika Pr.), Ðại
Bản Bát-Nhã (Phần đầu của Bát-Nhã Satasahasrika Pr.) chẳng
qua chỉ là sự triển khai về nội dung của Tiểu phẩm mà
thôi. Không những thế mà trong Tiểu Phẩm còn chứa đựng
nhiều tư tưởng liên quan đến triết học Bát-Nhã Ðại-Bản,
Ðại-Phẩm trở lên, cho nên khi nghiên cứu Chân-như quan của
Bát-Nhã mà lấy tài liệu trong Tiểu Phẩm làm căn cứ chủ
yếu rồi thuận tiện tham khảo bốn phần kia, tức là Ðại-Bản
hoặc Ðại-Phẩm, ta có thể đạt đến mục đích nghiên cứu
một cách đại thể. Thêm vào đó, những tài liệu bổ trợ
cho vấn đề này ta cũng cần phải chú ý, đó là phần thứ
năm trong Ðại Bát Nhã (từ quyển 566 đến 574), tức là Chân-như
quan của Thắng-Thiên-Vương Bát-Nhã. Một khi đạt đến điểm
đó rồi thì phương diện Diệu-Hữu sẽ được tăng cường,
và Chân-như quan cũng sẽ được triển khai một cách rộng
rãi, và ta sẽ thấy nó tương tự như chủ thuyết của kinh
Lăng Già vậy.
Nếu
đứng về phương diện lịch sử mà nhận xét, Thắng-Thiên-Vương
Bát-Nhã có lẽ là sản phẩm có sau hết tất cả năm phần
đã nói ở trên, và có thể được coi là đại biểu cho tư
trào Bát-Nhã khi muốn chuyển hướng dần dần về phương
diện "Hữu". Bởi vậy, nếu muốn tìm hiểu sự phát đạt
của tư tưởng Chân-như, thiết tưởng ta nên bắt đầu từ
Tiểu-Phẩm, rồi lần lượt qua Ðại Phẩm hay Ðại-Bản,
và tiến thêm bậc nữa đến Thắng-Thiên-Vương Bát-Nhã. Ở
đây, nếu ta muốn nghiên cứu Chân-như quan, thật sự cũng
phải theo lịch trình đó. Nói một cách dễ hiểu hơn, ta bắt
đầu từ Tiểu-Phẩm rồi chung kết ở Thắng-Thiên-Vương
Bát-Nhã.
2)
Ý nghĩa của Chân Như :
Bát-Nhã
tuy chủ trương chân tướng của vạn hữu tất kính là không,
nhưng cái không đó không phải là cái ngoan không, hư vô, tuy
không thể dùng ngôn ngữ để diễn tả được, nhưng trên
phương diện thể nghiệm, ít ra nó cũng là một năng tính
hoạt động tích cực như đã trình bày ở trên. Song, nếu
đem cái tuyệt đối không này mà phiên dịch ra nhận thức
luận thì nó có thể được coi là tương đương với cái
mà Khang-Ðức gọi là Ding-an-sich (sự vật tự nó như thế).
Và nếu nói theo hình nhi thượng học thì đó là bản thể
của vạn hữu.
Vì
muốn biểu thị cái ý nghĩa đó nên Bát-Nhã một mặt gọi
chân tướng của vạn hữu là không tín, mặt khác lại dùng
nhiều danh từ khác, như: pháp-giới (dharmadhatu), chân tính
(tattva), pháp-bất-biến-tính (dharmaniya-mata), thực tế (bhutakoti),
tự tính (svabhava-prakti) v.v.
Nhưng
bặc biệt có một danh từ mà Bát-Nhã rất hay dùng, đó là
Chân-như (tathata). Chân-như là một danh từ trừu
tượng mà Bát-Nhã dùng mục đích muốn biểu thị cái bản
nguyên hoặc pháp tắc bất biến của hiện
tượng vốn tồn tại như thế. Về ý nghĩa này, cách thuyết
minh của Bát-Nhã cũng giống như Áo Nghĩa Thư dùng một chữ
Phạm vậy. Tuy Áo Nghĩa Thư nói: "không phải không phải" (neti
neti), nhưng cuối cùng vẫn phải dùng một chữ "Tat" (cái ấy)
để biểu thị sự tồn tại tích cực của vạn hữu, đó
là điểm tương đồng rất hứng thú.
