I.
CUỘC KHỦNG HOẢNG HIỆN TẠI
Chúng
ta đang ở vào trong một giai đoạn quyết liệt nhất của
đời sống nhân loại. Chưa bao giờ trong lịch sử loài người
lại có quá nhiều người phải mang những gánh nặng đau đớn
dày vò tâm can đến như thế. Chúng ta đang sống trong một
thế giới mà những thảm trạng đã trở thành phổ biến.
Mọi truyền thống và tập tục đang bị lung lay tận gốc.
Những tư tưởng cho đến hôm qua vẫn còn là “khuôn vàng
thước ngọc”, đã có thể hướng dẫn và qui định hành
vi con người hàng bao nhiêu thế kỷ, thì hôm nay đã bị quét
sạch. Thế giới rách nát vì những hiểu lầm, nghi kỵ, tranh
giành. Bầu không khí tràn đầy những bất trắc và lo âu
cho tương lai. Những khổ thống và cực nhọc của con người
ngày càng tăng, sự khó khăn về kinh tế, các cuộc chiến
tranh trên một quy mô lớn, sự bất đồng ý kiến trong các
cuộc hội nghị cấp cao và tính lì lợm của những kẻ cầm
quyền đang muốn và kéo dài một trật tự đang sụp đổ,
muốn cứu một nền văn minh khập khễnh bằng bất cứ giá
nào, tất cả những thứ đó đang thức tỉnh một tinh thần,
mà bản chất là cách mạng, trên khắp toàn cầu. Danh từ
“cách mạng” không phải luôn luôn chỉ các cuộc bạo động
của quần chúng và tàn sát giai cấp thống trị. Bất cứ
sự đòi hỏi cấp bách nào về sự thay đổi triệt để nền
tảng của đời sống văn minh đều là đòi hỏi cách mạng.
Tiếng cách mạng dùng theo hai nghĩa: 1. Sự nổi dậy đột
nhiên và bạo động kết quả đưa đến một cuộc chính biến,
chẳng hạn như cuộc Cách Mạng Pháp cuộc Cách Mạng Nga; 2.
Sự chuyển tiếp dần dần qua một thời kỳ từ một chế
độ xã hội này qua một chế độ xã hội khác, chẳng hạn
như cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ Anh. Cái làm cho một thời kỳ
có tính chất cách mạng không phải là sự thật thay đổi
thường thấy trong lịch sử, mà là do mức độ thay đổi.
Sở dĩ thời đại hiện tại là thời đại cách mạng là
vì cái mức độ thay đổi quá nhanh. Xung quanh ta, đâu đâu
cũng nghe tiếng đổ vỡ, những đòi hỏi thay đổi trong cơ
cấu xã hội, chính trị và kinh tế, trong những lĩnh vực
tín ngưỡng, tư tưởng, trong những phạm trù căn bản của
con người. Các nhà trí thức, sáng suốt và tỉnh táo, nhận
thấy cái gì sai lầm ngay từ nền tảng của những cơ cấu
chính trị, kinh tế và kỹ nghệ hiện tại, và người ta phải
sửa đổi những khuyết điểm đó nếu muốn cứu vãn nhân
loại.
Các
nhà khoa học cho ta biết, trái đất có thể tiêu diệt bằng
nhiều cách. Nó có thể bị hủy diệt khi nguyệt cầu tiến
lại gần trong một tương lai xa vời, hay bởi mặt trời nguội
lạnh đi. Một vì sao chổi có thể va vào trái đất, hay một
thứ hơi độc có thể thoát ra từ chính trái đất. Tuy nhiên
tất cả những cái đó chỉ là những khả-năng-tính xa vời,
trong khi ấy rất có thể con người sẽ tự diệt bởi chính
những hành động có tính toán của chính con người, bởi
tính xuẩn động và ích kỷ đã “thâm căn cố đế” trong
bản tính của con người. Thật mỉa mai, chua chát, lẽ ra chúng
ta đã được sống một cuộc sống sung sướng trên trái đất
này và biến nó thành một lạc cảnh cho tất cả mọi người
nếu chúng ta chỉ dành một phần rất nhỏ những năng lực
hiện đang dùng vào việc kiện toàn bộ máy chiến tranh [1]
thì, ngược lại chúng ta đã để mặt cho chết chóc và tàn
phá hoành hành. Một khuynh hướng tàn phá mù quáng hình như
đã ám ảnh con người, và nếu không chặn đứng kịp thời,
chúng ta nhanh chóng đi đến tiêu diệt hoàn toàn và sửa soạn
cho một thời đại trí thức tăm tối, đạo đức man rợ,
trong đó tất cả những thành quả cao đẹp của con người
ở quá khứ chỉ còn là một đống tro tàn. Cái thảm trạng
ấy chắc chắn sẽ làm cho chúng ta đau đớn, vò xé cả thể
chất lẫn tâm hồn. Chúng ta đang sống trong một thời kỳ
đầy lo âu. Cả thế giới đang chìm trong trạng thái hôn mê.
Chúng
ta đặt tất cả hy vọng tương lai vào những người có tâm
hồn cao cả sẽ mang lại cho thế giới niềm hoan lạc và tươi
sáng hơn. Trong mấy chục năm gần đây, không những chúng
ta đã có sự phát triển về vật chất mà ngay cả ý thức
đạo đức và tình cảm xã hội cũng đã tiến bộ một cách
rõ rệt. Ước vọng đem áp dụng thành quả của công cuộc
phát minh khoa học vào việc cải thiện đời sống càng ngày
càng tăng. Ý thức trách nhệm và quan hệ giữa người với
người cũng đã phát triển trông thấy. Những chiến dịch
chống lại việc bắt trẻ con làm việc nặng nhọc, quy luật
lao động, trợ cấp người già cả và bồi thường cho những
tai nạn v.v… là một vài thí dụ cho thấy ý thức về nghĩa
vụ đối với mọi người trong xã hội đang tăng gia. Chưa
bao giờ trong lịch sử thế giới người thấy ước vọng
hòa bình lại tha thiết và lòng thù ghét chiến tranh lại mãnh
liệt như hiện nay. Lòng dũng cảm bao dung và sự hy sinh không
vụ lợi của hàng triệu con người trong cuộc chiến tranh
này đã chứng minh sự tiến bộ về ý thức đạo đức và
tình thương nhân loại.
Sự
đang xảy ra hiện nay không phải chỉ ảnh hưởng đến vận
mệnh của một quốc gia, Anh, Đức, Nga hay Hoa Kỳ mà liên
quan đến toàn thế giới. Nó không phải chỉ là một cuộc
chiến tranh, nhưng là một cuộc cách mạng xã hội trong đó
chiến tranh là một cục diện, một sự thay đổi toàn thể
tư tưởng và những cơ cấu, một cuộc khủng hoảng đến
tận nền tảng của nền văn minh của chúng ta. Lịch sử đã
đặt thế hệ chúng ta vào một thời kỳ như thế và chúng
ta phải cố gắng hướng dẫn cuộc cách mạng để phận sự
lý tưởng chung. Chúng ta không thể xoay ngược cuộc cách mạng.
Nền trật tự cũ, cha đẻ của những Hitlers, Mussolinis và
Tojos, phải được đạp đổ. Những ai chiến đấu chống
lại bọn họ phải nhận chân rằng, ngay bây giờ và tại
đây, mình đang đặt cơ sở cho một nền trật tự tự do
mới. Chúng ta phải can đảm nếu chúng ta muốn hòa bình và
chặn đứng mọi mầm móng gây ra tai họa cho tương lai. Để
có
được hòa bình lâu dài, chúng ta phải diệt trừ những yếu
tố gây ra chiến tranh, và phải thành thật trong cách sống
mới, có nghĩa là chúng ta phải gạt bỏ những quan niệm cố
chấp sai lầm. Chúng ta đừng vì lòng căm thù, vì những nỗi
thống khổ bởi sự xâm lăng mà phán đoán kẻ thù một cách
bất công. Ngay với kẻ tàn bạo chúng cũng phải tình nhân
đạo; chúng ta hãy nhìn về tương lai và đừng để lòng thù
hận nhỏ nhen vô ý thức làm lu mờ cái viễn tượng huy hoàng
của nó.
Thế
giới đang đứng giữa ngã ba đường và chỉ có hai lối để
lựa chọn: đó là tổ chức nó thành một khối hoặc là những
cuộc chiến tranh định kỳ. Chúng ta tạo ra xã hội trong đó
chúng ta sống. Ta là chủ nhân ông của các chế độ mà vốn
đã đi theo một đường hướng sai lầm và ta phải tìm ra
một phương thuốc để cứu chữa cái xã hội bệnh hoạn
này. Nếu, cho tới giờ đây, nền văn minh đã tiến bộ mà
nhân loại hiện đang quằn quại trong đau khổ, điều đó
không có nghĩa là nó đang bị một tiến trình lịch sử tàn
bạo đưa đến sự tự diệt. Những thời kỳ sáng tạo lại
là những thời kỳ nhiều thống khổ [2]. Thế giới sẽ phải
trải qua một giai đoạn nhiều khủng hoảng trước khi tiến
tới sự quân bình mới. Mặc dầu chậm chạp, đôi khi còn
tụt lùi nữa, nhưng nhất định nhân loại sẽ phải đi đến
một thế giới tốt đẹp hơn. Nhưng tiến trình ấy còn tùy
thuộc vào lòng dũng cảm và trí khôn ngoan của con người.
Những mục đích xây dựng có thể cứu vãn nhân loại thường
đã bị bỏ quên, không phải vì thiếu thiện chí, nhưng vì
đầu óc hỗn loạn và tính rụt rè của con người.
Chú
thích:
[1]
Cp. Samuel Butler: “Chỉ trừ loài người, còn tất cả động
vật đều biết rằng mục đích của cuộc sống là hưởng
thụ nó”.
[2]
Cp. “Con người hiện đại đã đến điểm cao nhất, nhưng
ngày mai họ sẽ bị vượt qua; thật vậy họ là sản phẩm
cuối cùng của một thời kỳ triển khai lâu dài, nhưng, đồng
thời, cũng là mối tuyệt vọng đau đớn nhất của niềm
hy vọng của loài người. Chính họ cũng nhận thấy điều
đó. Họ đã thấy khoa học, kỹ thuật và tổ chức đã mang
lại lợi ích như thế nào nhưng chúng cũng gây ra tai biến
như thế nào rồi. Họ cũng đã thấy những chính phủ “mạnh”
dọn đường đến hòa bình theo nguyên tắc “trong hòa bình,
chuẩn bị chiến tranh”. Giáo Hội Thiên Chúa, Tình Huynh Đệ
nhân loại, nền Dân Chủ xã hội quốc tế, và sự “liên
đới” những quyền lợi kinh tế, tất cả đều đã thất
bại trong cuộc thử lửa – đối diện với cái thực tế…
Rốt cục, đằng sau biện pháp hòa dịu ấy vẫn có một mối
hoài nghi đang nhấm gặm. Tóm lại, tôi tin rằng tôi không
phóng đại khi tôi nói rằng, về mặt tâm lý, con người hiện
đại hầu như đã hứng chịu một đòn chí mạng, và kết
quả, đã rơi xuống vực thẳm hoài nghi” – C.G. jung, Modern
Man in Search of a Soul, E.T. (1993), pp. 230-31.
II.
XÃ HỘI CUỒNG LOẠN
Sự
cuồng loạn trầm trọng trong đời sống xã hội hiện nay
là vì sự mất thăng bằng giữa các chế độ xã hội và
mục đích quốc tế. Thiên nhiên đã tạo cho nhiều chủng
tộc những ngôn ngữ, tôn giáo và truyền thống xã hội khác
biệt, và đặt trước loài người nhiệm vụ kiến thiết
một nền trật tự trong thế giới nhân loại và tìm ra một
lối sống nhờ đó những chủng tộc khác nhau có thể chung
sống hòa bình mà không dựa vào vũ lực để giải quyết
những bất đồng giữa họ. Thế giới không phải là một
bãi chiến để các quốc gia tranh giành xâu xé nhau mà là một
nền cộng hòa của các dân tộc dị biệt hợp tác với nhau
trong một nổ lực xây dựng để hoàn thành cái sứ mạng
cao cả là đem lại cuộc sống hòa bình và thịnh vượng cho
tất cả mọi người.
Những
điều kiện cần thiết cho sự đoàn kết thế giới đã có
sẵn; chỉ còn thiếu ý chí của loài người mà thôi. Những
trở ngại chia cách lớn như biển cả, núi rừng không còn
hiệu lực gì nữa. Bằng những phương tiện giao thông, vận
tải hiện có, thế giới đã trở nên nhỏ bé. Khác với tôn
giáo và tập tục có tính cách địa phương, khoa học không
chấp nhận những biên giới chính trị hay xã hội, và nói
một thứ tiếng mà tất cả các dân tộc điều hiểu. Sự
va chạm của con người “máy” đã phá vỡ thế giới tiền
cơ giới gồm các quốc gia hoàn toàn biệt lập. Cuộc cách
mệnh kỹ nghệ đã ảnh hưởng đến các cơ cấu kinh tế
quá hoàn toàn đến nỗi chúng ta đã trở thành một xã hội
thế giới với một nền kinh tế thế giới đòi hỏi một
trật tự thế giới. Khoa học khám phá những yếu tố đồng
nhất trong vũ trụ là nền tảng của đời sống nhân loại.
Triết học hiển bày một ý thức phổ biến đằng sau thiên
nhiên và nhân loại. Còn tôn giáo hướng con người đến những
nỗ lực giải phóng tâm linh.
Trong
những giai đoạn đầu của cuộc tiến hóa, dĩ nhiên nhân
loại còn sống trong những hoàn cảnh biệt lập, tư tưởng
cũng như tình cảm còn trong trạng thái lãnh đạm. Nhưng, khi
quốc gia hình thành thì con người cảm thấy cần phải có
một trật tự xã hội và quyền lực trung ương vững mạnh
để giải quyết những cuộc tranh chấp và nội chiến giữa
các bộ lạc. Nhiều quốc gia đã đạt đến sự đoàn kết
dân tộc, và chỉ cần đẩy mạnh tiến trình ấy lên một
bước nữa là có thể hoàn thành sự đoàn kết thế giới.
