CHÂN LÝ
TUYỆT ĐỐI
Hoà
Thượng Thanh Từ
Một
thực thể không lệ thuộc nhân quả, duyên sanh, thoát ngoài
đối đãi là chân lý tuyệt đối. Không thuộc nhân quả nên
không sanh diệt vô thường. Không thuộc duyên sanh nên không
phải hợp tướng giả dối. Thoát ngoài vòng đối đãi nên
không trị liệu, không so sánh, không luận bàn, không suy nghĩ
đến được. Thực thể này không lệ thuộc thời gian, không
bị chi phối của không gian, vượt ngoài mọi đối tượng
trong vũ trụ. Chính nó là sanh mạng là mạch sống của chúng
sanh, mà chúng sanh không nhận ra nó. Nó hiển nhiên hằng có
mặt nơi chúng ta, mà chúng ta lãng quên nó một cách đáng
thương. Nó là thể chẳng sanh chẳng diệt vĩnh cửu trường
tồn của chúng ta, chúng ta không biết đến nó, đi nhận cái
sanh diệt tạm bợ làm mình. Bỏ quên thực thể này là vô
minh là si mê, nhận được nó là giác ngộ là trí tuệ. Bỏ
quên nó, đi theo sanh diệt là luân hồi, nhận sống với nó
là vô sanh giải thoát. Bởi thực thể này hệ trọng dường
ấy, nên chúng ta phải biết: Nó tên gì? Làm sao nhận ra nó?
Nhận được nó có lợi ích gì? Chúng tôi sẽ theo thứ tự
giải quyết những thắc mắc này.
Thực
thể này nguyên không có tên, trong Phật pháp tùy công dụng
gắng gượng đặt rất nhiều tên: Kinh Kim Cang gọi là Kim
Cang Bát-nhã Ba-la-mật tức là trí tuệ cứu kính như kim cang.
Bởi vì trí tuệ này không có cái gì phá hoại được nó,
mà nó hay phá hoại tất cả, như chất kim cang. Kinh Viên Giác
gọi nó là Viên giác tánh, là tánh giác tròn đầy. Vì đối
với các thứ chân lý, chúng ta nhận được từng phần chân
lý nào thì, giác ngộ phần chân lý ấy, nên gọi là phần
giác. Chỉ nhận được Chân lý tuyệt đối này, mới gọi
là giác ngộ viên mãn. Kinh Pháp Hoa gọi là Tri kiến Phật
hay Phật thừa. Bởi vì nó là cái thấy biết Phật, là cỗ
xe đưa người đến Phật quả. Kinh Hoa Nghiêm gọi là Trí
tuệ Phật. Vì nhận được thực thể này là trí tuệ giác
ngộ của chư Phật. Kinh Lăng Nghiêm gọi là Chân tâm hay Như
lai tàng. Nó là tâm thể chân thật hay kho tàng Như Lai của
chúng sanh. Kinh Duy-ma-cật gọi là Pháp môn bất nhị, vì nó
vượt ra ngoài vòng đối đãi hai bên. Thiền tông gọi là
Chân tánh. Nó là tánh chân thật của tất cả chúng sanh. Lại
còn những tên thông dụng là: Chân như, Phật tánh, Pháp thân,
Đạo, Bản lai diện mục..., không thể kể xiết.
Tạm
biết tên thể này một cách khái quát rồi, chúng ta cần phải
nhận ra mặt mày nó mới là điều thiết yếu. Song phàm có
nói năng có trình bày đều thuộc về tương đối, làm sao
diễn đạt khiến người chưa hiểu nhận được. Đây quả
là điều thiên nan vạn nan. Tuy nhiên, chúng tôi cũng gắng
gượng trước tạm đặt những nguyên tắc, kế dẫn lời
Phật dạy trong kinh, sau cùng nhắc lại những phương tiện
của Thiền sư, họa chăng quí độc giả có nhận được phần
nào chăng?
Chúng
ta tạm đặt những nguyên tắc để khả dĩ nhận ra mặt mày
của nó. Phàm cái gì “có hình tướng đều do duyên hợp
là hư giả”, cái gì “có tác động là sanh diệt”, cái
gì “đối đãi là không thật”. Ngược lại, cái gì “không
hình tướng, không tác động, không đối đãi là chân thật
thường còn vô sanh”. Cái không hình tướng thì không giới
hạn chỗ nơi trong ngoài. Vừa đặt câu hỏi tìm chỗ nơi
nó là sai. Cái không tác động thì không sanh diệt, không bị
vô thường theo thời gian. Đặt vấn đề thời gian với nó
là sai. Cái không đối đãi thì không còn so sánh không phân
biệt. Đặt vấn đề so sánh phân biệt với nó là sai. Thực
thể này tràn đầy hiện hữu nơi chúng ta. Vừa dấy tâm tìm
kiếm nó là sai. Nó là thực thể của giác tri, không phải
cái đối tượng giác tri. Nếu khởi nghĩ cầu biết nó là
sai. Nó không hình tướng, không tác động, không đối đãi,
mà có mặt khắp ba nơi ấy. Cho nên nghĩ ly khai hình tướng
tác động đối đãi để tìm nó là sai. Yếu chỉ nhận ra
nó là tự ta “trực nhận, thầm nhận”. Lời Phật dạy,
phương tiện Tổ chỉ đều là lối “đập cỏ rắn sợ”
hay “vỗ nước cá đau đầu” mà thôi. Chúng ta muốn nhận
ra nó phải khéo nhìn theo tinh thần “ngón tay chỉ mặt trăng”.