Dĩ
nhiên theo Bát-Nhã thì những danh từ tích cực đó chẳng qua
cũng chỉ là tên khác của cái "không", vì một
khi đạt đến chỗ cùng cực rồi thì Chân-như cũng tức
là phi Chân-như (atathata), tự tính tức phi tự tính
(asvbhava). Lập trường đó tuy có vẻ như phủ định hoàn
toàn. Nhưng, như mọi người đều biết, bản thể của
vũ trụ nếu cho là giống một vật gì cũng không đúng. Mà
không, như đã nói ở trên, không phải cái không trống rỗng
(không hư). Nói một cách khác, quan niệm về không của
Bát-Nhã có thể được coi là phương pháp duệ trí về hình
nhi thượng học của ta. Do phương pháp này, cuối cùng, đạt
đến một cảnh giới đại khái có thể được mệnh danh
là "Chân-như pháp giới có thực tại tính tích cực".
Chính đó mà điều mà trong kinh Thắng Thiên Vương Bát-Nhã
đã nói: "Lấy tâm kính trọng tu tập hạnh không; tu tập
hạnh không nên xa lìa mọi chỗ thấy, xa lìa mọi kiến hoặc,
nên tu hành chính đạo; tu hành chánh đạo nên thấy được
pháp giới" (Ðại Bát-Nhã quyển 567, Ðại Chính Tạng quyển
7, trang 929, phần giữa).
Trở
lại ta thấy Chân-như của Bát-Nhã thật ra chỉ
là tên khác của chữ không, cho nên nói là Chân-như
pháp giới, đứng về quan niệm không, không phải mang một
ý nghĩa đặc biệt nào cả, nhưng về cách thay đổi dụng
ngữ thì, ít ra trên lịch sử tư tưởng Ðại Thừa, nó cũng
ngầm chứa một ý nghĩa hết sức hệ trọng, đó là điểm
ta cần ghi nhận.
Lập
trường của Bát-Nhã tuy là Chân-Không Diệu-Hữu, nhưng nếu
chấp trước chữ không một cách thái quá thì tư tưởng đó
tự nhiên sẽ có khuynh hướng về mặt tiêu cực, mà về sau
chủ trương của phái Trung Quán, tuy về nội dung thì giống
nhau, nhưng do cách dùng lời khác biệt nên gọi là pháp tính,
Chân-như, thực tướng, thật đã giúp nhiều về mặt quan
sát Diệu-Hữu. Chẳng hạn Chân-như quan của Khởi Tín Luận
ít ra cũng đã lấy Bát-Nhã làm điểm xuất phát để quan
sát. Kinh Bát-Nhã dùng danh từ Chân-như để triển khai về
mặt Diệu-Hữu. Ðó là lý do tại sao khi nghiên cứu tư tưởng
Bát-Nhã, ngoài thuyết "không" ra, còn phải lưu tâm đến Chân-như
quan một cách đặc biệt.
3)
Tương đương của Chân-như :
Kinh
Bát-Nhã thuyết minh Chân-như như thế nào? Về điểm nào,
trong kinh Bát-Nhã có nhiều cách, nhưng trước khi đề cập
đến nó, ta phải hiểu thế nào là Chân-như đã. Theo Bát-Nhã
thì Chân-như là cảnh giới do quan niệm không mà đạt tới,
cho nên tuy nói là bản tính của hết thảy các pháp, nhưng
thực thì chỉ chuyên đứng về phương diện nguyên nhân chung
(Finan cause) mà nhận xét.