Những cội rễ loài người bám sâu hơn những sợi dây chủng
tộc và quốc gia. Trái đất của chúng ta không còn chỗ cho
chủ nghĩa ái quốc hẹp hòi. Bối cảnh lịch sử, những điều
kiện khí hậu và sự liên hồi đã biến đổi bộ mặt của
các chủng tộc ngày nay. Chúng ta đều có những tiến trình
tinh thần, những phản ứng tình cảm và những ước muốn,
những yêu cầu căn bản như nhau. Trong cuốn Descent of Man (sự
xuất hiện của loài người), Darwin nhận xét: “Khi loài người
tiến bộ về văn minh và các bộ lạc nhỏ được kết cấu
lại thành những cộng đồng lớn hơn thì cái lý lẽ giản
dị nhất sẽ cho mỗi cá nhân biết rằng anh ta phải mở rộng
xã hội tính và tâm đồng tình của anh ta cho tất cả mọi
người trong cùng một quốc gia, mặc dù anh ta không hề quen
biết. Một khi đã đạt đến điểm đó rồi thì cái mà ngăn
cản không cho anh ta mở rộng tâm đồng tình cho người của
tất cả các quốc gia và nhân loại chỉ là một chướng ngại
giả tạo mà thôi”. Darwin sẽ rất kinh dị khi nghe người
ta bàn đến sự độc tôn của chủng tộc và đề cao một
giống người như những đứa con yêu của Thượng Đế.
Sự
thôi thúc của chủ nghĩa quốc gia và những lý tưởng của
nó vẫn còn ngự trị trong đầu óc của các dân tộc bất
luận chính kiến của họ là Quốc Xã, Cộng Sản, Phát Xít
hay Dân Chủ, và như vậy, những năng lực của con người
đã bị tách ra khỏi con đường tiến hóa của chính nhân
loại để đi vào các ngỏ hẹp. Chúng ta chỉ đoán nhận những
người máu mủ ruột thịt, hoặc những người, không nhiều
thì ít, chúng ta có quen biết mà thôi. Một thứ giáo dục
sai lầm chúng ta tiếp nhận ngay từ thuở nhỏ đã biến chúng
ta thành nạn nhân “Nhiệt tình” của quốc gia. Chúng ta cho
vũ lực, tính đê hèn và hành vi man rợ hoàn toàn thông thường
nếu chúng có liên hệ với chính nghĩa quốc gia.
Chử
nghĩa quốc gia không phải là “thiên” tính. Nó là một tình
cảm nhân tạo. Tình yêu quê hương, trung thành với truyền
thống địa phương không có nghĩa là thù nghịch với những
người láng giềng. Nếu ngày nay niềm tự hào quốc gia trở
nên mãnh liệt thì đó chỉ chứng tỏ bản tính con người
có khả năng tự lừa dối một cách phi thường. Chử nghĩa
ái quốc đã giết mất lòng kiền thành và nhiệt tình hợp
lý. Những kẻ không may mắn trong việc xâm chiếm đất đai
phản đối sự phân chia trái đất một cách bất công. Người
Anh có một phần tư đất đai trên thế giới. Sau đó là người
Pháp. Ngay cả các nước nhỏ bé như Hà Lan, Bỉ và Bồ Đào
Nha cũng có những thuộc địa lớn. Nước Đức cần đất
sống, để bành trướng và thống trị. Sự cần đất sống
đã trở thành động cơ điều khiển các chính sách của các
cường quốc đầy dã tâm tham vọng. Nếu ta giả định rằng
một dân tộc hùng mạnh nhất phải là bà chủ toàn cầu thì
sự tàn khốc bất nhân sẽ trở thành mục tiêu đeo đuổi.
Khi một học giả Oxford hỏi Hitler về chính sách của ông
ta, Hitler đã chỉ trả lời vỏn vẹn trong một tiếng rất
nồng nàn là: “Deutschlandl” và Hitler đã đúng một trăm
phần. Ông ta nói: “chúng ta hãy tàn ác! Nếu cứu được
nước Đức, chúng ta đã thể hiện một nghĩa cử cao đẹp
nhất của thế giới. Chúng ta hãy làm quấy! Nếu cứu được
nước Đức, chúng ta đã diệt trừ một việc quấy lớn nhất
thế giới. Chúng ta hãy vô luân! Nếu cứu được nước Đức,
chúng ta đã mở ra con đường cho sự phục hồi đạo lý”[1].
Trong cuốn Mein Kampf [2], Hitler nói: “Chính sách ngoại giao
chỉ là một phương tiện để đạt mục đích, và mục đích
duy nhất được đeo đuổi là sự thuận lợi của chính dân
tộc ta. Đó là mối quan tâm độc nhất của chúng ta. Còn
ngoài ra, chính trị, tôn giáo, nhân đạo v.v…phải hoàn toàn
gạt ra một bên để nhường chỗ cho sự quan tâm đó”. Toàn
thể sự sống con người phải phục tùng một mục đích duy
nhất của hiệu lực quốc gia[3]. Một phi công trẻ tuổi người
Đức bị hỏa lực phòng không bắn hạ và được đưa đến
một căn nhà của người Pháp đã biến thành bệnh viện.
Hắn bị thương gần chết. Viên y sĩ ghé vào tai hắn và nói:
“Cậu là một chiến sĩ và cậu có thể đối diện với
cái chết một cách can đảm. Cậu chỉ còn sống được một
tiếng đồng hồ nữa thôi. Cậu có muốn trối trăn gì cho
gia đình cậu không?”. Cậu bé lắc đầu. Viên y sĩ chỉ
vào những người đàn bà và trẻ con bị thương nằm gần
đó đang rên la, rồi nói: “Giờ đây cậu sắp đối diện
với thượng đế, chắc cậu muốn bày tỏ sự ân hận về
những việc mà cậu đã làm, bây giờ cậu đã thấy kết
quả của công việc cậu đã làm”. Viên phi công hấp hối,
trả lời: “Không. Tôi chỉ ân hận là không thể tiếp tục
thi hành những mệnh lệnh của Cha tôi, Hitler muôn năm!” và
hắn tắt thở, Chủ nghĩa Đức Quốc Xã là một phong trào
quần chúng. Khi Nga tham gia cuộc chiến hiện tại, đông đảo
quần chúng tại Mạc Tư Khoa được nhắc đến với niềm
hãnh diện, vì họ đang cầu nguyện cho sự thành công của
quân đội Nga và nguyền rủa Hitler như kẻ tử thù của tôn
giáo. Cuộc chiến đầu lúc này chính thức được miêu tả
như “Thánh chiến cho tổ quốc Xô Viết và cho sự giải phóng
các dân tộc”. Không phải chỉ một dân tộc, mà cả thời
đại, là quốc gia. Với bộ máy trung ương tập quyền
của nhà nước, với những phương tiện kỹ thuật tiến bộ
hiện đại, với sự truyên truyền rộng rãi, và sự động
viên của toàn thể dân chúng, cả thân thể, tinh thần và
linh hồn của họ đều bị ảnh hưởng. Nhà nước tuyệt
đối và công lợi xã hội trở nên đồng hóa. Quyền cá nhân
về đời sống riêng tư bị phản đối, những đức tính
tự nhiên của con người như: tình yêu, tình thương biến
mất. Chúng ta tựa hồ bị ma lực nắm bắt, hạ con người
xuống ngang hàng thú vật. Thần nhân biến thành vật nhân.
Tính tham lam của những con thú lớn buột chúng ta sống đời
nỗ lực nhưng rỗng tuếch, tàn nhẫn, tầm thường nhỏ nhen
và thô bỉ. Nhân tính bị sự thống trị tiêu hủy. Đã qua
nhiều thế kỷ sờ soạng một cách kiên nhẫn và cố gắng
không ngừng con người mới biết được rằng sự sống trong
bản thân và trong những kẻ khác là thiêng liêng và vô giá.
Mỗi cá nhân đều có những nét ngời sáng đặc biệt mà
chỉ có con người đủ nhạy cảm mới nhận thấy. Ý muốn
trở thành tốt là một bộ phận căn bản trong con người.
Dù nó có bị phủ kín, che đậy hay biến thể đến đâu đi
nữa thì nó cũng không bị tiêu diệt. Nó luôn luôn hiện diện
và kẻ nào nhận ra nó sẽ có một phản ứng khoan dung quảng
đại. Tuy nhiên, nền trật tự xã hội trong một xã hội tư
bản hiện tại, truyền thống hiếu chiến và một thế giới
chia thành nhiều phe kình địch nhau, sẽ giết chết tinh thần
con người.
Dưới
những cấp độ khác nhau, các quốc gia trên thế giới ngày
nay đang bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa quốc gia cuồng nhiệt
đó, bởi ý chí mù quáng về quyền lực và bởi chủ nghĩa
cơ hội theo phương châm “Sống chết mặc bay”. Trong một
thế giới như vậy, cái khuynh hướng tự nhiên là bắt kẻ
khác phải khuất phục. Đó là trường hợp quốc gia mình
chống lại tất cả quốc gia khác trong một cuộc tranh đấu
không ngừng.
Thường
thường thì cuộc tranh chấp đó có tính cách ngoại giao, thương
mãi, nhưng đôi khi nó biến thành vũ lực công khai. Năng lực
để bảo tồn sự thống nhất và lành mạnh của thế giới
được biến thành năng lực suy tôn một nhóm thiểu số, một
giai cấp, chủng tộc hay một quốc gia. Nhà nước trở thành
một con quái vật khổng lồ và đời sống nội tâm của ta
bị khô cứng. Đời sống nội tâm của ta càng khô cứng bao
nhiêu thì ta càng trở nên hữu hiệu cho những tham vọng quốc
gia bấy nhiêu.
Chúng
ta không còn chiến đấu với nội tâm nữa vì cuộc sống
của ta đã được qui định một cách rất tinh tế do một
bộ máy độc ác khi hành động và tàn nhẫn với tất cả
mọi sự chống đối. Nhà nước tự nó biến thành cứu kính,
có quyền cơ-giới-hóa tinh thần ta và huấn luyện ta thành
những con ngựa đua[4].
Ta
không nên lầm lẫn giữa tạm bợ và vĩnh cửu. Ta đừng lầm
lẫn nền trật tự hiện tại mà ta mong muốn với luật tắc
bất di bất dịch của vũ trụ. Niềm khác vọng tình thương
và chân lý ăn sâu trong bản tính con người đòi hỏi ta phải
sống như những cá nhân tự do trong một thế giới thân hữu.
Vấn đề sống như những thân hữu, kiểm sát lấy quyền
lực tự diệt của ta, và dùng vào những tài nguyên thiên
nhiên vào việc mưu cầu hạnh phúc chung cho cả thế giới,
tất cả đòi hỏi ở chúng ta một thế giới hòa bình, đòi
hỏi sự cởi mở của những giai cấp và các quốc gia có
nhiều đặc quyền. Nếu chúng ta là những người yêu nước
chân chính thì mối quan tâm của chúng ta không phải là địa
phương, chủng tộc hay quốc gia, mà là nhân loại. Niềm khắc
khoải đó sẽ là tình yêu tự do cho tất cả, là độc lập,
là hòa bình và hạnh phúc xã hội. Chúng ta sẽ không chiến
đấu cho xứ sở chúng ta mà là cho nền văn minh, và bằng
sự tổ chức hợp tác, khai thác trên những tài nguyên trên
hoàn cầu để mang lại lợi ích lớn lao nhất trong tương
lai cho cả loài người. Để đạt được mục đích ấy, ta
cần sự giáo dục lại tinh thần, cải tiến lòng tin và tư
tưởng. Lý trí và ý chí của vũ trụ hoạt động qua mỗi
cá nhân mà có thể thực hiện được những năng lực của
hoàn cảnh, thấy trước sự hoạt động của chúng và có
thể quy định chúng. Sự tiến hóa không còn là một vận
mệnh cố định. Dụng cụ của nó là tinh thần và ý chí
con người. Một thế hệ mới cần phải được huấn luyện
theo những lý tưởng cao cả, của đời sống tâm linh, của
ý thức huynh đệ giữa loài người, của thương yêu và hòa
bình.
Chú
thích:
[1]
Xem cuốn The Deeper Causes of the War (Những Nguyên Nhân Sâu Xa
Hơn của Cuộc Chiến) của Gilbert Murray và những người khác
(1940), p.43.
[2]
P. 686.
[3]
Cp. Fichte: “Không có luật pháp hay quyền hạn gì tồn tại
giữa các quốc gia trừ quyền hành của kẻ mạnh. Một dân
tộc có khiếu về siêu hình có quyền hoàn thành vận mệnh
của nó với tất cả các phương tiện của quyền lực và
sự thông minh” – Doctrine of the State.
“Những
kế hoạch mơ hồ và vô nghĩa về sự bành trướng của dân
tộc Nhật Nhĩ Man chỉ là sự biểu hiện của một tình cảm
thâm căn cố đế cho rằng, nước Đức, với sức mạnh và
sự tôn quý của mục đích quốc gia, với nhiệt tình của
chủ nghĩa ái quốc, với trình độ cao về khả năng và sự
trong sạch lương hảo của nền hành chính, với sự thành
công của tất cả mọi ngành hoạt động, với tính cách siêu
việt về triết học, nghệ thuật và luân lý v.v… có quyền
cho lý tưởng quốc gia của người Đức là cao nhất” –
Sir Eyre Crowe’s “Memorandum” of January I, 1907.