Mặt trăng không nằm tại đầu ngón tay, khéo nương theo ngón
tay thấy mặt trăng ở tận trong hư không. Hoặc nhìn theo tinh
thần soi gương. Nhân thấy bóng trong gương, biết được mặt
thật của mình, đừng chấp bóng là thật, đợi khi xoay gương
mất bóng la hoảng lên “mất mình”.
Đây
là phương tiện tạm đặt những nguyên tắc, nương nó khả
dĩ chúng ta thấy được thực thể chính mình.
Thực
thể này biểu lộ thường xuyên nơi sáu cơ quan (mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ý) của chúng ta, mà không lệ thuộc hoàn
toàn sáu cơ quan ấy. Dễ nhận dễ thấy nhất là, ở mắt
và tai. Vì thế, đức Phật khi muốn chỉ thực thể chẳng
sanh chẳng diệt ấy, thường dùng phương tiện chỉ ngay nơi
mắt và tai của chúng ta.
Kinh
Lăng Nghiêm có đoạn:
...Phật
ở trong đại chúng đưa tay lên rồi nắm lại xòe ra, nắm
lại xòe ra, hỏi ngài A-nan: Nay ông thấy cái gì? A-nan thưa:
Con thấy bàn tay trăm báu của Như Lai ở trong chúng xòe nắm.
Phật bảo A-nan: Ông thấy tay ta ở trong chúng xòe nắm, là
tay ta có xòe có nắm hay cái thấy của ông có xòe có nắm?
A-nan thưa: Tay trăm báu của Thế Tôn ở trong chúng xòe nắm.
Con thấy tay Như Lai tự xòe nắm, chẳng phải tánh thấy của
con có xòe nắm. Phật hỏi: Cái nào động cái nào tịnh?
A-nan thưa: Tay Phật động, tánh thấy của con còn không có
tịnh, huống nữa là động. Phật khen: Đúng thế!
Lúc
đó, trong lòng bàn tay Phật phóng một làn hào quang báu soi
bên phải ngài A-nan, A-nan liền xoay đầu nhìn bên phải; lại
phóng quang soi bên trái ngài A-nan, A-nan xoay đầu nhìn bên trái.
Phật
hỏi A-nan: Hôm nay tại sao đầu ông dao động? A-nan thưa: Con
thấy hào quang báu của Như Lai phóng đến bên trái bên phải
của con, con nhìn theo hai bên nên đầu tự dao động.
Phật hỏi: Ông nhìn hào quang Phật soi bên trái bên phải nên
đầu dao động, thế là đầu ông động hay cái thấy động?
A-nan thưa: Bạch Thế Tôn! Đầu con tự động, tánh thấy của
con còn chẳng dừng, huống là dao động. Phật khen: Đúng thế!
Khi
ấy, Như Lai bảo khắp đại chúng rằng: Nếu như chúng sanh
nhận lấy cái dao động gọi là trần, nhận lấy cái dao động
gọi là khách. Các ông xem A-nan, đầu tự dao động cái
thấy không động. Lại xem ta, tay tự xòe nắm cái thấy không
xòe nắm. Tại sao hôm nay các ông lấy động làm thân, lấy
động làm cảnh, từ thủy đến chung niệm niệm sanh diệt,
quên mất chân tánh làm việc điên đảo, tâm tánh đã mất
chân, nên nhận vật làm mình, ở trong luân hồi tự chịu
lưu chuyển.
(Kinh
Lăng Nghiêm cuối quyển 1 Hán tự)
Qua
đoạn kinh này, chúng ta nhận thấy thâm ý Phật muốn chỉ
cho ngài A-nan và đại chúng biết: Ngoại cảnh biến động
sanh diệt như bàn tay Phật xòe nắm, thân này dao động vô
thường như đầu ngài A-nan xoay qua lại. Chỉ có cái thấy,
xem thấy cảnh biến động mà không bị biến động, tựa
nơi đầu dao động mà không bị dao động. Cái biến động
và dao động là vô thường hư giả, tại sao chúng ta nhận
nó làm thật thân mình, làm thật cảnh của mình? Trái lại,
cái thấy biết chưa từng dao động là chân thật vô sanh,
mà chúng ta lại bỏ quên nó, để cam chịu lưu chuyển luân
hồi.