Nghĩa
là gạt bỏ mọi hiện tượng giả hiện mà chỉ chú trọng
đến cái bản tính bất biến bất động. Thường hằng, an
trụ mà thôi. Nhưng cái bản tính đó làm thế nào để hiển
hiện trong thế giới hiện tượng? Ðến đây lại nảy sinh
một vấn đề mà ta cần chú ý, đó là vấn đề năng động
nguyên nhân (effcient cause). Nếu nói theo danh từ chuyên môn
thì Chân-như quan của Bát-Nhã chỉ thiên trọng về mặt
Chân-như bất biến, chứ về phương diện Chân-như tuỳ duyên
thì vẫn chưa đề cập đến. Ðó là Chân-như quan của
Bát-Nhã. Ðứng về phương diện triết học mà nói thì Chân-như
quan chưa phải là sản phẩm hoàn toàn. Tuy nhiên trong đó cũng
có hàm súc một phần nào về mặt tuỳ duyên, và như vậy,
nếu đứng về phương diện tổ chức mà nói, thì triết
học tuỳ duyên, đến một trình độ nào đó, cũng đã được
thành lập rồi.
Hiểu
như thế rồi, nếu lại trưng ra văn hiến mà nhận xét Chân-như
quan của Bát-Nhã thì như đã được trình bài ở trên, tuy
có nhiều tài liệu, nhưng theo tôi, tài liệu hoàn bị hơn
cả là một đoạn trong Thắng Thiên Vương Bát-Nhã. Ðoạn
kinh hơi dài, nhưng cũng xin trích dịch ra đây để độc giả
tiện việc tham khảo.
“…Lúc
đó Tối Thắng bạch Phật rằng :
_ Bạch
Thế Tôn, thế nào gọi là pháp giới?
Phật
trả lời :
_ Này
Tối Thắng Thiên Vương! Pháp giới là tính không hư vọng.
_ Bạch
Thế Tôn, thế nào là tính không hư vọng?
_ Tính
không hư vọng là cái tính không biến dịch?
_ Thế
nào là tính không biến dịch?
_ Tức
là Chân-như của vạn pháp.
_ Bạch
Thế Tôn, Chân-như của vạn pháp là gì?
_ Ông
nên biết Chân-như rất thâm diệu, chỉ có thể dùng trí (chân
quán trí) mà trực nhận chứ không không phải dùng lời nói
mà diễn tả được. Tại sao vậy? Vì Chân-như của vạn
pháp vượt ra ngoài văn tự, xa lìa vòng ngôn ngữ, tất cả
những lời nói không thể nào miêu tả được. Ngoài
cả mọi sự lý luận, tuyệt hết mọi sự phân biệt, không
có thử, không có bỉ, xa lìa mọi hình tướng, tìm xét cũng
không được, không còn trong vòng phàm phu, vượt ra ngoài mọi
ma sự, xa lìa các chướng hoặc, không thể dùng thức mà biết
được, nó trụ ở chổ vô sở trụ, vắng lặng, trong sáng
: không có ngã, tìm không thể được, không lấy không bỏ,
không nhiểm không trước, trong sạch không bợn, tối thắng
đệ nhất tính thường bất biến, dù có Phật ra đời hay
không, cái tính đó vẫn thế. Này ông Thiên Vương! Ðó là
pháp giới vậy.
Tối
Thắng Thiên Vương bạch Phật :
_ Bạch
Thế Tôn, làm cách nào để chứng được pháp giới đó?
_ Chỉ
khi nào có được cái trí Bát-Nhã xuất thế và cái trí không
còn phân biệt mới có thể chứng được cái pháp giới ấy.
_ Bạch
Thế Tôn, giữa nghĩa "chứng" và "được" có gì sai khác?
_ Cái
trí Bát-Nhã xuất thế có thể thấy một cách đúng đắn
như thật thì gọi là "chứng", còn trí không phân biệt
thì có thể thông đạt, cho nên gọi là "được" (Kinh
Ðại Bát-Nhã, quyển 567, Ðại Chính Tạng quyển 7, tờ 929,
phần trung và hạ).