[4]
Cp. Mc Taggart: “Một tôn giáo tự cột mình vào một phương
tiện đã không vươn lên khỏi sự sùng bái mê tín. So với
sự sùng bái quốc gia, sự sùng bái động vật còn hợp lý
và đáng được tán thưởng. Một con bò mộng hay một con
cá sấu có thể không có giá trị chân thật, nhưng nó còn
có chút ít, vì nó là một sinh vật. Quốc gia thì không có
một chút gì cả”.
III.
CHIẾN TRANH VÀ TRẬT TỰ MỚI
Trong
cuốn The Study of History (Sử Học), Giáo sư Arnold Toynbee đã
nhận xét những hoàn cảnh trong đó các nền văn minh sinh trưởng
và những điều kiện đưa đến sự suy đồi của chúng. Sự
trưởng thành và bành trướng của các nền văn minh không
thể dựa trên sự độc tôn của chủng tộc hay động tác
tự nhiên của hoàn cảnh. Chúng là kết quả của sự điều
hòa các liên hệ giữa người và hoàn cảnh xung quanh, và tiến
trình đó có tính chất “Thách thức và đáp ứng”. Những
hoàn cảnh biến đổi cấu thành sự thách thức đối với
xã hội và chính nhờ ở nỗ lực đáp ứng lại sự thách
thức ấy mà văn minh tinh trưởng. Sống có nghĩa là cố gắng
không ngừng để thích ứng hoàn cảnh. Khi hoàn cảnh biến
đổi và sự đáp ứng thành công thì ta có tiến bộ; khi hoàn
cảnh biến đổi quá nhanh hay quá đột ngột khiến ta không
thích ứng kịp thì ta sẽ bị tiêu diệt. Chúng ta đừng tưởng
rằng nhờ có trí lực hay biết làm chủ trái đất mà ta thoát
được những luật tắc tự nhiên chi phối mọi sinh vật.
Trong trường hợp những nền văn minh xưa kia sự thách thức
chỉ có tính chất vật chất ngoại tại, ngược lại, vấn
đề của những nền văn minh sau này thì phần chính là tinh
thần nội tại. Sự tiến bộ ngày nay không thể được đánh
giá qua sự phát đạt về vật chất hay kỹ thuật mà bằng
những biến đổi sáng tạo ở lĩnh vực tinh thần và tâm
linh. Tôn trọng những giá trị tinh thần, yêu sự thật, lẽ
phải và cái đẹp, yêu công bằng, chuộng tình thương, đồng
tình với những người bị áp bức và tin tưởng tình huynh
đệ của con người, là những đức tính sẽ cứu vãn nền
văn minh hiện đại… Những kẻ tự tách khỏi cộng đồng
thế giới dưới danh nghĩa tôn giáo hay chủng tộc, quốc gia
hay chính thể, không những chẳng giúp ích gì mà còn làm hại
cho sự tiến hóa của nhân loại. Lịch sử đã ghi lại sự
sụp đổ của nhiều nền văn minh đã không tự thích ứng
được, đã không sản xuất được những khối óc có đủ
thông minh và tài ứng biến cần thiết. Những người sáng
suốt nhận thấy trong thời đại nguy hiểm này của thế giới
sự kết liễu không những một giai đoạn lịch sử mà còn
là một gia đoạn tinh thần của loài người và của mỗi
cá nhân tự giác. Con người chưa hẳn đã tiến hóa đến
tột đỉnh. Lịch sử sự sống trên trái đất đã bắt đầu
từ hơn một nghìn triệu năm. Mỗi thời kỳ địa chất đã
xuất hiện những sinh vật có thể đại biểu cho một hình
thức sáng tạo cao nhất. Tuy nhiên, những hình thức của sự
sống ấy đã được thay thế bằng những hình thức khác.
Giai đoạn tiến hóa tới sẽ không phải ở thể chất mà
ở tinh thần con người, ở sự hiểu biết rộng rãi và giác
ngộ cá nhân, và ở sự phất triển những đặc tính mới
thích hợp với thời đại mới. Khi con người có được ý
thức triết học, hiểu biết một cách sâu xa về ý nghĩa
toàn thể, khi ấy đời sống xã hội sẽ trở nên thích đáng
hơn và ảnh hưởng không những đến cá nhân mà còn ảnh
hưởng đến cả các quốc gia và các dân tộc. Chúng ta phải
chiến đấu, trước hết trong bản thân ta, rồi đến xã hội
bên ngoài, để giành cho được một nền trật tự mới.
Cuộc
chiến
tranh này không phải là một cuộc xung đột giữa văn minh
và dã man, vì mỗt người tham chiến đều quan niệm là họ
đang chiến đấu để bảo vệ nền văn minh. Nó không phải
một cố gắng để làm sống lại một quá khứ đã chết
hay một nền văn minh què quặt đã quá suy đồi. Nó là hành
động cuối cùng sẽ mở đường cho một kỷ nguyên mới của
thế giới cộng đồng. Bởi vì chúng ta không chịu thay đổi
hoặc thay đổi một cách chậm chạp nên quan niệm mới buộc
phải phát sinh tìm lối thoát bạo lực. Nếu thế giới cũ
đã phải chết trong bạo lực, trong tai họa, trong lầm than,
trong khủng bố và hỗn loạn, nếu nó đã sụp đổ và cuốc
theo nó nhiều điều chân, thiện, mỹ, cuốn theo bao nhiêu máu,
nước mát, sinh mạng và làm cho nhiều người phải quằn quại
trong tinh thần, là vì chúng ta đã không tự điều hòa được
với thế giới mới mà trên bản chất đã luôn luôn là bất
khả phân, và hiện giờ đang trở dậy để trở thành bất
khả phân trên thực tế. Nếu chúng ta không tiến tới và
không tự trút bỏ những thành kiến chật hẹp thì một tai
họa kinh khủng sẽ làm chúng ta bừng tỉnh và giúp ta cởi
bỏ và đập tan mọi hình thức cứng nhắc làm tê liệt những
tình cảm khoan dung và đồng tình quảng đại.
Tội
ác không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên. Bạo động,
áp bức và hận thù không phải là một dấu hiệu hỗn loạn
nhưng của một trật tự đạo đức. Luật tắc thiên nhiên
vốn nhất trí, vốn tôn trọng tình người và tình huynh đệ,
nhưng khi luật tắc ấy bị chà đạp thì kết quả sẽ hỗn
loạn, thù hận và chiến tranh. Lịch sử có luận lý của
nó và cho ta thấy những rối loạn, vô trật tự là cần thiết
để quét sạch những gì đã quá lạc hậu, quá mòn rũa mà
đã cản trở tiến bộ. Ngay bây giờ đây, khi mà thế giới,
đứng về phương diện vật chất, cơ hồ như bị tiêu hao
bởi oán ghét, khi mà bạo lực, sợ hải, dối trá và tàn
nhẫn tựa hồ như đời sống thực tế của đời sống nhân
loại, thì những lý tưởng cao cả của chân lý và tình thương
vẫn cũng đang ngấm ngầm hoạt động để tiêu diệt bạo
ác và dối trá. Nếu ta không sáng suốt và can đảm để hoạt
động cho nền hòa bình và thống nhất thế giới thì thế
giới này có thể chỉ sẽ là môi trường hoạt động của
quỹ sa-tăng đội lốt Thiên thần. Mặc dầu phải trải qua
giông tố, ta cứ nhìn về tương lai mà tin tưởng một cách
chắc chắn là có một ý thức sâu xa về tất cả sự hỗn
độn và rối loạn này. Biết đâu qua những nỗi bi thảm
ấy chúng ta lại không có một sự hiểu biết đầy đủ hơn
về những giá trị tinh thần mà sẽ đưa nhân loại lên một
tầm mức cao hơn. Chiến tranh không phải hoàn toàn do một
bọn điên rồ, cuồn tính, ích kỷ, tham lam, mà nó cũng là
một cuộc chiến đấu cho tinh thần nhân loại do những cá
nhân trung thành, nhẫn nại, trong chờ vào một cuộc sống
mới và sự nghiệp hòa bình. Con người là kẻ phá hoại nhưng
đồng thời cũng là kẻ xây dựng. Thế giới khổ đau này
rất có thể trở thành cảnh cực lạc. Ngày ấy có thể là
còn lâu mới đến, có thể là hàng chục năm hay hàng thế
kỷ. Vì sự trở thành một thế giới mới không phải dễ
dàng, nhưng giá trị của nhân loại cũng không phải cứ mãi
mãi đi xuống. Trong mỗi chúng ta đều có một ý thức tiềm
tàng sự nhất trí của sự sống, sự nhất trí ấy làm cho
lòng người cố kết với nhau trong một niềm tin vững chắc
của một nền trật tự tốt đẹp hơn. Đã có một lúc niềm
tin ấy yếu ớt và hy vọng đã trở nên lu mờ. Nhưng thời
kỳ đen tối ấy đã báo trước một buổi sáng huy hoàng mang
lại cho đời sống nhân loại một niềm hoan lạc. Sự ngoan
cố và đắc thắng tạm thời của một thiểu số không thể
cản trở được bước tiến của thời đại, không thể bóp
chết được niềm hy vọng và có ý chí vươn tới của toàn
thể loài người. Có thể còn mất nhiều thế kỷ nữa sự
tiến bộ về đạo đức mới khiến cho con người gội sạch
được lòng vị kỷ hẹp hòi, ham chuộng quyền thế, thú vui
phi lý bằng cách đánh gục một kẻ thù, và khiến cho họ
từ bỏ những tiện nghi cần thiết, từ bỏ mọi đặc quyền
cá nhân mà, chỉ bằng cách đó, họ mới có thể đảm bảo
cho xã hội chống lại mọi bất công, thối nát. Tuy nhiên,
cuối cùng, sự tiến hóa của thế giới sẽ thắng, bởi lẽ
thế giới không phải nằm trong tay của một thiểu số phản
phúc bạo tàn. Sự kết liễu của một nền văn minh không
phải là sự kết liễu của lịch sử mà rất có thể là
sự mở màn cho một thời đại mới.
IV.
CHỦ NGHĨA HIỆN SINH:
NHƯỢC
ĐIỂM CHÍNH CỦA THỜI ĐẠI CHÚNG TA
Những
nguyên nhân chính của sự thống khổ hiện nay là gì? Khi ta
tìm đến nguyên nhân của cuộc chiến tranh, ta có thể nghĩ
đến những nguyên nhân xa vời, chính yếu hay thứ yếu. Ta
có thể tìm nguyên nhân ấy trong tâm lý cá nhân của Hitler,
trong thiên tài độc ác của ông ta, hay trong sự bất mãn của
nước Đức với những điều khoản về tội phạm chiến
tranh được ghi trong Điều Ước Versailles, hoặc về sự từ
chối không trả lại những thuộc địa cũ của người Đức,
hay trong niềm kiêu hãnh bị tổn thương và tính lãng mạn
của một dân tộc vĩ đại. Ta cũng có thể tìm thấy nó trong
sự thất bại về hội nghị tài binh của hội Quốc Liên,
hay trong sự va chạm giữa các quốc gia trong cuộc chạy đua
bành trướng thuộc địa. Nhưng không một nguyên nhân nào
trên đây có thể chịu trách nhiệm cho cuộc đại họa này.
Mỗi nguyên nhân ấy thật sự là một kết quả chứ không
phải nguyên nhân. Cái đã làm cho thế giới đầy hy vọng
này tan tành là sự thắng thế của một nền triết lý chứa
đựng những giả tưởng, những tín ngưỡng và giá trị sai
lầm[1].
Văn
minh là một lối sống, một cuộc vận động tinh thần của
con người. Bản chất của nó không phải là sự nhất trí
về sinh vật của chủng tộc, hay ở những tổ chức chính
trị và kinh tế mà là ở những giá trị đã sáng tạo và
duy trì tất cả những cái đó. Cơ cấu chính trị và
kinh tế chỉ là những tổ chức để người ta dựa vào đó
mà biểu hiện nhiệt tâm và trung thực đối với thị kiến
và giá trị của sự sống mà người ta chấp nhận. Mỗi nền
văn minh là sự biểu hiện của một tôn giáo, vì tôn giáo
biểu hiện niền tin vào những giá trị tuyệt đối và một
lối sống để thể hiện những giá trị ấy. Nếu ta không
nhận chân rằng những giá trị mà một nền văn minh biểu
hiện là tuyệt đối thì những luật tắc của nó là luật
tắc chết và định chế của nó sẽ sụp đổ. Tín ngưỡng
tôn giáo cho chúng ta lòng nhiệt thành để theo đuổi trong
lối sống và, nếu niềm tin ấy phai mờ, sự thuận tòng chỉ
còn là một thói quen, và thói quen sẽ dần dần suy giảm.
Chẳng hạn, những tín ngưỡng Quốc Xã và Cộng Sản là những
tôn giáo hiện sinh. Bất cứ sự chuyển hướng nào trong tư
tưởng hay niềm tin mà xa rời chế độ là một tội phạm.
Nhà nước trở thành giáo đường với các Giáo Hoàng và những
tòa án tôn giáo (Inquisitions). Ta cầu nguyện khi ta được nhận
vào đạo. Ta tìm ra những kẻ dị giáo và đưa họ lên đoạn-đầu-đài.
Ta sử dụng mọi năng lực và tình cảm tôn giáo. Những tín
ngưỡng thế tục ấy biểu trưng một quyền uy ghê gớm, một
động lực tâm lý mà hầu như không có trong những hành động
của những người cố gắng chống lại chúng.