Lại
cũng một đoạn trong kinh Lăng Nghiêm:
Vua
Ba-tư-nặc đứng dậy bạch Phật: Con xưa chưa từng nghe sự
chỉ dạy của Phật, gặp Ca-chiên-diên, Tỳ-la-chi-tử đều
nói: “Thân này sau khi chết không còn gì nữa, gọi là Niết-bàn.”
Nay con tuy gặp Phật vẫn còn hồ nghi “làm sao phát huy chứng
biết chỗ tâm này chẳng sanh chẳng diệt”? Đại chúng ở
đây, những người còn trong hàng hữu lậu, thảy đều thích
được nghe. Phật hỏi: Đại vương! Nhục thân hiện tại
của ông là đồng kim cang thường trụ chẳng hoại hay là
biến hoại? Vua thưa: Bạch Thế Tôn! Thân con hiện nay trọn
theo biến diệt. Phật bảo: Đại vương! Ông chưa từng diệt
làm sao biết nó diệt? Vua thưa: Bạch Thế Tôn! Thân biến
hoại vô thường của con tuy chưa từng diệt, song con xem hiện
tiền niệm niệm đổi dời luôn luôn chẳng dừng, như lửa
tàn thành tro dần dần tiêu mất, mất hết không dừng, nên
biết thân này sẽ theo tiêu diệt. Phật bảo: Đại vương!
Đúng thế. Nay ông đã già, đi theo suy yếu, nhan mạo đâu
giống lúc còn trẻ? Vua thưa : Bạch Thế Tôn! Thuở xưa con
còn trẻ da dẻ tươi nhuận, đến lúc trưởng thành khí huyết
sung mãn, nay con già cả suy yếu hình sắc khô khan, tinh thần
mờ tối, tóc bạc mặt nhăn không còn bao lâu sẽ chết, làm
sao sánh được với lúc sung thạnh? Phật bảo: Đại vương!
Hình dung của ông đâu lẽ già liền? Vua thưa: Bạch Thế Tôn!
Nó thầm biến hóa đổi dời thật con chẳng biết, nóng lạnh
đổi thay dần dần đến như thế. Vì sao? Khi con hai mươi
tuổi tuy nói niên thiếu, nhan mạo đã già hơn lúc mười tuổi,
đến ba mươi tuổi lại suy hơn hai mươi tuổi, nay đã sáu
mươi hai tuổi xem lại thuở năm mươi tuổi rõ ràng cường
tráng. Bạch Thế Tôn! Sự thầm đổi dời tuy đặt thời hạn
mười năm, song con suy xét kỹ nó biến đổi đâu những mười
năm hai mươi năm, mà thật dời đổi từng năm; đâu chỉ
từng năm, mà dời đổi từng tháng, đâu những từng tháng
mà dời đổi từng ngày. Suy xét chín chắn tế nhị hơn thì
khoảng mỗi sát-na, mỗi niệm đổi dời. Vì thế, biết thân
con trọn theo biến diệt. Phật bảo: Đại vương! Ông thấy
sự biến hóa đổi dời chẳng dừng, ngộ biết thân ông tiêu
diệt; cũng chính khi diệt đó, ông biết trong thân có cái
chẳng diệt chăng? Vua chấp tay bạch Phật: Thật con chẳng
biết. Phật bảo: Nay tôi chỉ cho ông biết cái tánh chẳng
sanh diệt. Đại vương! Ông khi mấy tuổi được thấy sông
Hằng? Vua thưa: Khi con được ba tuổi mẹ bồng đi yết kiến
Kỳ-bà Thiên sang ngang sông này, khi ấy là biết sông Hằng.
Phật bảo: Đại vương! Như ông đã nói, khi hai mươi tuổi
già hơn mười tuổi, cho đến sáu mươi tuổi, năm tháng ngày
giờ niệm niệm đổi dời, ắt khi ông ba tuổi thấy sông
Hằng đến năm mười ba tuổi thấy sông Hằng, cái thấy ấy
thế nào? Vua thưa: Như lúc ba tuổi rõ ràng không đổi, cho
đến hiện nay sáu mươi hai tuổi vẫn không có khác. Phật
bảo: Nay ông tự lo tóc bạc mặt nhăn, quyết định mặt nhăn
hơn lúc còn trẻ, song hiện nay ông thấy sông Hằng cùng với
cái thấy sông Hằng thuở xưa có trẻ có già chăng? Vua thưa:
Bạch Thế Tôn! Không. Phật bảo: Đại vương! Mặt ông tuy
nhăn, song tánh thấy của ông chưa từng nhăn; nhăn thì biến
đổi, chẳng nhăn thì không biến đổi; biến đổi thì bị
sanh diệt, cái không biến đổi vốn không sanh diệt, tại
sao ở trong ấy chịu sanh tử với ông, mà ông dẫn lời
Mạc-dà-lê... đều nói thân này sau khi chết là diệt hết?