Căn
cứ vào đoạn kinh trên đây thì Chân-như của các pháp
dù có Phật ra đời hay không nó vẫn là cái thực tính không
biến dịch (ở đây ta có thể liên tưởng đến thuyết
Tứ Ðế Chân-như của Phật Giáo Nguyên thủy ). Song cái thực
tính đó không thể khái niệm và nhận thức được, duy chỉ
nhờ vào cách tu đạo, dùng trí tuệ siêu việt mà trực quán
thì mới chứng được, đó là điểm then chốt của đoạn
văn trích dẫn trên đây. Ðối với vấn đề luận cứu thì
cách trình bài trên đây rất có trật tự, và có thể được
coi như hoàn bị nhất trong những cách thuyết minh về Chân-như
của kinh Bát-Nhã.
Ðề
cập đến cái tướng của Chân-như, luận Khởi-Tín nói :
"Từ xưa tới nay, nó xa lìa mọi hình tướng ngôn ngữ,
văn tự và tâm duyên"; và "duy chỉ dùng trực quan mà
thể nghiệm". Như vậy, ta thấy ý nghĩa trong đoạn kinh trên
với câu nói trong luận Khởi-Tín hoàn toàn giống nhau. Theo
tôi có lẽ cách thuyết minh của Luận Khởi-Tín đã chịu
ảnh hưởng rất nhiều của đoạn kinh trên.
Như
vậy Bát-Nhã lập một Chân-như duy nhất hay lập nhiều Chân-như?
Ðiểm này nếu nhận xét theo những văn hiến của Bát-Nhã
thì hình như lúc đầu Bát-Nhã chủ trương hết thảy các
pháp đều có chân như thực tính. Chẳng hạn về Ngũ Uẩn
thì có sắc Chân-như (Rubata - thata), thụ Chân-như (Vedanatathata)
cho đến thức Chân-như (Vijnana-tathata) v.v. Thậm chí còn nói
ở Như-Lai có Chân-như của Như-Lai, ở Tu-Bồ-Ðề có Chân-như
của Tu-Bồ-Ðề. Theo ý nghĩa đó thì Chân-như quan của Bát-Nhã
có vẻ hơi giống quan niệm của Plato. Vì Plato theo nguyên hình
của các hiện tượng để suy cứu đến cái thường tính
của quan niệm giới, ta có thể cho đó là một tưởng pháp
tương đồng với Bát-Nhã. Mà về sau Duy Thức Tông lập ra
nhiều Chân-như chắc chắn cũng đã phát xuất từ điểm này.
Như
tôi đã trình bày ở trên, Chân-như quan của Ðại-chúng-bộ
đã khuynh hướng thống nhất các Chân-như quan thành một Chân-như
duy nhất. Thế mà Bát-Nhã nếu so sánh với tư tưởng của
Ðại-chúng-bộ thì cấp tiến hơn nhiều, tại sao lại chưa
có sự thống nhất ấy? Ðiểm này, nếu ta lưu tâm khảo sát,
ta sẽ thấy Bát-Nhã cũng đã biểu thị khuynh hướng thống
nhất ấy trong nhiều kinh văn. Chẳng hạn phẩm Chân-như thứ
16 trong Tiểu Phẩm Bát-Nhã nói: "Chân-như của Như Lai
và Chân-như của hết thảy các pháp đều như nhau, không sai
khác", "Chân-như của Như Lai và Chân-như của Tu Bồ
Ðề là một". Lại nữa: "Chân-như của Như Lai tức là
Chân-như của hết thảy các pháp; Chân-như đó là duy nhất,
không có một Chân-như thứ hai (Yacata-thagatatathata yacasarvadharma
tathata eka cva csa tathata advaya. Mitras edition P.3).
Ðiểm
này có vẻ triệt để tương đồng với Áo Nghĩa Thư, vì
Áo Nghĩa Thư chủ trương: Phạm (Ðại-ngã) là duy nhất, không
có cái thứ hai (ekameva advitiyam).