Đặc
trưng của một nền văn minh là ở quan niệm của nó về bản
tính và vận mệnh của con người. Con người có được, theo
danh từ sinh-vật-học, coi như một sinh vật tinh khôn nhất
không? Người có là con vật kinh tế bị chi phối bởi những
qui luật cung, cầu, và đấu tranh giai cấp không? Người ta
có là con vật chính trị với một học thuyết chính trị
quá độ chiếm cứ trung tâm tinh thần con người và thay thế
cho tất cả tri thức, tôn giáo và trí tuệ? Hay con người
có một yếu tố tâm linh nào đó đòi hỏi phải nhường những
chỗ tiện nghi tạm bợ cho những giá trị chân thật và vĩnh
cữu? Nhân loại chỉ được hiểu theo những danh từ sinh-vật-học,
chính-trị-học và kinh-tế-học thôi, hay ta còn phải nghĩ
đến đời sống gia đình và xã hội của họ, đến tình
yêu truyền thống và quê hương, đến niềm hi vọng của tôn
giáo và những niềm an ủi đã có từ trước những nền văn
minh tối cổ? Ý nghĩa sâu xa hơn của cuộc chiến là giúp
chúng ta nhận chân được quan niệm sai lầm về bản tính
cũng như chân tướng của con người mà, trong đó tất cả
chúng ta đều có liên quan trong tất cả lối sống và lối
suy nghĩ của chúng ta. Nếu chúng ta không cư xử tử tế với
nhau, nếu tất cả những nỗ lực đem lại hòa bình trên trái
đất đã thất bại, thì đó chính là vì đã có những trở
ngại tị hiềm ích kỷ và hiểm độc ngay trong tâm hồn con
người mà lối sống và suy nghĩ của chúng ta không gội sạch
được. Nếu ngày nay chúng ta bị khuất phục bởi sự sống
thì đó không phải là là vận mệnh độc ác. Sự thành quả
của chúng ta trong công cuộc kiện toàn những khí cụ vật
chất cho đời sống đã sản sinh ra một thái độ tự tín
và kiêu hãnh đưa đến chỗ lạm dụng thay vì cảm hóa vật
chất. Cuộc sống xã hội đã cho ta phương tiện như chối
bỏ cứu kính. Một mù quán rùng rợn đã khiến con người
ở thế hệ chúng ta không ngần ngại đầu cơ trục lợi trong
nỗi đau khổ của đồng loại bằng những sắc luật kinh
tế khắc khe trong thời bình và xâm lăng, tàn bạo trong thời
chiến. Sự tách rời yếu tố tam linh ra khỏi đời sống con
người là nguyên nhân đưa đến sự tôn thờ vật chất, và
sự đầu hàng của con người trước quyền lực vật chất
là nhược điểm chính của nền văn minh hiện đại.
Kinh
Bhagavadgita vạch ra rằng khi con người tự cho mình là thần
thánh trên trái đất, khi họ tự tách rời khỏi nguồn gốc
của họ, khi họ bị vô minh che lấp như vậy thì họ triển
khai trong họ một con quỷ độc ác hay tính tự tôn tự đại
cho mình là tuyệt đối cả về trí thức lẫn quyền lực.
Con người đã trở thành tự trị và đánh rơi mất đức
khiêm tống nhứn nhường. Họ muốn tự làm “Thần thánh”.
Trong mưu toan nắm quyền điều khiển lấy vận mệnh, con người
đã kiến tạo một nền văn hóa trong đó phủ nhận sự tồn
tại của Thượng đế. Tính tự túc, tự mãn đã đạt đến
tuyệt đỉnh. Chiến tranh chính là kết quả của tính tự
phụ ấy; các nhà độc tài muốn tự do thay đổi thượng
đế, thay trời. Họ muốn thủ tiêu thượng đế vì họ không
muốn có địch thủ. Hitler là một nhân vật độc đáo, là
nhà tiên tri của nền văn minh của tất cả chúng ta. Khi phải
chứng kiến những sự suy đồi của mọi giá trị, chúng ta
không phải kêu lên với Quận Công Albany trong King Lear; “Đây
là thời đại của những người điên dắt dẫn những kẻ
mù”.
Con
người tưởng tượng mình là trên hết và tin tưởng một
cách mù quán vào vật chất, vào kỷ thuật, vào những cái
tạm bợ trước mắt. Kỷ nghệ và thương mại nhắm vào lợi
lộc và sự giàu có hơn là vào việc thỏa mãn nhu cầu của
nhân loại. Thế giới chân, thiện, mỹ được coi như một
sản phẩm được cấu tạo một cách ngẫu nhiên bởi các
nguyên tử và tất nhiên cũng kết liễu như nó đã bắt đầu
trong một đám mây khinh khí. Con người với tham vọng vô biên
sẽ thoán quyền tạo hóa, và có gắn xây dựng một thế giới
mới bằng phổ thông đầu phiếu, bằng sản xuất tập thể,
bằng đổi công và thỉnh thoảng chúc tụng một ông “trời”
mà người ta hoàn toàn tin chắc. Tin ngưỡng hiện đại là
chủ nghĩa hiện sinh, tôn sùng con người và Nhà Nước được
pha lẫn với một chút màu mè tôn giáo. Chủ thuyết cho rằng
con người chỉ sống cơm áo đã cắt đứt sự liên lạc của
con người với thế giới tâm linh, và hoàn toàn biểu thị
con người trong những xã hội giai cấp, chủng tộc, quốc
gia và dân tộc. Những giá trị của cuộc sống mà chúng ta
theo đuổi, bất luận nghề nghiệp của chúng ta là gì, cũng
không khác nào những giá trị của kẻ thù của chúng ta: tham
quyền, tàn ác và thống trị. Thức ăn ngon, quần áo đẹp,
giường nệm ấm êm chưa đủ để thỏa mãn chúng ta. Đau
khổ và bất mãn không phải chỉ xuất phát từ sự nghèo
khổ. Người là một con vật kỳ là, hoàn toàn khác với các
loài vật khác. Con người có những kiến thức xa rộng, những
niềm mơ ước bền bỉ, những năng lực sáng tạo và sức
mạnh tâm linh. Nếu những yếu tố ấy trong con người không
được phát triển và thỏa mãn thì con người có thể có
tất cả những tiện nghi mà của cải có thể cung cấp, nhưng
cảm thấy đời là vô vị. Trí óc hiện đại được hình
thành bởi những Xã- Ước (social contract) của Rousseau, Tư-Bản
(Capital) của Marx, Về Nguồn Gốc Các Loài Vật (On the Origin
of specsies) của Darwin và Sự Suy Đồi Của Tây Phương (The
Decline of the West) của Spengler. Sự hổn độn của đời sống
bên ngoài của chúng ta là phản ánh sự rồi loạn trong nội
tâm ta. Plato nói: “Những định chế của thế giới bên ngoài
chỉ là phản ánh những giá trị trong tâm hồn con người”[2].
phải có một sự thay đổi về những lý tưởng mà chúng
ta ôm ấp, về những giá trị chúng ta theo đuổi trước khi
chúng ta có thể biểu hiện hóa chúng về phương diện xã
hội. Chúng ta chỉ có thể tạo dụng được một tương lai
tốt đẹp theo mức độ chúng ta tự thay đổi. Cái mà ta thiếu
trong thời đại chúng ta là tâm hồn, chứ thể xác thì không
sao cả. Chúng ta đau yếu về tâm linh. Chúng ta phải tìm ra
những cỗi gốc vĩnh viễn và khôi phục niềm tin ở chân
lý sẽ mang lại sự điều hòa, nhất trí và ý nghĩa cho sự
sống; Nếu không, khi bảo lụt xảy đến và tràng vào nhà
ta thì nó sẽ sụp đỗ[3].
Chú
thích:
[1]
Tác giả sách Epistle of James hỏi: “Do đâu mà có chiến tranh
và chết chóc giữa các người?” và trả lời: “Do lòng
tham dục của các người”.
[2]
Cp. Rousseau: “Ô, người ơi! Đừng tìm tác giả của tội
ác nửa, tác giả là người đấy. Tội ác người làm hay
tội ác người chịu, cả hai đều do người cả”.
[3]
Cp. Ruskin: “Từ khi lãnh thổ đầu tiên của con người được
thiết lập trên đại dương, hơn hết, có ba chiếc ngai vàng
đáng chú ý đã được dựng lên trên bải cát: đó là ngai
vàng của Tyre, Venike và của Anh Cát Lợi. Chiếc thứ nhất
chỉ còn trong trí nhớ, chiếc thú hai đã sụp đỗ; chiếc
thứ ba, thừa hưởng sự vĩ đại của hai chiếc trước, nếu
lại quên tấm gương của chúng, thì có thể sẽ trải qua
một giai đoạn kiêu hãnh hơn để rồi đi đến tiêu diệt
một cách kém thương tâm hơn”.
V.
CA TỤNG CHIẾN TRANH
Trước
hết hãy xét đến vấn đề vị trí của bạo lực trong xã
hội. Sự nhấn mạnh của thánh Cam – Địa về bất bạo
động và chiến tranh đã khiến cho vấn này trở nên cấp
bách và, nếu có thể, chúng ta cần phải có một ý niệm
thật rõ ràng về vấn đề này. Hàng thế kỷ, chiến tranh
– một nỗ lực có tổ chức để tàn sát lẫn nhau – đã
được ca tụng như một sự kiện tự nhiên và lành mạnh
không thể tách rời đời sống của một quốc gia. Con người
thường dùng lý trí để biện minh cho những hành động của
mình. Chiến tranh được coi như một phương tiện để đạt
đến những mục đích cao đẹp. Sau đây chúng tôi xin trích
dẫn ý kiến của một số người để chứng minh cho nhận
xét này.
Nietzsche
nói: “Đối với những quốc gia đang trở nên yếu kém và
bị khinh thị thì chiến tranh có thể được coi làm một liều
thuốc, thật vậy, nếu quốc gia ấy muốn tiếp tục sống
còn”… “Đàn ông phải được huấn luyện cho chiến tranh,
đàn bà cho sự tiêu khiển của các chiến sĩ, còn ngoài ra,
tất cả chỉ là điên rồ”… “Bạn cho rằng chính nghĩa
thăng hoa ngay cả chiến tranh? Không! Tôi cho rằng một cuộc
chiến tranh tốt thánh hóa bất cứ chính nghĩa nào”…
Ruskin
nói: “Tôi nghĩ rằng tất cả các quốc gia hùng cường đã
thể hiện sự thật và sức mạnh tinh thần của họ trong
chiến tranh rằng họ được nuôi dưỡng trong chiến tranh và
lãng phí trong hòa bình, được dạy dỗ trong chiến tranh và
bị lừa gạt trong hòa bình, tóm lại một câu là họ sinh
trong chiến tranh và chết trong hòa bình.”
Molke
thì nói: “Chiến tranh là một bộ phận bất khả phân trong
thế giới của thượng đế, nó thúc đẩy sự cống hiến
cao quí nhất của con người”…
…
“Hòa bình vĩnh cửu chỉ là một giấc mơ, nhưng không là
một giấc mơ đẹp.”
Bernhardi
tuyên bố: “Chiến tranh là một nhu cầu sinh học, một quy
định không thể thiếu trong đời sống nhân loại, nếu thiếu
nó thì kết quả sẽ là một lối tiến hóa tai hại cho loài
người và hoàn toàn đi ngược lại với tất cả mọi nền
văn hóa… Nếu không có chiến tranh thì những dân tộc nhược
tiểu hay dã man sẽ nuốt chững những dân tộc khỏe mạnh
và văn minh và kết quả là sự sụp đổ toàn diện. Chiến
tranh là một trong những yếu tố căn bản của đạo lí. Nếu
cần thì một chính khách phải gây ra một cuộc chiến tranh:
đó không những là nhiệm vụ chính đáng mà còn là nhiệm
vụ đạo đức và chính trị nữa.”
Oswald
Spengler viết: “Chiến tranh làm một hình thức vĩnh viễn
của sự sống cao đẳng của con người, các quốc gia tồn
tại vì mục đích gây chiến,”.
Mussolini
quả quyết: “Chỉ có chiến tranh mới đưa được toàn lực
của con người đến điểm mãnh liệt nhất, hãy tặng huy
chương cao hơn hết cho những dân tộc nào có đủ can đảm
đón nhận nó”.
Trong
bài diễn văn đọc trước một số sinh viên của đại học
Aberdeen năm 1931, Sir Arthur Keith nói: “Thiên nhiên giữ cho vườn
cây nhân loại xanh tốt bằng cánh xén tỉa, chiến tranh là
chiếc kéo tỉa cành cây của thiên nhiên. Chúng ta không thể
ngăn cản công việc của thiên nhiên.”
Đã
có những người thuộc tất cả các quốc gia ca tụng chiến
tranh như kẻ ban bố nghị lực, cải tiến sự sinh tồn và
là kẻ tiêu diệt sự yếu kém. Người ta bảo chiến tranh
đã phát triển những đức tính cao quý như: can đảm, danh
dự, trung thành và võ hiệp.
Lương
tri con người đã tiến triển theo thời gian và ngày nay chiến
tranh không còn được ca tụng nhưng được chấp nhận với
niềm ân hận ray rứt trong lòng.
Trong
khi phe Trục vẫn bám lấy chiến tranh cho đó là một yếu
tố căn bản của tiến bộ xã hội, trong khi họ tin rằng
sức mạnh là tiêu biểu cho sự vĩ đại của một dân tộc,
rằng mục đích của kẻ mạnh là phải khuất phục kẻ yếu,
rằng chiến tranh xâm lược là một vinh quan chứ không phải
tội ác, rằng bất luận bằng cách nào mang lại thắng lợi
dù là lừa gạt, tàn bạo, khủng bố, phi nhân đều được
cả, thì các quốc gia Đồng minh tuyên bố họ bắt buộc phải
tham chiến vì muốn kiến tạo hòa bình, vì muốn xây dụng
một nền trật tự thế giới mà trong mối bang giao giữa các
quốc gia phải được quy định như thế nào để tránh những
cuộc chiến tranh định kỳ. Họ không những chỉ ghê tởm
chiến tranh mà còn ghê tởm cả cái tinh thần và khuynh hướng
của phe Trục**. trong một bầu không khí chiến tranh, tất
cả mọi phương tiện giáo dục đều nhằm vào việc bồi
dưỡng tinh thần chiến tranh. Trong các phim ảnh phơi bày toàn
những dụng cụ giết người: nào đại bác, xe tăng, tàu chiến,
máy bay, mìn và lựu đạn, v.v.. chúng ta chiến đấu với quân
địch bằng lòng tràn đầy thù hận, man rợ và với một
đầu óc được tăng cường bằng sự khôn ngoan của khoa học.