...
(Kinh
Lăng Nghiêm đầu quyển 2 Hán tự)
Đọc
đoạn kinh này, chúng ta thấy Phật chỉ rõ ràng ngay nơi thân
này cái nào sanh diệt, cái nào chẳng sanh diệt. Thân là dòng
biến động thay đổi từng phút giây, tức là vô thường
hoại diệt. Tánh thấy xưa nay chưa từng thay đổi thì làm
gì có hoại diệt. Nói tánh thấy là chỉ cái thấy biết thường
xuyên nơi mắt chúng ta, khi chưa hợp tác với niệm thứ hai
để so sánh đẹp xấu hơn kém. Cho đến mắt chúng ta mở
hay nhắm, nó cũng luôn luôn hiển lộ. Nó không lệ thuộc
hoàn toàn vào mắt, cơ quan mắt tốt thì nó hiện sáng tỏ,
cơ quan mắt xấu thì nó hiện lu mờ, cho đến cơ quan mắt
hoại nó cũng không bị hoại theo. Đó là đặc tính chẳng
sanh chẳng diệt của nó vậy.
Chẳng
những thực thể chẳng sanh chẳng diệt hằng biểu lộ ở
mắt, mà ở tai nó cũng có mặt luôn luôn. Cũng kinh Lăng Nghiêm
có đoạn:
...
Phật bảo La-hầu-la đánh một tiếng chuông, hỏi A-nan: Hiện
giờ ông nghe chăng? A-nan và đại chúng đồng thưa: Chúng con
nghe. Tiếng chuông bặt dứt, Phật lại hỏi: Hiện giờ các
ông nghe chăng? A-nan và đại chúng đồng thưa: Chẳng nghe.
La-hầu-la lại đánh một tiếng chuông, Phật hỏi: Hiện giờ
các ông nghe chăng? A-nan và đại chúng đồng đáp: Nghe. Phật
hỏi A-nan: Ông tại sao nghe, tại sao chẳng nghe? A-nan và đại
chúng đồng bạch Phật: Nếu đánh tiếng chuông thì chúng
con được nghe, đánh lâu tiếng bặt âm vang dứt hết thì
gọi là không nghe.
Phật
lại bảo La-hầu-la đánh chuông, hỏi A-nan: Hiện giờ có tiếng
chăng? A-nan và đại chúng đồng thưa: Có tiếng. Đợi giây
lâu tiếng bặt, Phật lại hỏi: Hiện giờ có tiếng chăng?
A-nan và đại chúng đáp: Không tiếng. Giây lát La-hầu-la lại
đánh chuông, Phật hỏi: Hiện giờ có tiếng chăng? A-nan và
đại chúng đồng đáp: Có tiếng. Phật hỏi A-nan: Ông nói
thế nào là có tiếng, thế nào là không tiếng? A-nan và đại
chúng đồng bạch: Nếu đánh chuông thì gọi có tiếng, đánh
lâu tiếng bặt âm vang dứt hết thì gọi không tiếng. Phật
quở A-nan và đại chúng: Hôm nay tại sao các ông tự nói rối
lọan?
Đại
chúng và A-nan đồng thời hỏi Phật: Thế nào hôm nay chúng
con nói rối loạn? Phật bảo: Tôi hỏi các ông nghe thì các
ông đáp nghe, tôi hỏi các ông tiếng thì các ông đáp tiếng.
Chỉ nghe với tiếng mà đáp không nhất định. Tại sao như
thế chẳng gọi là rối loạn?
Này
A-nan! Tiếng bặt không còn âm vang ông nói không nghe, nếu
thật không nghe thì tánh nghe đã diệt, giống như cây khô,
lại đánh tiếng chuông thì ông làm sao mà biết? Biết có
biết không chính là thanh trần (tiếng) hoặc có hoặc không,
đâu phải tánh nghe kia là có là không. Nếu tánh nghe thật
không thì ai biết nó không? Thế nên, A-nan! Tiếng ở trong
tánh nghe tự có sanh diệt, chẳng phải tánh nghe của ông do
có tiếng, không tiếng mà nó thành có thành không. Ông còn
điên đảo nhận lầm tiếng làm cái nghe, đâu còn lạ gì
chẳng mê lầm cho cái thường làm đoạn. Trọn không nên nói
lìa các thứ động tịnh, thông bít mà bảo không có tánh
nghe...