Lại
nữa, Tiểu phẩm thứ 17 cũng nói một cách tương tự: "Này
Tu Bồ Ðề! Hoặc là phàm phu, Thanh Văn, Duyên Giác, cho đến
Phật, hết thảy đều không ngoài Chân-như. Chân-như là một,
không sai khác không biến dị, không phân biệt, ngộ nhập
Chân-như pháp tính (Nguyên điển trang 322, Ðại Chính
Tạng quyển 8, tờ 638, phẩm trung và hạ).
Theo
những ý nghĩa trên đây thì chỉ trên vấn đề hiện tượng
mới chia ra Như Lai, Tu Bồ Ðề, Thanh Văn, Duyên Giác v.v…và
tựa hồ như nhất nhất đều có bản tính Chân-như riêng
biệt; nhưng trên vấn đề thực tại thì chỉ có một Chân-như
đồng nhất, hết thảy đều quay về bản tính chung cùng,
hết thảy đều ở trong Chân-như, bình đẳng không sai khác.
Tóm lại, nếu nói theo Khởi-Tín-Luận thì Chân-như đó là
cái đại tổng tướng của nhất pháp giới, là điểm mà
cuối cùng Bát-Nhã không đạt đến được thì chưa phải
là trọn vẹn.
Cứ
theo những ý nghiã ấy thì Chân-như quan của Bát-Nhã có vẻ
giống khái niệm của Plato, nhưng theo tôi nó có thể được
coi như gần với quan niệm thực tại duy nhất của phái Tân
Plato. Duy có điểm khác biệt là: phái Tân Plato đem cái quan
niệm giới tạp đa của Plato tổng hợp thành một thực tại
duy nhất để nói rõ về sự khai triển của hiện tượng,
điểm này Bát-Nhã vẫn chưa đạt đến (Chân-như của Khởi-Tín-Luận
đã đạt đến điểm này).
Ðến
đây tưởng cũng cần phải nói qua về đương thể của Chân-như:
kinh Bát-Nhã nhận xét thế nào về sự quan hệ giữa Chân-như
và tâm tính? Nói một cách khác, Khởi-Tín-Luận đặc biệt
gọi Chân-như là tâm Chân-như, tuyệt đối tâm để giải
thích Chân-như, vậy kinh Bát-Nhã có đứng trên lập trường
đó để giải thích không. Ðứng về mặt biểu hiện mà nói,
nếu căn cứ theo Bát-Nhã thì Chân-như là một cái gì tồn
tại ngoài vòng ngôn ngữ, không thể nghĩ bàn được, bởi
thế không thể bảo nó là tâm hay vật. Tuy nhiên, nếu sâu
vào bề trong mà say luận theo lập trường Bát-Nhã , hoặc
căn cứ theo những đoạn văn tản mát ở nhiều nơi mà nói,
thì Chân-như của Bát-Nhã chủ yếu là tâm chân-như
, chung quy không ngoài bản tính của tâm.
Trước
hết hãy nhận xét về mặt văn hiến, Phẩm Thậm Thâm Nghĩa
thứ 19 trong Tiểu Phẩm (Nguyên điển trang 555) có một đoạn
văn đối thoại giữa Phật và ông Tu Bồ Ðề về quan niệm
giữa Chân-như với tâm (Citta). Ðoạn đối thoại này tuy không
phải là một chứng minh trực tiếp, nhưng nó có thể giúp
ta rất nhiều trong việc nghiên cứu, bởi thế tôi xin trích
dịch ra đây để độc giả tiện theo dõi.
“…Phật
hỏi :
_ Này
ông Tu Bồ Ðề! Theo ông thì Chân-như có sâu xa không?
_ Bạch
Thế Tôn, rất sâu xa.
_ Theo
ông thì trong Chân-như có tâm không?
_ Thưa
không.
_ Như
vậy ông có cho rằng tâm tức là Chân-như không?
_ Thưa
không.