Song,
các tôn giáo đã tán dương sự bất bạo động như một đức
tính tối cao, và cho bạo động là nhược điểm của con người.
Người ta không bao giờ tìm thấy điều thiện trong một hình
thức hoàn toàn trong thế giời khuyết điểm này, để thấy
được sự biểu hiện hoàn toàn của nó ta phải đi vào một
thế giới trong đó không còn có thiện, ác đối đãi nữa.
Nếu lý tưởng ấy chưa được thấm nhuần đầy đủ trong
nhân gian như chúng ta mong muốn thì điều đó không có nghĩa
là chúng ta phải xa rời lý tưởng ấy. Những nguyên lý tuyệt
đối phải được gắn liền với thế giới kinh nghiệm mà
đang biến đổi và tùy thuộc vào tính ngu xuẩn và ích kỷ
của con người. Chúng ta phải mang lại những sự thay đổi
trong tình hình xã hội sẽ đưa đến sự thể hiện lý tưởng
ấy một cách đầy đủ hơn. Tôi có thể lấy Ấn Độ giáo
và Thiên Chúa giáo làm điển hình.
Chú
thích:
**Trong
Mein Kampt, Hitler viết: “Vấn đề làm thế nào mang lại quyền
lực cho người Đức không phải ở chỗ chúng ta có thể chế
tạo vũ khí như thế nào, nhưng ở chỗ làm thế nào gây được
tinh thần khiến cho một dân tộc có khả năng mang vũ khí.
Một khi có được tinh thần ấy rồi thì một dân tộc có
trăm nghìn cách đi đến vũ trang cần thiết.”
VI.
QUAN ĐIỂM CỦA ẤN ĐỘ GIÁO
Các
kinh điển của Ấn Độ giáo coi ahimsà, hay bất bạo động
là đức tính cao cả nhất. Ahimsà có nghĩa là từ bỏ himsà,
hay bạo động vốn là nguyên nhân gây ra mọi thống khổ cho
tất cả sinh vật, người cũng như thú vật. Trong Chàndogya
Upanisad người ta thấy nói ngay cả các lễ vật dùng cho việc
tế tự cũng phải có tính chất đạo đức. Tại các nơi
ẩn cư trong rừng (àsramas) người ta thấy một tinh thần bằng
hữu bao trùm cả người lẫn vật. Nhưng ta không thể cho rằng
kinh điển Ấn Độ giáo bảo ta phải hoàn toàn từ bỏ vũ
lực. Quan điểm của Ấn Độ giáo không phải nghiêm khắc
cố thủ một lý tưởng xa vời trong khi lên án mọi thỏa
hiệp với lý tưởng ấy. Người ta không thể tìm thấy sự
thiêng liêng cao cả ngoài đời sống thông thường. Người
ta phải nghiên cứu những yêu cầu cụ thể của mỗi hoàn
cảnh đặc biệt và nguyên tắc thích ứng với hoàn cảnh
đó. Một lý tưởng xa vời khác hẳn với một chương trình
thực tế. Áp dụng vũ lực một cách không thích đáng là
bạo động. Khi những ẩn sĩ trong rừng bị những bộ lạc
không phải là người Aryan tấn công, họ chịu đựng mà không
trả thù, nhưng họ trông đợi ỡ những người Sát Đế Lợi
(Ksatriyas – giai cấp thống trị) bảo vệ họ tránh những
kẻ xâm lược từ bên ngoài. Trong Rg Veda có nói: “Tôi dương
chiếc cung (nỏ) Rudra để bắn vào những kẻ nào sách nhiễu
những người Bà la môn. Tôi hiện diện khắp đất trời để
chiến đấu bảo vệ cho những người thanh tịnh”. Trong khi
chúng ta phải dùng sức mạnh tinh thần để khắc phục tội
ác vật chất, nhưng chúng ta cũng được phép áp dụng sự
đề kháng vật chất đối với tội ác. Trong khi đặt nặng
vào việc sử dụng sức mạnh của tâm linh để chinh phục
kẻ địch, nhưng chúng ta cũng được phép dựa vào vũ lực.
Trong khi các nhà khổ hạnh và ẩn sĩ đã lánh xa trần tục,
không còn trực tiếp liên hệ đến phúc lợi chung của xã
hội, không được phép dùng vũ khí để bảo vệ những cá
nhân hay đoàn thể thì những công dân, vì nghĩa vụ đòi hỏi,
có thể và cần phải cầm vũ để chống lại sự xâm lược.
Khi Senapati Singha, một chiến sĩ, hỏi đức Phật xem có nên
tham chiến để bảo vệ sinh mạng và tài sản cho dân chúng
không thì Phật trả lời: “Kẻ nào đáng trừng phạt thì
phải được trừng phạt. Như Lai không dạy rằng những người
tham chiến để bảo vệ chính nghĩa là đáng trách, sau khi
đã hết mọi phương tiện duy trì hòa bình.” Kinh Bhagavadgìtà
cũng áp dụng một quan điểm tương tự khi cho rằng nếu một
người giết một kẻ khác vì quyền lợi riêng thì hành động
của họ là tội ác, nhưng nếu họ làm thế vì lợi ích chung
thì hành động ấy không đáng trách. Trái với yêu là ghét
chứ không phải vũ lực. Có những trường hợp mà tình thương
phải dùng đến vũ lực. Tình thương không chỉ là tình cảm.
Nó có thể sử dụng vũ lực để ngăn chặn tội ác và bảo
vệ lẽ phải. Bất bạo động như một trạng thái tinh thần
thì khác với bất đề kháng. Nó không có oán hận và căm
thù. Có khi tình thương thật sự buộc phải chống lại tội
ác. Chúng ta chiến đấu, nhưng tâm hồn phải bình thản. Chúng
ta phải diệt trừ tội ác mà đừng trở thành tội ác. Nếu
hạnh phúc của loài người là quyền lợi tối cao thì chiến
tranh và hòa bình chỉ tốt khi nào chúng phục vụ cho quyền
lợi đó. Chúng ta không thể bảo rằng bạo động tự nó
là tội ác. Sự bạo động của cảnh sát nhằm mục đích
duy trì nền an ninh xã hội. Mục tiêu của nó là ngăn chặn
sự rối loạn. Phá hoại không phải là mục đích của tất
cả mọi trường hợp tranh đấu. Chiến tranh có thể được
chấp nhận khi nào mục tiêu của nó là sự phúc lợi của
nhân loại và khi nào nó tôn trọng nhân phẩm của con người.
Khi một kẻ tội phạm xâm phạm nhân phẩm của người khác
mà chúng ta bảo phải tôn trọng nhân phẩm của y, khi một
kẻ cướp tàn sát dân lành mà ta bảo phải đối xử với
y như một người lương thiện thì chúng ta đã đồng lõa
với tội ác. Chúng ta không thể phán đoán cách sử dụng
vũ lực là tốt hay xấu nếu ta chỉ nhìn nó một cách phiến
diện. Một cuộc giải phẫu làm cho bệnh nhân đau đớn, nhưng
chỉ có thể áp dụng để cứu sống bệnh nhân, chỉ khác
có một điều là con dao của nhà giải phẩu hay con dao của
kẻ sát nhân mà thôi.
Trong
một thế giới nhiều khuyết điểm, nơi mà không phải ai
ai cũng là thần thánh thì vũ lục phải được sử dụng để
giữ cho thế giới sống còn. Trong những hoàn cảnh hiện tại,
vũ lục cần phải được dùng đến để chặn đứng sự
hỗn loạn, bảo vệ cho những người cô thế và duy trì trật
tự giữa cá nhân với cá nhân và giữa đoàn thể với đoàn
thể, miễn là sự sử dụng ấy không phải cố ý phá hoại.
Nó phục vụ quyền lợi tối hậu của những người mà nó
định phục vụ. Hành động cảnh sát hợp pháp ấy là cần
thiết nếu chúng ta muốn tránh tình trạng rối loạn.
Bạo
động khác với trừng phạt. Bạo động gây tổn thương cho
một người vô tội còn trùng phạt là ngăn chặn tội phạm.
Vũ lực không phải là người làm ra luật mà là kẻ phục
vụ luật pháp. Chính trực và công bằng là nguyên lý cai trị
và vũ lục là để hỗ trợ cho nguyên lý ấy. Trong Mahàbharata
miêu tả cái lý tưởng của một thư sinh như sau: “Trước
mặt là bốn kinh Vệ-đà, sau lưng là chiếc cung với bầu
tên, một mặt tâm linh đạt đến mục đích của nó bằng
sức mạnh tinh thần, còn mặt kia là vũ lực quân sự hoàn
thành sứ mệnh của nó.” Nhưng, trong Ràmàyana thì cho rằng
sức mạnh của người lính chiến là đáng khinh, chỉ có sức
mạnh của nhà hiền triết mới là sức mạnh chân chính. Nơi
nào mà bất bạo động không có công hiệu thì được phép
sử dụng bạo lực. Kinh Vệ-đà có nói đến chiến tranh và
chiến trường, có chứa đựng những bài kinh cầu nguyện
cho sự chiến thắng trên chiến trường và sự bại trận
của kẻ địch. Những anh hùng trong Thi Sử không lùi bước
trước kẻ thù độc ác. Ta buộc phải hủy diệt sự sống
của kẻ khác trong trường hợp phải tự vệ, nhưng đừng
bao giờ gây ra chết chóc hay khổ đau nếu chúng không tuyệt
đối cần thiết.
Những
kinh điển của Ấn Độ giáo coi bất bạo động là nhiệm
vụ tối cao, nhưng cũng đưa ra những trường hợp trong đó
nguyên tắc bất bạo động không được áp dụng. Chúng ta
sống trong một xã hội với những luật pháp, quy tắt và
phong tục không phải là lý tưởng, nó có quân đội, cảnh
sát và nhà tù, tuy nhiên ta vẫn có thể sống cuộc đời trong
sạch và thương yêu tất cả mọi người. Trong khi nêu cao
lý tưởng và luôn phấn đấu để đạt đến lý tưởng ấy,
người Ấn Độ giáo vẫn thừa nhận phải có luật pháp và
quy tắc, bởi không có chúng xã hội sẽ rơi vào tình trạng
hỗn loạn và vô trật tự. Trong khi sự toàn thiện là một
điều không thể theo đuổi được thì chúng ta phải cố gắn
không ngừng để trừ khử sự bất toàn thiện và tiến đến
lý tưởng. Lý tưởng bất bạo động phải được nuôi dưỡng
trong mỗi chúng ta như một mục đích cao cả, nếu trong những
trường hợp bắt buộc phải trừ bỏ lý tưởng ấy thì ta
phải chấp nhận với niềm ân hận, hối tiếc. Trong lời
dạy của chúa Kitô người ta cũng thấy một quan điểm tương
tự.
VII.
QUAN ĐIỂM CỦA GIA TÔ GIÁO
Trong
Cựu Ước có hai dòng tư tưởng, một ôn hòa[1] và một, có
ưu thế hơn, hiển nhiên là quá khích. Thượng đế trong Cựu
Ước tán trợ chiến tranh và giết chóc.
Lời
dạy của Jesus không phải là một vấn đề được quyết
định bằng cách tham chiếu những lời tuyên bố mâu thuẫn
với luật lệ chiến tranh và những lời cho phép sử dụng
vũ lực, mà nó phải được hiểu theo nhân cách và gương
mẫu của Jesus. Từ quan điểm ấy, chúng ta có thể nói rằng
Jesus gạt bỏ tất cả mọi sự bạo động, loại trừ chiến
tranh như một phương pháp cưỡng bức ý muốn của các dân
tộc. Khi Jesus trích dẫn giới đều: “Ngươi không được
giết” trong Cựu Ước, Jesus cho nó một nghĩa rộng. Ngài
nói: “Kẻ nào giận dữ với anh em kẻ ấy sẽ bị phán xử.”
sự mà quán của những kẻ quá khích là đề tài của một
câu ngụ ngôn nỗi tiếng trong Tân Ước: “Khi một kẻ mạnh
canh gát lâu đài của y thì của cải của y được an toàn.
Nhưng khi một kẻ mạnh hơn y xâm nhập và đánh bại y thì
hắn lột hết áo giáp của y mà y đặt trọn tin tưởng vào
đó và chia chiến lợi phẩm của y”.[2]
Sự
mặc khải (Revelation) của Jesus về thượng đế như người
cha của hết thảy đã lu mờ vì những tập quán của các
dân tộc theo đạo Thiên Chúa. Bài giảng huấn trên núi như
một lời khuyên nhủ tuyệt vọng chỉ được áp dụng, nếu
có thể, cho những cá nhân chú không phải cho những quốc
gia. Châm ngôn của Jesus: “Kẻ nào tát con vào má bên phải,
hãy chìa nốt má bê trái”. “Đừng chống lại tội ác”.
“Kẻ nào dùng gươm sẽ chết vì gươm”. “Nếu vương quốc
của ta là thế giới này thì ta muốn cho kẻ nô bộc của
ta chiến đấu, nhưng vương quốc của ta không phải từ đây”
v.v…v Tất cả được coi như chỉ liên hệ đến cá nhân
mà thôi. Jesus không phải là một nhà lập pháp và chủ nghĩa
bất đề kháng của ngài chỉ dành cho một số “Con chiên”
trong một hoàn cảnh thù nghịch. Jesus không dạy cho người
ta thủ tiêu hệ thống luật pháp công cộng. Một xã hội
có tổ chức không thể không áp dụng vũ lực. Ngay cả các
quốc gia theo Thiên Chúa giáo cũng phải đàn áp những kẻ
tội phạm và phải tự vệ chống lại những kẻ xâm lăng.