(Kinh
Lăng Nghiêm cuối quyển 4 Hán tự)
Đây
là cái mê lầm chung của toàn thể chúng ta, nhận tiếng làm
cái nghe, nhận hình tướng làm cái thấy. Có tiếng gọi là
có nghe, không tiếng gọi là không nghe. Có hình tướng gọi
là có thấy, không hình tướng gọi là không thấy. Nghe thấy
là cái giác tri của chính mình, hình tướng và âm thanh là
trần cảnh bên ngoài. Nhận lầm trần cảnh là mình, trách
gì không mất mình và trôi lăn theo cái sanh diệt mãi mãi.
Đó là bằng chứng hiển nhiên để thấy chúng ta đang bị
vô minh điên đảo. Nếu ngay nơi đây mà chúng ta không chịu
thức tỉnh, phát minh tánh chân thường chẳng hoại, không
biết bao giờ ra khỏi vòng sanh tử luân hồi.
Đánh
thức mọi người giác ngộ thể tánh Chân thường của chính
mình, âu cũng là mục đích chung của chư Phật. Kinh Pháp Hoa
có đoạn:
...Này
Xá-lợi-phất! Chư Phật tùy nghi nói pháp ý thú khó hiểu.
Vì cớ sao? Vì ta dùng vô số phương tiện các thứ nhân duyên
lời lẽ thí dụ diễn nói các pháp. Pháp ấy không phải do
SUY NGHĨ PHÂN BIỆT hay hiểu, chỉ có chư Phật mới hay biết
đó. Vì cớ sao? Vì chư Phật Thế Tôn chỉ do một ĐẠI SỰ
NHÂN DUYÊN mà hiện ra đời.
Xá-lợi-phất!
Thế nào nói chư Phật Thế Tôn chỉ do một ĐẠI SỰ NHÂN
DUYÊN mà hiện ra đời? Vì chư Phật Thế Tôn muốn chúng sanh
MỞ TRI KIẾN PHẬT khiến được thanh tịnh mà hiện ra đời,
muốn chúng sanh NGỘ TRI KIẾN PHẬT mà hiện ra đời, muốn
chúng sanh NHẬP TRI KIẾN PHẬT mà hiện ra đời.
Xá-lợi-phất!
Đó là chư Phật chỉ do một ĐẠI SỰ NHÂN DUYÊN mà hiện
ra đời...
(Kinh
Pháp Hoa phẩm Phương Tiện)
Yếu
chỉ chư Phật không có hai, duy dẫn đường chúng sanh vào
TRI KIẾN PHẬT. Tri kiến Phật tức là cái thấy biết Phật,
sẵn có nơi chúng ta. Chúng ta thấy nhân nơi sắc tướng, sắc
tướng mất, nói không thấy. Biết nhân trần cảnh, trần
cảnh không, nói không biết. Ai thấy sắc tướng mất mà nói
không thấy? Ai biết trần cảnh không mà nói không biết? Quả
tang chúng ta quên mất chúng ta một cách đáng thương. Mỗi
hôm, sáng ra vừa mở mắt, chúng ta đã đặt sẵn bao nhiêu
vấn đề phải giải quyết trong ngày nay. Đến tối ăn cơm
xong, lên gường nằm kiểm điểm lại đã giải quyết được
mấy vấn đề, còn cặn lại và thêm những vấn đề mới
ngày mai phải giải quyết. Cứ thế mãi, ngày nay ngày mai...
cho đến ngày tắt thở mà những vấn đề vẫn chưa giải
quyết xong. Những vấn đề là việc bên ngoài mà thiết tha
giải quyết, còn chính ông chủ đặt vấn đề và giải quyết
vấn đề lại quên bẵng. Song ông chủ ấy lại là người
không có vấn đề. Quên mình chạy theo cảnh là cái thấy
biết của chúng sanh. Nhân cảnh nhận được tánh chân thường
của chính mình là cái thấy biết Phật (Tri kiến Phật). Quên
mình là mê, nhận được mặt thật của mình là giác. Chuyển
mê khai ngộ cho chúng sanh đó là bản hoài của chư Phật.
Chính
vì đánh thức chúng sanh sống trở lại cái thấy biết Phật
của mình, đừng chạy theo trần cảnh mà quên mất mình, kinh
Kim Cang có đoạn:
...
Thế nên, Tu-bồ-đề! Bồ-tát nên lìa tất cả tướng phát
tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (Phật), không nên trụ
nơi sắc, không nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp, nên phát
tâm không có chỗ trụ. Nếu tâm có trụ tức là chẳng trụ.
(Kinh
Kim Cang)
Tâm
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là tâm Phật. Tâm Phật
không dính mắc sáu trần, vì sáu trần là pháp sanh diệt,
dính mắc pháp sanh diệt là tâm hư vọng của chúng sanh. Cho
nên Bồ-tát muốn an trụ nơi tâm Phật thì không nên dính
mắc sáu trần. Còn chạy theo sáu trần là còn thấy trong có
tâm ngoài có cảnh, nằm trong pháp đối đãi giả dối. Biết
trần cảnh duyên hợp giả dối, dừng tâm không chạy theo
nó là, sống trở về tánh chân thật tuyệt đối của mình.