_ Nếu
thế thì ông cho tâm và Chân-như là hai cái khác nhau?
_ Bạch
Thế Tôn cũng không phải thế.".
Căn
cứ theo ý nghĩa trên thì tâm và Chân-như không phải
một cũng không phải khác (phi nhất, phi dị), nhưng
một lập trường của Bát-Nhã, nếu tìm hiểu đến mối quan
hệ giữa cái phi nhất, phi dị đó thì rất ráo tâm tính tức
là Chân-như. Ðó là điểm ta không thể bỏ qua. Bởi lẽ khi
nói đến tâm thì chủ yếu là chỉ cái tâm hiện tượng,
cho nên nếu nói là một cũng không được, mà nói là khác
cũng không thoả đáng. Song tiến thêm một bước nữa mà tìm
bản tính của tâm thì cái bản tính đó phải là một vật
gì mà Bát-Nhã gọi là Chân-như : đó là lý do lập thành Chân-như
quan của Bát-Nhã. Còn về thuyết Tâm Tính Bản tịnh thì Bát-Nhã
cũng cho rằng tâm tính vốn trong sạch, nhưng chỉ vì phiền
não che lấp trở thành mê mờ ( xin coi Phẩm Pháp Tính trong
Thắng Thiên Vương Bát-Nhã ).
Tâm
tính mà Bát-Nhã chủ trương ở đây không phải là chỉ thuộc
phạm vi tâm tính cá nhân, mà cái tâm thanh tịnh đó còn là
nguồn gốc của tất cả các pháp thanh tịnh. Về điểm này
tôi xin trích dịch một đoạn đối thoại giữa Phật và ông
Tu Bồ Ðề trong phẩm Than Tịnh thứ 8 của kinh Phật Mẫu
Bát-Nhã Tiểu Phẩm ( nguyên điển Phạm ngữ trang 188-189).
" Ông
Tu Bồ Ðề hỏi :
_ Bạch
Thế Tôn, Tự-ngã ( atman) thanh tịnh cho nên sắc thanh tịnh?
_ Ðúng
thế.
_ Bạch
Thế Tôn, Tự-ngã thanh tịnh nên thụ, tưởng, hành thanh tịnh
; Tự-ngã thanh tịnh nên thức thanh tịnh ; Tự-ngã thanh tịnh
nên quả thanh tịnh; Tự-ngã thanh tịnh nên hết thảy trí
đều thanh tịnh; Tự-ngã thanh tịnh nên không có gì để được,
không có gì để chứng. Tự-ngã vô biên nên sắc cũng vô
biên; Tự-ngã vô biên nên thụ, tưởng, hành thức cũng vô
biên.
_ Rất
đúng!.
Trên
đây là ý kiến của ông Tu Bồ Ðề nhận định từ sự thanh
tịnh vô biên của Tự-ngã mà chủ trương hết thảy
các pháp đều thanh tịnh vô biên, và đức Phật đã
hoàn toàn tán đồng ý kiến đó. Như vậy ta thấy rằng sự
thanh tịnh vô biên của vũ trụ hoàn toàn dựa trên sự thanh
tịnh vô biên của Tự-ngã. Nếu nói theo lập trường
của Bát-Nhã thì cái Tự-ngã đó tức là cái Chân-như vậy.
Nhưng
trong Bát-Nhã vẫn chưa có được sự thống nhất về Chân-như
như tôi đã trình bày ở trên, tuy nhiên, nếu Chân-như được
coi là cái tâm tuyết đối thì không những nó bao hàm được
cả tổng tướng của một pháp giới, mà còn bao hàm cả bốn
đức thường, lạc, ngã, tịnh nữa. Theo tôi đây không phải
là một nhận xét quá đáng. Hơn nữa, Bát-Nhã thường nói
đến danh từ Như-lai (Atahatata), mà Như-lai tức là Chân-như
mà ra. Còn trong Thắng Thiên Vương Bát-Nhã thì Chân-như lại
còn được gọi là Pháp thân (dharmakaya). Ðến Khởi-Tín-Luận
thì Chân-như và pháp thân lại được coi là một, nghĩa là
ngoài cái tâm tuyệt đối duy nhất ra không có một Chân-như
nào khác tồn tại. Ðây là tài liệu chứng minh rất cụ thể.