Sự chống trả bằng vũ trang không trái với Phúc Âm của
Jesus. Jesus đã lên án những thành phố Chorazin, Bethsaida và
Capernaum bằng những lời rất mãnh liệt. Ngài ghét cay ghét
đắng những người Scribes và Pharisees. Ngài dùng roi đuổi
những người đổi tiền ra khỏi đền thờ. “Và Jesus tiến
vào đền thờ thượng đế và đuổi tất cả những người
mua bán ra khỏi đền, và lật đổ những cái cái bàn của
những người đổi tiền, cái ghế ngồi của những người
bán chim bồ câu”. Cử chỉ này hoàn toàn không phù hợp với
tính tình hiền hòa dịu dàng của Jesus và không thể tưởng
tượng được trong trường hợp của một Gandhi, thường được
dùng để biện minh cho sự sử dụng vũ lục và bạo động.
Nói đến tình trạng sáo trộn về chính trị mà ngài trông
đợi sau khi chết, Jesus khuyên tín đồ của ngài bán hết
quần áo và mua gươm khi cần. “Ta đến đây không phải để
đem lại bình an nhưng là thanh gươm”. Ngài tuyên bố: “Kẻ
nào đụng đến một trong những đứa nhỏ này thì kẻ ấy
sẽ phải mang một cái cối đá vào cổ hay sẽ bị giềm xuống
đáy biển”. Jesus cực dữ tợn đối với kẻ ác và nghiêm
khắc với những kẻ phạm tội mà không biết hối cải. Sự
sống của con người đầy dẫy những mâu thuẫn và ta phải
chọn lấy đều kém xấu hơn trong hai điều xấu. Trong bất
cứ hoàn cảnh cụ thể nào chúng ta cũng phải cân nhắc thiện
và ác, và tìm cầu phúc lợi cho con người đến mức tối
đa có thể được trong mọi trường hợp. Đôi khi sự lựa
chọn là giữa một cuộc giải phẫu quan trọng và cái chết
cầm chắc của bệnh nhân. Giáo hội Thiên Chúa giáo khuyên
chúng ta áp dụng nguyên tắc bất bạo động một cách trung
dung, và không đòi hỏi tín đồ phải tuyệt đối vứt bỏ
“của cải, vợ con hay vũ khí”.
Giáo
hội nguyên thủy đã chống lại chiến tranh. Justin, Martyr,
Marcion, Origen, Tertullian, Cyprian, Laetanitus và Eusebius v.v… tất
cả đều lên án chiến tranh như là trái với Thiên Chúa giáo.
Clément của Alexandria (190-255) phản đối những sự chuẩn
bị chiến tranh và ví những người Thiên Chúa nghèo như một
“Đội quan không có vũ khí, không có chiến tranh, không có
đổ máu, không thù hận và nhơ nhuốc”. Tertullian (198-203)
nói rằng khi Peter cắt tai của Malchus, Jesus “nguyền rủa
mãi mãi hành vi tàn bạo ấy”. Hippolytus (203) quan niệm Đế
Quốc La Mã như một con vật thứ tư của Apocalypse. Cyprian
(257) lên án chiến tranh “Đã gieo rắc tàn bạo đẫm máu
khắp nơi”. Ngay cả khi bị quyền lực thế tục mạnh nhất
đàn áp. Giáo hội nguyên thủy cũng lên án sự dùng bạo lực.
Nhưng, từ thời đại Theodosius đại Đế (379-395) Thiên Chúa
giáo đã trở thành quốc giáo và đã bại hoại, giáo hội
đã chống lại bất bạo động. Kể tử đó, các cuộc tranh
đấu của giáo hội và nhà nước đã thường xảy ra và giáo
hội không còn thì giờ để quyết định xem bạo động là
phải hay quấy. Trong ba thế kỷ đầu tiên, rõ ràng giáo hội
ThiênChúa đã bát bỏ chiến tranh, tuy nhiên, khi Thiên Chúa
giáo được thiết lập như một quốc giáo thì chiến tranh
đã len lõi và Thiên Chúa giáo, lúc đầu được dung thứ và
sau đó được giáo hội ban phúc. Trong điều khoản 37 ghi rõ
rằng “Theo mệnh lệnh của nhà cầm quyền, người Thiên
Chúa giáo được phép mang vũ khí và phục vụ chiến tranh”.
Điều khoản ấy không nói rằng giúp đỡ quốc gia trong một
cuộc chiến tranh chính nghĩa là nhiệm vụ đạo đức, nhưng,
theo quan điểm của người Thiên Chúa, những ai hành động
như vậy là hành động hợp pháp. Người Thiên Chúa giáo chủ
trương rằng những kẻ công bằng, đức hạnh “có quyền
sử dụng thanh gươm” trong trường hợp chính nghĩa và không
màng đến tư lợi. Thánh Thomas Aquinas khuyên hàng giáo sỹ
phải cổ vũ quân lính, vì “Nhiệm vụ của các nhà mục
sư là khuyến khích những người khác tham gia các cuộc chiến
tranh chính nghĩa”. Nếu ngày nay các Giáo Hoàng và Tổng Giám
mục bảo nhiệm vụ của người Thiên Chúa giáo là phải giết
thì đó chỉ là sự biểu hiện cái tinh thần đã xâm nhập
thế giới Thiên Chúa giáo cách đây hàng thế kỷ. R. H. Heygrodt
nói năm 1915: “Nếu Jesus của Nazareth, người giản dạy thương
yêu kẻ thù, lại xuất hiện giữa chúng ta bằng xương bằng
thịt - có lẽ không nơi nào ngài sẽ hiện thân hơn là ở
nước Đức - thì theo các bạn, ngài sẽ hiện thân ở đâu?
Các bạn có ngĩ rằng ngài sẽ đứng trên tòa giảng và nói
một cách bực tức: “Những người Đức tội lỗi kia, hãy
thương yêu kẻ thù của các ngươi?” chắc chắn là không.
Trái lại, ta sẽ thấy ngài ngay trên trận tuyến, đứng hàng
đầu những người mang gươm đang chiến đấu với niềm thù
hận ngút trời. Đó là nơi mà ngài sẽ hiện thân, và ngài
sẽ ban phúc cho những bàn tay vấy máu và những vũ khí giết
người, có lẽ chính ngài sẽ cấm thanh gươm phán xét và
đuổi những kẻ thù của người Đức ra khỏi biên thùy của
nước Chúa, như ngài đã đuổi những lái buôn Do Thái và
những người cho vay nợ lãi ra khỏi đền thờ.”[3]
Sự
điều hòa giữa “Đừng chống lại tội ác” và “chống
lại tội ác bằng vũ lực”, giữa “chìa má bê trái’”
với “tát trã lại” là điều hòa giữa ánh sáng và boáng
tối, giữa thiện và ác. Chỉ có sự hòa giải ấy là được
quan niêm như một nhượng bộ đối với nhược điểm của
bản tính con người. Trong thời đại Cải Cách đã có một
sự chống đối chiến tranh cao cả. Erasmus viết: “Đừng
nói gì đến một người Thiên Chúa, đối với một người
thường thôi, không có gì nhơ nhớp, ti tiện và tàn bạo hơn
chiến tranh. Nó xấu xa ác độc hơn thú vật, đối với loài
người, không có dã thú nào nguy hiểm hơn chính đồng loại
của mình. Khi thú vật đánh nhau thì chúng đánh nhau thì chúng
đánh nhau bằng những vũ khí mà thiên nhiên đã ban cho chúng,
còn chúng ta thì tự võ trang để tàn sát lẫn nhau bằng những
vũ khí mà thiên nhiên chưa bao giờ tưởng tượng đến. Thú
vật cũng không thù nghịch vìn hưngzx nguyên nhân nhỏ nhặt,
chúng chỉ mất trí khi cơn đói hành hạ, hay khi chúng tự
thấy bị tấn công, hoặc là khi con cái chúng bị đe dọa.
Còn chúng ta, vì những nguyên cớ không đâu, đã gây bao sân
khấu thảm hại trên sân khấu chiến tranh?” “Hãy thương
yêu kẻ thù” đòi hỏi một thái độ đúng đắn đối với
người đồng loại của mình. Điều cần thiết không phải
chỉ là bất đề kháng, từ bỏ hận thù và ý niệm phản
động, nhưng là một tinh thần yêu thương. Chúng ta không thể
cứu thế giới bằng một tội ác như chiến tranh trừ phi
chúng ta sẵn sàng chịu đựng những khổ đau bao hàm trong
đó. Chúng ta phải tránh xa những tham vọng man rợ và giết
người của thế giới vây quanh chúng ta, hy vọng môt ngày
nào đó sẽ có cơ hội phát triển một nguyên lý tốt đẹp
hơn. Chnúg ta phải thắp lên một ngọn nến của tình thương
yêu trong một thế giới điên rồ và thù hận.
Người
ta bảo tội ác chỉ có thể ngăn chặn bằng vũ lực, rằng
trong một thế giới tranh giành và bạo động, công lý sẽ
tiêu diệt nếu không được bảo vệ. Nhưng chúng ta có nên
nghĩ đến những hậu quả của sự kết hợp với tinh thần
thương yêu không? Trời sẽ thấy sự chiến thắng của lẽ
thiện chống lại điều ác. Bổn phận của chúng ta là áp
dụng luật thương yêu trong tất cả mọi trường hợp và
khắp nơi khắp chốn, đừng bao giờ ham mê uy quyền, công
danh và lợi lộc là những thứ xuất phát từ sự sợ hãi
và
tính ích kỷ. Chúng ta không thể tin tưởng ở một đấng
cha chung mà lại tán đồng một chính sách giết người hàng
loạt một cách cực tàn nhẫn. Những tín đồ của Chúa buộc
phải từ bỏ chiến tranh vì nó phản lại với tinh thần sáng
suốt và tình thương yêu. Dù các ngài có che đậy và ngụy
trang cách nào đi nữa thì chiến tranh cũng vẫn là sự cố
gắng của một nhóm người cưỡng bức một nhóm khác bằng
cách gieo rắc chết chóc và hủy diệt. Nguồn gốc của chiến
tranh nằm trong lòng con người, trong sự hnãh diện và sợ
sệt, trong ganh tỵ và tham lam, nhất là khi những tính xấu
ấy lại khoát bộ áo dân tộc.
Chúng
ta có thể tham dự vào các cuộc chiến tranh “chính nghĩa”,
“tự vệ” và “thánh chiến” không? Câu trả lời của
Jesus cho vấn đề này rất rõ ràng và quyết liệt. Không thể
có một chính nghĩa nào thiêng liêng hơn cái chính nghĩa của
các tín đồ chiến đấu với kẻ thù của đấng Cứu Thế
để bảo vệ cho ngài. Họ muốn chiến đấu không những chỉ
cho vương quốc trên trái đất mà còn cho cả nước Chúa mà
trước mặt ngài chủ nghĩa ái quốc cao quí nhất cũng phải
tan biến. Nhưng không thể cứu thế giới bằng vũ khí mà
chỉ có thể bằng đức nhẫn nhục chịu khổ và tình thương
yêu đầy hy sinh của Thập Tự Giá mà thôi. Đừng báo thù,
đừng trả oán, dù là quốc gia hay cá nhân, chúng ta đừng
nghĩ rằng nguyên tắc của tình thương chỉ giới hạn trong
những liên hệ giữa cá nhân chứ không thể áp dụng cho những
mối bang giao quốc gia hay quốc tế. Lương tâm công giáo đang
tiến bộ, và vì thế, cách đây 15 năm, các tổng Giám mục
và Giám mục đã tuyên bố trong cuộc hội nghị tại Lambeth
rằng chiến tranh “trái với tinh thần chúa Kitô”. Chúng
ta đã bắt đầu cảm nhận rằng nếu chúng ta được coi là
văn minh thì chúng ta phải cố gắng tận diệt mọi cuộc chiến
tranh. Lương tri nhân loại đang tiến bộ với sự tiến bộ
ý thức của chúng ta về điều phải và điều quấy.
Chú
thích:
[1]-Xem
Matthew V. 43-45, Luke IX. 51-56.
[2]-Luke
XI. 21-22
[3]-Thus
Spake Germany, Coole and Potter, P. 8.
VIII.
ẢO TƯỞNG CHIẾN TRANH
Thế
giới này đã chịu nhiều nỗi đau đớn ê chề vì những
việc làm mà ta tin là phải hơn là vì những việc làm mà
ta biết là quấy. Những nỗi đau khổ do những kẻ cướp
và tội phạm gây ra cho loài người ít hơn là do việc làm
quấy của những người lương thiện. Các cuộc Thánh chiến
được Giáo hội ban phúc. Các cuộc tra tấn để tìm sự thật
không những chỉ dùng cho tội phạm mà cho cả nhân chứng.
Các cuộc chiến tranh cũng được những người dân lương
thiện coi như những định chế tự nhiên và vô hại trong
đời sống văn minh. Những kẻ xấu xa không phải là mối
nguy thật sự, nhưng chính những công dân hiền lành, ngoan
ngoãn, cần cù và tôn trọng luật pháp đã trở nên điên
rồ vì những lý tưởng quốc gia, bởi lẽ quan niệm của
họ về điều phải và quấy đã bị hướng dẫn sai lầm
một cách cố ý và có hệ thống. Một sự lạm dụng càng
ăn sau vào chế độ xã hội bao nhiêu, thì càng khó mà thức
tỉnh lương tri con người chống lại nó bấy nhiêu. Chúng
ta phải vững vàng để tiến tới một thế giới không còn
chiến tranh. Bản tính nhân loại vốn có những khả năng tính
tương lai của nó vẫn chưa được phát hiện. Theo một ý
nghĩa nào đó, mặc dầu thiên đường của Chúa sẽ không
bao giờ được thể hiện trên trái đất này, tuy nhiên, theo
một ý nghĩa khác, nó luôn luôn đang được thể hiện. Chưa
bao giờ thế giới hoàn toàn đen tối mặc dù nó chưa đạt
đến điểm mà nó phải đi tới. Những tội ác hiện hữu
trong bản tính và các cơ cấu của con người đã thiêu đốt
thế giới ngày nay cũng sẽ là điềm báo trước một sự
tiến bộ xa hơn nữa. Chúng ta phải phát triển ý chí hòa
bình và tạo nên những điều kiện mà trong đó chiến tranh
chỉ là ảo tưởng, không còn sức hấp dẫn được ai. Bản
tính con người vốn bảo thủ và trì trệ. Chỉ có nhu cầu
bén nhọn nhất mới thúc đẩy được nó hành động. Nó chỉ
biến đổi trong trường hợp sự cần thiết thôi thúc ở
cả nội tâm lẫn ngoại cảnh, nhưng thật sự nó có biến
đổi. Nếu không thì con người sẽ chỉ là một vật bất
động. Không có cái gì quá co giãn như tâm tính con người.