Đó là Pháp môn bất nhị trong kinh Duy-ma-cật.
Kinh
Duy-ma-cật có đoạn:
Ông
Duy-ma-cật nói với các vị Bồ-tát: Các nhân giả! Thế nào
là Bồ-tát vào “pháp môn không hai”? Cứ theo chỗ hiểu
của mình mà nói.
Bồ-tát
Pháp Tự Tại nói: Các nhân giả! Sanh diệt là hai. Pháp vốn
không sanh cũng không diệt, được vô sanh pháp nhẫn, đó là
vào “pháp môn không hai”.
Bồ-tát
Đức Thủ nói: Ngã, ngã sở là hai. Nhân có ngã mới có ngã
sở, nếu không có ngã thì không có ngã sở, đó là vào “pháp
môn không hai”.
...
Bồ-tát
Văn-thù nói: Như ý tôi, đối với tất cả Pháp không nói
không bàn, không chỉ không biết, xa lìa các vấn đáp, đó
là vào “pháp môn không hai”.
Ngài
Văn-thù hỏi ông Duy-ma-cật: Chúng tôi ai cũng nói rồi, đến
lượt nhân giả nói thế nào là “pháp môn không hai”?
Ông
Duy-ma-cật ngồi im lặng.
Ngài
Văn-thù khen: Hay thay! Hay thay! Cho đến không có văn tự ngữ
ngôn, đó mới thật vào “pháp môn không hai”.
(Kinh
Duy-ma-cật phẩm Pháp Môn Bất Nhị)
Người
đọc kinh Phật rất khó hiểu vì cách lập ngôn trong kinh.
Thế thường nói hai hoặc nói một, nếu không phải một,
là hai, không phải hai là một. Tại sao trong kinh nói “không
hai” mà chẳng nói một? Bởi một đối hai, hai đối một,
ở đây chỉ pháp thoát ngoài đối đãi nên nói “không hai”.
Nếu có dùng ngôn ngữ cũng vì để dẹp ngôn ngữ, như đoạn
ngài Văn-thù nói. Đến chỗ cứu kính ấy không còn lời để
diễn bày, vừa có diễn bày đều rơi vào đối đãi, chỉ
ngay đó nhận được mới là người đạt đạo. Chính đó
là chỗ im lặng của ông Duy-ma-cật. Nói mà không nói là mượn
ngôn ngữ để dẹp ngôn ngữ, không nói mà nói là im lặng
để thầm chỉ Chân Lý Tuyệt Đối bặt hết ngữ ngôn. Đó
là thái độ hai vị Bồ-tát ở cuối phẩm này.
Trong
các kinh còn đầy dẫy những đoạn chỉ dạy Chân Lý Tuyệt
Đối này, chỉn e dẫn lắm thêm rườm, chúng ta hãy bước
sang lãnh vực Thiền sư.
Trước
tiên là bài thuyết pháp kỳ diệu của Tổ Huệ Năng:
Sau
khi khai ngộ, được Ngũ Tổ truyền y bát bảo trở về phương
Nam, Tổ đi đến ngọn Đại Dữu bị Huệ Minh đuổi theo kịp.
Tổ để y bát trên tảng đá vào rừng ẩn. Huệ Minh đến
gặp y bát, song giở lên không nổi, gọi:
-
Hành giả! Tôi đến đây vì pháp, không phải vì y bát.
Tổ
nghe gọi, bước ra ngồi trên tảng đá bảo:
-
Nếu ông vì pháp, hãy bình tâm nghe tôi nói.
Huệ
Minh đứng yên lặng giây lâu.
Tổ
bảo:
-
KHÔNG NGHĨ THIỆN, KHÔNG NGHĨ ÁC, CÁI GÌ LÀ BẢN LAI DIỆN MỤC
CỦA THƯỢÏNG TỌA MINH?
Nghe
câu này, Huệ Minh liền đại ngộ.
Bài
thuyết pháp ngắn, gọn này phản ảnh trung thực một sự
nghiệp to tát Tổ vừa lãnh hội nơi Ngũ Tổ và đang mang nó
về phương Nam. Chính đó cũng là bản hoài của chư Phật.