Lại
nữa, đứng về phương diện nhận thức luận của Bát-Nhã
mà nói thì, như tôi đã nói ở trên, Bát-Nhã coi hiện tượng
giới chỉ là sản vật của sự chấp trước của ta mà có.
Song bản tính Chân-như của hiện tượng thì chung cục cũng
không ngoài cái tâm tính căn bản của sự chấp trước và
biểu tượng, bởi vì hết thảy hiện tượng trong vũ trụ
đều do tâm tạo tác và Chân-như của hiện tượng tức là
Chân-như của tâm, ngoài ra tâm ta không thể tìm kiếm Chân-như
ở nơi nào khác.
Như
vậy, nếu theo giáo chứng, lý chứng mà tìm cầu chân tướng
củan Chân-như thì Chân-như của kinh Bát-Nhã chung cùng có
thể coi là cái tâm tuyệt đối duy nhất và tư tưởng "duy
thị nhất tâm cố danh Chân-như " của Khởi-Tín-Luận
có thể nói đã phát xuất từ tư tưởng Bát-Nhã. Do đó,
nếu giải thích theo một cáhc khác thì ta có thể cho rằng
Chân-như đa nguyên của Bát-Nhã chẳng qua cũng chỉ là cái
hình tướng sai khác của cái tâm tuyệt đối duy nhất, thường
hằng bất biến đó mà thôi.
4)
Chân-như bản nguyện của hiện tượng.
Chân-như
của kinh Bát-Nhã như đã nói ở trên chủ yếu là đứng trên
lập trường lý thể hoặc lý niệm bất biến bất động
mà giải thích. Theo danh từ chuyên môn là lấy bất
biến Chân-như làm chủ. Do đó
tư tưởng coi Chân-như là bản thể của hiện tượng tuy đã
được thành lập, nhưng trong kinh Bát-Nhã, tư tưởng đó đã
được triển khai như thế nào? Cái gọi là Chân-như
tuỳ duyên là một
vấn đề vẫn còn lờ mờ,
và chính vấn đề đó sau này Khởi-Tín-Luận đã đặc thành
một vấn đề chủ yếu. Bởi lẽ đặc trưng Chân-như
quan của Khởi-Tín-Luận là thuyết minh vè phương diện tuỳ
duyên. Ðiểm này như đã nói ở trên, tuy dựa vào bản
thể của vạn hữu để kiến thiết một thế giới lý niệm,
nhưng trong thế giới lý niệm đó vạn hữu sinh khởi như
thế nào? Về vấn đề này vẫn còn nhiều suy luận, và lập
trương Bát-Nhã và Khởi-Tín đại khái cũng giống nhau. nhưng
đã lấy Chân-như làm bản thể của vạn hữu thì về nhu
cầu luân lý nếu không thuyết minh rõ điểm đó thì quyết
không thể nào nắm bắt được ý nghĩa của bản thể đó
là điểm mà trong Chân-như quan của Bát-Nhã đã cố đạt
đến, song vẫn chưa thực hiện được. Tuy nhiên đó vẫn
là một điểm trọng yếu trong lịch trình phát triển của
tư tưởng Chân-như sau này.
Nếu
căn cứ vào văn hiến thì trong Tiểu Phẩm vẫn chưa nói đến
tư tưởng vạn hữu từ Chân như phát sinh. Chẳng hạn trong
phẩm Pháp-Tính (kinh Ðại Bát-Nhã quyển 569) nói:
"Các
pháp tuy sinh Chân-như bất động: Chân-như tuy sinh ra các pháp,
Chân-như không sinh, đó gọi là Pháp-thân" (Ðại-Chính-Tạng,
quyển 7, tờ 937).