Loài người thì đang trưởng thành chứ chưa phải đã hoàn
toàn.
Những
quốc gia văn minh đang bắt đầu thừa nhận chiến tranh là
phương pháp lỗi thời để giải quyết mọi xung đột. Sự
tàn phá do chiến tranh hiện đại gây nên quá lớn so với
những mục đích đến nỗi các lý lẽ và luận cứ mà trước
kia người ta dùng để biện minh cho chiến tranh thì ngày nay
không thể đứng vững được nữa. Người ta bảo thói quen
giết chóc và gây khổ đau là một yếu tố tự nhiên trong
con người. Spengler viết: “Người là con thú dữ. Tất cả
các nhà mô phạm và đạo đức trong xã hội muốn chối bỏ
hình thù ấy cũng chỉ là con thú dữ già nua ghét những con
khác vì cuộc tấn công mà họ cố tránh”. Gần đây, trong
một cuốn sách nhan đề Chủ nghĩa quốc gia, tác giả viết:
“Sự xung đột không phải là chủ nghĩa quốc gia hay chủ
nghĩa dân tộc mà là trong bản tính con người. Niềm hy vọng
sẽ có một thời kỳ mà trong đó người ta không tự tổ
chức nhau lại thành nhóm cho mục đích tranh đấu với những
nhóm khác, có vẻ chỉ là không tưởng”[1]. Loài người không
phải là thú dữ thường ăn tươi nuốt sống những con vật
yếu kém hơn, cũng không giống như những con vật nguy hiểm.
Vả lại, hành động của con người phần nhiều là hậu thiên
chứ không phải là bản năng. Chính điều này làm cho con người
khác với muôn vật. Hành động của con người có thể thích
ứng nới hoàn cảnh. Tính hiếu chiến không phải là một
thái độ của bản năng nhưng là một tập quán hậu thiên.
Xã hội ngày nay muốn rằng chúng ta phải chịu khổ hay chết
ngoài chiến trường, cững như các thời kỳ khác nó đã đòi
hỏi người ta phải tự thiêu hay chết dưới xe Jagannath. Chế
độ xã hội uốn nắn tâm hồn chúng ta. Người ta sợ xã
hội hơn cả sợ đạn đại bác. Muốn đừng sợ, chúng ta
phải vượt ra ngoài ước lệ xã hội. Chúng ta cần thay đổi
bầu không khí tâm lý.
Trước
khi hạ một con thú, người thợ săn viện ra một nhiệm vụ
xã hội là cung cấp thực phẩm. Ngày nay người ta không cần
đến người thợ săn cho mục đích ấy nữa, thế nhưng sự
săn bắn vẫn thịnh hành vì săn bắn để giải trí đã thay
thế cho săn bắn để sinh sống. Cũng thế, khi chúng ta bị
những kẻ dã man bao vây và tấn công thì người chiến sĩ
là nguồn hi vọng, nhưng ngày nay chiến tranh còn cần thiết
nữa không? Loài người là loài vật duy nhất giết nhau vì
những lý do không tưởng, vì quyền sở hữu đất đai, vì
tranh nhau một cô gái, vì hư danh, vì đường biên giới ở
chỗ này chứ không phải ở chỗ kia v.v…Khi một định chế
không còn cần thiết nữa, chúng ta lại tưởng tượng ra một
lý lẽ khác để thỏa mãn thị hiếu do thói quen lâu ngày
tạo nên. Chiến tranh đã là trò chơi của các vua chúa và
là thể tháo của giai cấp thượng lưu mà trong đó phần thưởng
là danh vọng và lợi lộc[2]. Chiến tranh tự nó đã trở thành
cứu cánh, một trò chơi thích thú, một cuộc đầu tư của
các nhà tài phiệt. Những kẻ tham chiến không phải là những
người xấu tự tin rằng họ đang là quấy mà là những người
lương thiện nghĩ rằng mình đang làm một công việc phải.
Chừng nào mà quyền lực và thành công còn được tôn sùng
thì truyền thống quân sự, với hình thức kỹ thuật tàn
bạo hiện đại, sẽ còn được ưa chuộng. Chúng ta phải
thay đổi những giá trị của chúng ta, phải nhận chân rằng
bạo lực là một sự bất hạnh phá vỡ xã hội và tìm ra
những phương pháp khác để thiết lập các mối bang giao khả
quan hơn, Bernard Shaw nhận định rằng trong một xã hội thật
sự văn minh sẽ không còn chỗ cho bạo động, bởi vì không
một người nào có thể dùng bạo động đối với một người
khác. Sự mỉa mai chua chát của chiến tranh là ở chỗ chúng
ta tham chiến không phải vì chúng ta là độc ác mà là chúng
ta muốn tỏ ra mình tử tế, rộng lượng. Chúng ta tham chiến
để cứu vãn nền dân chủ, để đem lai tự do cho thế giới,
để bảo vệ đàn bà, trẻ con và gia đình chúng ta. Ít nhất
chúng ta tin như thế.
Cũng
như chủ nghĩa ăn thịt người, treo cổ tội nhân, đốt sống
nữ phù thủy và các cuộc đấu kiếm coi như phản xã hội
thì chiến tranh cũng phải được coi là một tội ác khủng
khiếp. Chúng ta phải thừa nhận rằng những tiêu chuẩn luân
lý cũng phải được áp dụng cho các quốc gia, và những hành
động của một cá nhân được xem như tội ác và vô luân,
phản xã hội thì không có lý do gì những hành động ấy
lại
trở nên chính đáng và hợp lý khi chúng được thực hiện
bởi nhà nước. Chiến tranh, dù cần thiết đến mấy đi nữa,
vẫn là một tội ác, tội sát nhân, trộm cướp do đa số
tham dự.
Người
ta biện luận rằng có những đức tính quân sự như can đảm,
hỷ xả, trung thành với nghĩa vụ và sẵn sàng hi sinh. Người
lính được xưng tụng là vĩ đại vì tự nguyện phục tùng
bộ máy chiến tranh. Mà sở dĩ được như thế là vì chiến
tranh được diễn tả bằng những lời lẽ rất kiêu, rất
hùng tráng và rất hấp dẫn một cách tưởng tượng. Chiến
tranh được xem như một yếu tố cần thiết cho sự tiến
bộ và văn minh là nguồn đạo đức và hạnh phúc[3]. Vào
buổi đầu, chiến tranh tương đối còn là một sự kiện
nhỏ, nó chỉ là một cuộc chiến đấu đơn lẻ như các cuộc
đấu quyền thuật. Ở thời Trung cổ người ta theo đuổi
nghề nghiệp quân sự và tự bán mình cho các quốc gia kình
địch như những lính đánh thuê tham dự các cuộc chiến không
có liên can gì đến họ. Họ phạm tội giết người vì các
quốc gia mà họ không mang ân nghĩa gì cả. Nhưng các cuộc
chiến tranh hiện đại với những vũ khí man rợ giết người
hàng loạt, đa số là dân thường, là một tai họa khủng
khiếp giáng xuống đầu một dân tộc. Đàn bà và trẻ con
ở trong trận tuyến. Tài phát minh của con người đã tiến
từ đá vụn đến thép, từ thép đến thuốc súng, từ thuốc
súng đến hơi độc và vi trùng (khí giới). Chiến tranh trong
thế giới máy móc hiện đại là sự đe dọa khủng khiếp
cho nền văn minh. Bằng bạo lực vật chất và không ngừng
tuyên truyền gây hận thù đối với kẻ địch, chiến tranh
đã làm cho tình cảm con người trở nên chai đá. St. Augustine
hỏi: “Người ta lên án chiến tranh vì lẽ gì? Có phải nó
giết nhiều người mà một ngày kia đều phải chết? Những
người yếu bóng vía – chứ không phải những nhà tôn giáo
– có thể trách cứ chiến tranh vì lẽ đó. Điều mà người
ta lên án chiến tranh là ý muốn hãm hại, lòng thù hận, và
ham muốn chiếm đoạt”. Trong tác phẩm vĩ đại Chiến Tranh
Và Hòa Bình, Tolstoi viết: “Mục đích của chiến tranh là
giết người, dụng cụ của nó là mật thám, là phá hoại
dân lành, cướp đoạt của họ để tiếp tế cho quân đội,
lừa bịp, dối trá mà người ta kêu là kế sách nhà binh,
những thói quen của nghề lính là thiếu tự do, tức là, kỷ
luật, lười biếng, dốt nát, bạo ác, tàn nhẫn, say sưa”.
Frederick đại đế viết cho đại thần Podewills: “Nên là
những người thật thà, nhưng nếu cần phải dối trá thì
chúng ta sẽ dối trá”[4]. Không một ai thấy rõ sự sụp
đỗ toàn diện các tiêu chuẩn, những nỗi đau khổ và khủng
khiếp của chiến tranh, những tra tấn cực hình của con người
mà lại còn phóng đại chủ nghĩa anh hùng và thắng lợi của
chiến tranh. Chiến tranh đã đưa hàng triệu người xuống
hố thẳm của chết chóc, hàng triệu gia đình tan hoang. Tất
cả tội lỗi đều tập trung trong chiến tranh. Quận công Wellington
nói: “Hãy tin tôi đi, nếu bạn chỉ thấy chiến tranh trong
một ngày thôi thì bạn sẽ cầu nguyện đấng tối cao đừng
bao giờ cho bạn thấy chiến tranh trong một giờ”. Lão tử
nói: “Một cuộc chiến thắng phải được cử hành theo nghi
thức tang lễ”[5].
Người
ta cho chiến tanh là một tội ác không thể tránh khỏi, là
một tai họa, một ngọn roi trùng phạt của Thượng Đế,
một hiện tượng thiên nhiên cũng như động đất, bảo lụt
và giông tố, hoàn toàn vô nhân cách (imperspnal). Sự xuất
hiện của những kẻ dã man cũng giống như cộc tấn công
của đàn châu chấu hay một đám vi trùng dịch tả, chúng
ta phải đẩy lùi cuộc tấn công ấy bằng bạo lực. Chiến
tranh không phải là hành động của Thượng Đế hay những
luật tác thiên nhiên, mà là do con người gây ra. Chiến tranh
chỉ khó tránh khỏi chừng nào mà chúng ta còn coi quyền chính
trị là tự nhiên. Nếu những giá trị công bằng và khoan
dung phải phụ thuộc vào mục đích quyền lực thì người
ta không thể thay thế được “luật rừng rú”. Nếu thực
tế chính trị có nghĩa là thừa nhận chiến tranh như hiện
tượng thiên nhiên thì chúng ta phải vứt bỏ sự tự do của
con người. Hòa bình trên trái đất là một niềm tin, một
hành động ý chí chống lại quyết định luận.
Có
người bảo ta phải dùng lửa để dập tắt lửa khi nhà cháy,
nhưng người khác lại chủ trương dùng nước để diệt đám
cháy. “Một khẩu súng chỉ có thể tắt họng bởi một khẩu
súng khác”. Nếu chúng ta tin tưởng ở bạo lực thì chúng
ta không thể trách khứ Đức Quốc Xã đã dùng bạo lực một
cách chính xác, khoa học và tàn bạo để đập tan ý chí của
con người. Nhưng chúng ta có thể đánh bại chủ nghĩa phát
xít bằng bạo lực và uy hiếp mà chính nó đã áp dụng?
Chúng ta lý luận rằng chủ nghĩa văn minh ngày nay đang bị
một chủ nghĩa dã man mới đe dọa và còn khủng khiếp hơn
ở quá khứ vì nó được trang bị bằng khoa học và kỷ thuật
tiến bộ hơn. Đặc trưng chính của chủ nghĩa mới này là
cơ giới hóa xã hội, coi nghệ thuật, văn hóa, khoa học và
triết học chỉ là dụng cụ để tranh thủ quyền lực. Chẳng
có gì là thiêng liêng cả: đàn ông, đàn bà, trẻ con, gia
đình và tôn giáo. Nhà nước được tổ chức như một cộng
đồng khổng lồ và thi hành toàn bộ chế độ quân phiệt.
Đức Quốc Xã, nơi mà chủ nghĩa quân phiệt là hoạt động
chính của nhà nước, là lí luận cực đoan của giáo điều
bạo lực. Câu nói cổ điển của Lord Baldwin là: “Nếu sự
phòng vệ duy nhất còn lại mà bị xâm phạm thì điều đó
có nghĩa là chúng ta phải giết đàn bà và trẻ con nhanh hơn
kẻ thù nếu chúng ta muốn tự cứu lấy mình. Nếu kẻ thù
dùng hơi độc thì chúng ta cũng phải dùng hơi độc. Nếu
chúng trung binh thì chúng ta cũng phải trung binh, vì muốn đánh
bại kẻ thù chúng ta phải làm hệt như kẻ thù. Các quốc
gia đồng minh phải là những bộ máy chiến tranh toàn diện.
Chúng ta quả quyết những nguyên tắc dân chủ, tự do và khoan
dung phải tạm thời nhượng bộ. Chúng ta phải dựng lên một
chế độ hệt như kẻ địch mà ta tỏa ra khinh bỉ. Chúng
ta phải chiến đấu với tội ác bằng tội ác, cho đến khi
chúng trở thành chính cái tội ác mà chúng ta đang chiến đấu.