Bản
lai diện mục là “bộ mặt thật xưa nay” của chúng ta,
nó là tên khác của Đạo, của Pháp thân, của Phật tánh,
của Chân tâm... Chúng ta có bộ mặt thật muôn đời không
đổi, mà tự bỏ quên nó, bám vào thân hình tạm bợ cho là
thật mình. Cái thân hình đang chấp giữ là thật mình, nó
thay đổi từng phút giây, hợp tan không nhất định. Thế
thì lấy gì bảo chứng cho nó là thật? Quả thật một hình
tướng biến thiên, một hợp thể tạm bợ. Nó có, mà không
thật có vì luôn luôn đổi thay, còn mà không thật còn vì
hợp tan chẳng định. Nếu chấp chặt nó là ta, thật là cái
ta tạm bợ làm sao! Hoặc có người biết thân này giả dối,
chính cái tâm biết thiện, biết ác, biết phải, biết quấy,
tốt xấu... mới thật là ta. Song cái tâm phân biệt hai bên,
cũng là đổi thay tạm bợ. Vì vừa dấy nghĩ về lành về
dữ thì nó đã sanh diệt rồi. Nếu buông hết mọi vấn đề
đối đãi, tìm lại nó thì tung tích vắng tanh. Thế là, ta
ở đâu? Mất rồi sao? Thật bối rối vô cùng, nếu chấp
cái suy nghĩ làm ta. Chỉ vì chấp thân tạm bợ, tâm giả dối
làm ta nên muôn kiếp trôi lăn trong sanh diệt, gọi là luân
hồi.
Ngay
nơi thân tạm bợ, tâm giả dối, chúng ta nhận ra “bộ mặt
thật xưa nay” của mình và sống hẳn với nó, dòng sanh diệt
ngang đấy liền dừng, kiếp luân hồi đến đây giải thoát.
“Bộ mặt thật xưa nay” chưa từng bị sanh diệt, một thực
thể không do duyên hợp, làm gì bị đổi thay, tan hợp? Nó
vẫn có và thường còn mà chúng ta quên đi, gọi là vô minh,
nhận ra nó không còn lầm quên nữa, gọi là giác ngộ.
Muốn
chỉ “Bộ mặt thật xưa nay” cho người, không có cách kỳ
diệu nào bằng câu “không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái
gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh” của Lục
Tổ. Người ta cứ thắc mắc “cái gì là bản lai diện mục
của Thượng tọa Minh” mà chẳng nhớ “không nghĩ thiện,
không nghĩ ác”, là tối quan trọng. Chính khi “không nghĩ
thiện, không nghĩ ác” là bản lai diện mục của Thượng
tọa Minh chớ gì. Bởi khi tâm bình thường tỉnh táo, không
dấy nghĩ thiện ác, phải quấy..., quả là “bộ mặt thật
xưa nay” xuất hiện. Vừa dấy nghĩ thiện ác...là động,
là chạy theo sanh diệt, “bộ mặt thật xưa nay” bị khuất
lấp mất rồi. Cho nên qua câu nói này, Thượng tọa Minh khéo
thấy được “bộ mặt thật xưa nay” của mình, gọi là
ngộ đạo.
Dưới
đây thêm những bài thuyết pháp đơn giản bình dị mà hay
tuyệt của các Thiền sư.
“Thiền
sư Tùng Thẩm (Triệu Châu) đến tham vấn Nam Tuyền (Phổ Nguyện),
hỏi:
-
Thế nào là đạo?
Nam
Tuyền đáp:
-
Tâm bình thường là đạo.
-
Lại có thể nhằm tiến đến chăng?
-
Nghĩ nhằm tiến đến là trái.
-
Khi chẳng nghĩ làm sao biết là đạo?
-
Đạo chẳng thuộc biết chẳng biết, biết là vọng giác,
không biết là vô ký. Nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi,
ví như hư không thênh thang rỗng rang đâu thể gắng nói phải
quấy.
Ngay
câu nói này, Sư ngộ đạo.”
Đạo
là tên khác của Bản lai diện mục hay Pháp thân... Nó là
thực thể tuyệt đối nằm sẵn nơi tâm tánh chúng ta. Chúng
ta vừa dấy niệm tìm nó, tiến đến nó là trái mất rồi.
Khởi nghĩ biết nó đã rơi vào vọng giác, không nghĩ biết
nó để tâm mờ mờ mịt mịt lại thuộc bệnh vô ký. Dấy
tâm phán đoán phải quấy càng xa với đạo.
Câu
TÂM BÌNH THƯỜNG LÀ ĐẠO, quả thật đã vén bức màn vô
minh cho mọi người thấy được “Bộ mặt thật xưa nay”
của mình rồi. Bởi khởi tâm tìm kiếm là mất bình thường,
xét đoán phải quấy là mất bình thường ... Chỉ tâm tỉnh
táo sáng suốt mà không dấy động, mới thật TÂM BÌNH THƯỜNG.
Tâm bình thường không tướng mạo, không hình dáng, thể nó
thênh thang rỗng rang đồng với hư không. Thấy được tâm
thể này là người đạt đạo.
*
“Thiền
sư Đạo Ngộ bảo đệ tử là Sùng Tín rằng:
-
Ngươi làm thị giả ta, ta sẽ chỉ tâm yếu cho ngươi.