Xin
lấy một thí dụ nữa. Trong phẩm Hiển Tướng (Ðại-Bát-Nhã,
quyển 567) có đoạn nói:
“Thiên
Vương nên biết, ví như nước từ chỗ cao chảy xuống chỗ
trũng, Bát Nhã Ba La Mật cũng lại như thế, hết thảy
các thiện pháp trong thế gian đều từ Chân-như pháp giới
mà ra" (Ðại Chính Tạng quyển 7, p. 937).
Theo
ý nghĩa của đoạn kinh trên đây thì Chân-như
tuy bất biến nhưng lại có thể sinh khởi các pháp, thế gian
này đã xuất phát từ Chân-như,
đó là điểm ta cần phải lưu ý. Ý nghĩa đó tuy chưa hẳn
đã lộ rõ, nhưng ta có thể thấy cái manh nha của tư tưởng
Chân-như tùy duyên đã bắt đầu phát hiện. Dĩ
nhiên ai cũng rằng từ giai đoạn này trở lên. Chân-như
quan của kinh Bát Nhã, vì chưa có sự giải thích tường tận
về cái tùy duyên, cho nên khi khảo sát đến vấn đề
đó tuy có chỗ chưa rõ ràng lắm, nhưng dù sau đi nữa thì
Chân-như quan của Bát Nhã đến đây, không nhiều thì ít,
cũng đã có khuynh hướng về phương diện tùy duyên rồi,
đó là một sự thật không còn hoài nghi. Chẳng hạn Khởi-Tính-Luận,
cho cái lý do của Chân-như tùy
duyên là do "hốt
nhiên một niệm vô minh sinh khởi".
Ðiểm này tưởng không cần phải nói ai cũng biết rằng kinh
Bát Nhã vẫn chưa nói đến, nhưng nếu suy cứu cho thật tỉ
mỉ thì ta sẽ thấy thuyết đó vẫn có sẳn trong Bát Nhã.
Trước hết xin dẫn chứng nhận thức luận của Bát Nhã.
Theo
Bát Nhã, thế giới của chúng ta đây vốn lấy vô minh làm
căn bản, rồi do chấp trước vào biểu tượng hỗ tương
kết hợp mà sản sinh ra. Lấy đó làm bản thể để diễn
đạt thuyết Chân-như thì cái thế giới hiện tượng này
rốt cuộc chỉ là đám mây vô minh che lấp Chân-như, mà đám
mây lại do kết quả của một hình thái nhất định nào đã
nằm sẳn ngay trong Chân-như sản sinh ra. Và đám mây đó không
gì khác hơn là sự chấp trước vào biểu tượng, cho nên
chung cục ta có thể quy kết nó vẫn là "hốt nhiên một niệm
vô minh sinh khởi" của Khởi Tính Luận.
Như
vậy mặc dù Chân-như của kinh Bát Nhã chủ yếu đứng
về phương diện bất biến, song trong đó vẫn có xu hướng
về mặt duyên khởi, nếu suy cứu đến cùng ta thấy nó vẫn
phù hợp với cách giải thích của Khởi Tính Luận.
Mà điều này, trong lịch sử Tư tưởng Phật Giáo, có một
ý nghĩa đặc biệt trọng yếu mà từ trước đến nay chúng
ta thường không chú ý mấy về sự quan hệ giữa tư tưởng,
thì nay không nhiều thì ít, chúng ta đã phát hiện được.
Nói
cho dễ hiểu hơn, Chân-như tùy duyên luận của Khởi Tín cũng
lấy tư tưởng của Bát Nhã làm bối cảnh, đó là điều
không thể không thừa nhận. Nếu lại hạn cục ở lập trường
Chân-như luận mà nói thì như đã nhắc đi nhắc lại nhiều
lần, Khởi Tín lấy Chân-như
duyên khởi làm đặc trường, nhưng Du-Già (tức Pháp-Tướng-Tông)
thì lại nói Chân-như yên nhiên không tạo tác các pháp,
không có sức phát triển vạn h