Không chinh phục được kẻ thù, chúng ta để cho họ tạo
nên chúng ta theo hình ảnh của chính họ”[6]. Thông điệp
của Staline gởi cho dân Nga cho thấy nguy cơ này: “Không thể
đánh bại được kẻ địch nếu chúng ta không căm ghét chúng
đến tận xương tủy của chúng ta.” Chúng ta có những hoài
bảo khác với kẻ thù nhưng lại áp dụng những phương pháp
tương đẳng. Chúng ta tin rằng chúng ta có thể dùng sự căm
ghét để phát triển tình thương, và cưỡng bách toàn diện
để tăng thêm tự do. Đó là sự cạnh tranh nhau của tàn nhẫn
và bất công, nhưng, chung cực, tất cả những điều đó sẽ
làm cho tâm hồn trở nên bệnh hoạn và không có cách nào
chữa được. Thomas Aquinas nói: “Dù là mục đích tốt đẹp
ta cũng phải theo những đường lối chân chính, chứ không
phải đường lối xấu xa”.
Nếu
chúng ta khích động tinh thần căm phẩn hận thù để chiến
thắng thì đến khi kiến tạo hòa bình thì chúng ta cũng không
thể gạt bỏ tinh thần ấy ra một bên. Người ta lí luận
rằng vì để đánh bại kẻ thù chúng ta hãy tạm quên lí
tưởng của chúng ta và khi trật tự được vãn hồi chúng
ta sẽ khôi phục lí tưởng ấy: đó là một lỗi lầm thảm
hại. Nếu ta áp dụng những biện pháp của kẻ địch để
đánh bại họ và, để chiến thắng trên trận địa. Nếu
ta phản bội lí tưởng của ta thì truyền thống văn minh cũng
bị phản bội. Chiến tranh làm bùng cháy những dục vọng
của chúng ta, hâm nóng sự mường tượng khiến ta trở nên
cuồn nhiệt, và trong trại thái chiến tranh không một sự
dàn xếp hợp lí nào có thể đạt được. Trận chiến
thứ nhất mặc dầu thắng trên chiến trường nhưng đã thua
trong lâu đài Versailles. Trong các cuộc nghị hòa, trước điều
ước Versailles. Lloid George gởi cho Clemanceau một bức giác
thư, sau được in vào cuốn sách của ông ta nhan đề là “Sự
thật về điều ước hòa bình” trong đó ông ta đã viết
như sau: “Các ngài có thể chiếm đoạt hết các thuộc địa
của nước Đức, giảm quân đội của nó xuống chỉ còn
một lực lượng cảnh sát, hay hải quân của nó xuống hàng
một cường quốc thứ năm, tất cả không có gì thay đổi,
cuối cùng nước Đức cảm thấy đã bị đối xử một cách
bất công trong hòa bình 1919 nó sẽ tìm cách lấy lại những
cái mà những kẻ chiến thắng đã cưỡng đoạt của nó.
Cái ấn tượng giết chóc trong 40 năm trời đã in sâu vào
lòng người và sẽ không phai mờ với những năm được đánh
dấu bởi trận đại chiến kinh hồn. Vậy thì sự duy trì
hòa bình sẽ dựa trên căn bản không có những nguyên nhân
khích nộ luôn luôn khấy động tinh thần yêu nước, yêu công
lí và tinh thần võ hiệp. Nhưng người ta sẽ không bao giờ
quên và tha thứ sự bất công và kêu căng biểu hiện trong
giờ phút chiến thắng”[7]. Điều ước Versailles không có
một tí trách nhiệm nào đối với những biến sự xảy ra
sau đó. Trong những sách lược ngoại giao tiếp theo, sự chán
nản và thất vọng của một vài quốc gia sự nghi kị và
sợ hãi những người khác đã tạo nên một tình hình căn
thẳng và cuối cùng, các nhà lãnh đạo quốc gia đã mất
bình tĩnh xô đẩy thế giới đến vực thẳm chiến tranh.
Chúng
ta có thể thắng cuộc chiến này nhưng chúng ta sẽ có đạt
được hòa bình không?
Lại
nữa nếu một cuộc tranh chấp được giải quyết bằng vũ
lực thì nó được giải quyết đúng cách không? Hễ bên nào
có nhân lực, tài lực và súng đạn nhiều nhất sẽ thắng.
Điều đó không có nghĩa là họ có chính nghĩa mà chỉ có
nghĩa là quân lực của họ hùng mạnh hơn. Chiến tranh không
giải quyết được bất cứ vấn đề gì trừ có một điều
là bên nào mạnh hơn. Những kẻ muốn trở thành bá chủ thế
giới có trong tay một nền văn minh máy móc và kỹ thuật mới,
và dùng nó cho những mục đích gian ác, lại ngụy trang như
những kẻ nhiệt thành tận tụy và yêu chuộng tự do.
Nếu
chiến tranh là một đặc điểm thường xuyên trong đời sống
quốc tế, nếu chúng ta luôn luôn sống trong trạng thái chuẩn
bị và khủng hoảng, thì văn minh sẽ là một sự hắc ám
thường xuyên. Những nỗ lực chiến tranh không phải là một
giải pháp cho các nhu cầu của con người. Trái lại, nó chỉ
mang cho nhân loại những khổ đau và thảm họa không thể
tả xiết.
Người
ta tự hỏi phải lựa chọn đường nào đây? Một sự nô
lệ nhực nhã trong đó chỉ có cuộc đời tối tăm, hoang lạnh
và tàn bạo, một cuộc đời mà cái gì là lý tưởng, là
tinh hoa đều bị cướp mất và không thể nào có sự tiến
bộ tinh thần? Chiến tranh, mặc dầu khủng khiếp, là một
cái kém ác hơn trong hai tội ác. Nó là một cánh duy nhất
mà nhờ đó chúng ta có thể bảo tồn được niềm tin ở
các giá trị tinh trong con người. Người Hi Lạp đã có lí
họ khi đứng lên chống lại Xerxes chứ không chịu làm nô
lệ. Người Mĩ đã làm đúng khi họ chọn chiến tranh hơn
là làm tôi mọi cho George đệ tam. Các nhà cách mạng Pháp
đã làm một việc phải bằng cách đổ máu để đoạt lấy
sự tự do tinh thần. Cũng thế, chúng ta có lí để lên án
chủ nghĩa Đức Quốc Xã, có các cuộc chiến tranh chính nghĩa.
Những
cuộc chiến tranh nào cũng được cả hai bên tham chiến coi
là chính nghĩa. Vậy chính nghĩa ở đâu? Nếu chính nghĩa tràn
lan tất cả thì những sự phân phối bất công về tài sản,
cơ hội, nguyên liệu, đất đai, kinh tế và ảnh hưởng chính
trị đều là đúng cả. Nếu chính nghĩa bao hàm trong sự tương
xứng giữa tính chất quan trọng của một quốc gia và tài
sản của quốc gia ấy, thì sự quan trọng ấy được chứng
minh như thế nào? Có phải đó là dân số, sức mạnh, văn
hóa và kinh nghiệm cai trị? Có một hệ thống pháp luật nào
làm mục tiêu đấu tranh không? Chúng ta có chủ trương rằng
không một quốc gia nào đưa thế giới đến vực thẳm chiến
tranh chừng nào mà các cuộc điều đình, nghị hòa và trọng
tài còn có hiệu lực? Chiến tranh chính nghĩa là chiến tranh
giải phóng và tự vệ. Mục đích của các cuộc chiến tranh
ấy là bảo vệ dân chúng để chống lại sự xâm lược ở
bên ngoài mưu toan đặt ách thống trị lên đầu lên cổ họ.
Còn chiến tranh phi nghĩa là chiến tranh xâm lược nó nhằm
mục đích cướp đoạt và nô lệ hóa các quốc gia khác. Những
sự phân biệt này có thật rõ ràng không? Vấn đề hết sức
phức tạp và những nguồn tin tức của ta thường bị các
chính phủ đầu độc nên rất khó cho ta quyết định đâu
là chiến tranh chính nghĩa. Rất khó mà phân biệt thật rõ
ràng phải và trái, mỗi bên đều tự cho mình là phải. Cuối
cùng người ta đã phân biệt là nhiều chính nghĩa hơn và
ít chính nghĩa hơn. Sự sai khác giữa kẻ xâm lăng và người
tự vệ không được thực tế. Chúng ta không cần nghĩ rằng
kẻ thù của chúng ta là những con quỉ nuốt sống con cái
của chúng. Những kẻ tự vệ những cái mà trước kia họ
cũng đã đạt được bằng sự xâm lăng. Họ đang bảo vệ
cái nguyên trạng (Status quo) chứ không phải một xã hội mới
công bằng. Quyền sở hữu sẽ vô nghĩa nếu không phải là
một xã hội có pháp luật, và cái thế giới hỗn loạn không
tôn trọng luật pháp. Chúng ta tin rằng nếu đè bẹp được
người Đức và người Nhật thì tất cả sẽ đâu và đấy.
Không nên lạc quan và tự mãn như thế. Cuộc chiến tranh vừa
rồi kết liễu, người Đức đã suy yếu và bị nhục nước
Đức bị buộc là thủ phạm đã gây ra thế chiến. Hải quân
Đức bị dìm xuống đáy biển là lục quân thì giảm xuống
chỉ còn là một lực lượng cảnh sát gồm 100.000 người.
Nước Đức bị giải giới bằng lời hứa hẹn sẽ giải
giới toàn diện mặc dầu không một cường quốc nào ở Âu
Châu có ý định giải giới. Những sự bồi thường chiến
tranh bất công được quy định không những biến cái thế
hệ có dính líu đến cuộc chiến thành những tên nô lệ
mà cả con cái, cháu chắt của họ nữa. Nói theo ngôn ngữ
của Sir Eric Geddes là: “Chúng ta vắt nước Đức cho đến
khi những con gà con phải kêu lên”. Nước Đức được bao
bọc bởi một số tiểu bang. Saar trở nên một tiểu bang độc
lập dưới sự hỗ trợ của Hội Quốc Liên, Rhineland bị
chiếm đóng và Ruhr thì bị xâm lược. Tất cả những việc
ấy đều được thực hiện theo nguyên lý sức mạnh là lẽ
phải. Bất cứ một dân tộc kiêu hãnh nào mà bị đối xử
như vậy thì cũng nhào xuống hố sâu tuyệt vọng và đón
nhận động lực hủy diệt của Hitler và Đức Quốc Xã vốn
chủ trương “dù là cái gì đi nữa cũng còn tốt đẹp hơn
tình trạng hiện tại”. Hãy lấy trường hợp nước Nhật,
nơi mà một dặm vuông có tới 465 người, trong khi Hoa Kỳ
có 41. Hàng năm dân số Nhật gia tăng khoảng một triệu, mức
sống hạ thấp dần và cuối cùng, Nhật chắc chắn phải
đối diện với một thời kỳ chết đói. Viễn tượng ấy
làm Nhật sợ, Nhật phải có nguyên liệu nếu không thì chết.
Nhật thấy Nga tràn xuống Trung Hoa ở phía Bắc và phía Tây,
Pháp có một Đế Quốc ở phía Nam Trung Hoa và Anh có một
ảnh hưởng lớn tại khu vực sông Dương Tử. Người Nhật
không phải con quỷ dã man, nhưng là một dân tộc bình thường
sợ rằng nếu họ không là điều họ đang phải làm thì sẽ
chết. Chúng ta căm ghét người Đức đã bức hại người
Do Thái, nhưng Hoa Kỳ lại không làm như thế đối với người
Nhật. Đạo luật Lệ Ngoại còn đó, làm hàng triệu người
bất mãn. Đức Quốc xã đang thi hành một chương trình kỳ
thị chủng tộc mà kỷ thuật thực hiện chủ yếu mượn
của một vài nước đồng minh. Ông Lloyd George yêu cầu chúng
ta đừng phán đoán tác giả của điều ước Versailles bằng
sự “Lạm dụng liền sau đó những điều khoản và quyền
lực do một vài quốc gia đã thảo ra những điều luật ấy.
Người ta không thể quyết định giá trị của một đạo
luật bằng sự giải thích man trá những mệnh đề của nó
bởi những kẻ tạm thời ở vào địa vị có quyền lạm
dụng luật pháp và có quyền trốn tránh nghĩa vụ danh dự.
Người ta không nên trách cứ những Điều Ước. Lỗi là tại
những kẻ đã tạm quên những lời ước hẹn trang trọng
của chính họ bằng cách lợi dụng một cách không danh dự
cái ưu thế tạm thời của mình để đối xử bất công với
những người tạm thời cô thế”[8]. Khi người Đức chịu
đình chiến trên căn bản Mười Bốn Điểm của Wilson thì
họ được những kẻ chiến thắng đối xử theo cách mà ông
Lloyd George đã thuật lại như thế này: “Người Đức đã
chấp nhận những điều kiện đình chiến của chúng ta, như
vậy họ đã thỏa thuận với phần lớn những điều
kiện khắc khe ấy. Nhưng, cho đến nay, chưa một tấn thực
phẩm nào đã được gởi đến nước Đức. Những tàu đánh
cá cũng không được nhỗ neo. Hiện giờ thì Đồng Minh là
đấng tối cao, nhưng một ngày nào đó, kỷ niệm chết đói
sẽ trở lại chống lại họ. Người Đức đang chết đói
trong khi hàng trăm tấn thực phẩm đang nằm chờ ở Rotterdam
để được chuyên chở sang Đức. Đồng Minh đang gieo rắc
những mối hận thù trong tương lai, họ đang chồng chất đau
khổ không phải lên người Đức mà lên chính họ”[9]. Chừng
nào các quan niệm hiện tại còn hoạt động, thì vở tuồng
như thế vẫn còn tiếp diễn trên sân khấu chiến tranh, chỉ
những đào kép