Sùng Tín nhận làm thị giả, trải qua mấy năm mà không được
chỉ dạy điều gì. Sùng Tín thưa:
- Từ ngày con vào đây đến giờ, chưa được Hòa thượng
chỉ dạy tâm yếu.
Đạo
Ngộ bảo:
-
Từ ngày ngươi vào đây đến nay, ta chưa từng chẳng chỉ
dạy tâm yếu.
-
Chỉ dạy ở chỗ nào?
-
Ngươi dâng trà lên, ta vì ngươi tiếp. Ngươi bưng cơm đến,
ta vì ngươi nhận. Ngươi xá lui ra thì ta gật đầu. Chỗ nào
chẳng chỉ dạy tâm yếu?
Sùng
Tín cúi đầu suy nghĩ giây lâu.
Đạo
Ngộ bảo:
-
Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai.
Ngay
câu này, Sùng Tín khai ngộ.”
Đạo
Ngộ nói Tâm yếu tức là Nam Tuyền nói Tâm bình thường.
Trong mọi hành động ăn cơm, mặc áo, tới lui qua lại của
chúng ta đều biểu lộ tâm yếu đầy đủ. Chỉ đáng tiếc,
khi ăn chúng ta chẳng chịu ăn, lại nghĩ đến các việc này,
khi mặc chẳng chịu mặc lại suy các việc nọ. Chúng ta không
thể sống được với tâm bình thường trong mọi hoạt động
của mình. Hằng bị vọng tưởng cuốn hút qua mọi lãnh vực
hoạt động của nó. Do đó cả ngày chúng ta mãi đuổi theo
vọng tưởng, hết thứ này đến loại khác, không bao giờ
được dừng nghỉ.
Ở
đây, Thiền sư Đạo Ngộ chỉ tâm yếu phát hiện nơi dâng
trà, nhận cơm, gật đầu..., thật là bình thường đơn giản.
Tâm yếu hằng hiện hữu nơi mọi hoạt động của chúng ta,
mà chúng ta thông qua không chịu nhận. Bởi trong đầu óc chúng
ta chứa dẫy đầy các thứ quái tượng, hiếu kỳ thì làm
sao nhận được cái bình thường đơn giản này. Nói đến
Tâm yếu, Đạo, Pháp thân..., chúng ta tưởng tượng phải
là cái gì phi thường kỳ đặc mới được. Đâu ngờ, nó
lại là cái rất giản đơn bình dị. Ném phắt mọi vọng
tưởng cuồng loạn, chỉ sống với tâm thể an nhiên trong
mọi hoạt động bình thường là, chúng ta đạt đạo, ngộ
tâm yếu. Các lượn sóng lặn hụp trên mặt biển là hiện
tượng sanh diệt. Khi mọi lượn sóng đều lặng yên, chỉ
còn một mặt biển phẳng lì, thử hỏi cái gì là sanh diệt?
Có sóng nổi lên là có hình tướng sai biệt, khi sóng lặng
hết tìm xem còn hình tướng gì? Song đến đó không thể nói
không có mặt biển. Tâm thể chúng ta cũng thế, chỉ cần
lặng hết mọi vọng tưởng thì thể tánh hiển bày. Thế
nên vừa suy nghĩ là lấp mất thể tánh rồi.
*
“Thiền
sư Hoài Hải (Bá Trượng) theo hầu Mã Tổ đi dạo vườn,
bỗng có bầy chim bay qua. Mã Tổ hỏi:
-
Bay đó là gì?
Hoài
Hải thưa:
-
Bầy vịt trời.
-
Bay đi đâu?
-
Bay qua mất.
Mã
Tổ nắm lỗ mũi của Sư vặn mạnh một cái, đau quá Sư la
thất thanh.
Mã
Tổ bảo:
-
Sao không nói bay qua mất?
Nhân
đây Sư tỉnh ngộ.”
Tâm
yếu luôn luôn hiển lộ đầy đủ nơi sáu căn, mà chúng ta
không nhận thấy. Chúng ta một bề buông thả sáu căn chạy
theo sáu trần. Mắt đối sắc cho là có thấy, sắc trần qua
mất nói là không thấy, lệ thuộc hẳn ngoại cảnh. Sắc
trần là tướng sanh diệt chợt có chợt không, cái thấy biết
sắc trần có khi nào sanh diệt, mà chúng ta chỉ nhận sắc
trần không nhận cái thấy. Cái thấy là hiện thân của tâm
yếu, là mạng sống ngàn đời của chúng ta. Thế mà, chúng
ta quên đi mạng sống của chính mình, phóng tâm đuổi theo
dòng sanh diệt của ngoại giới. Trường hợp Thiền sư Hoài
Hải cũng thế, chỉ nhớ bầy chim bay qua mất, không nhớ tánh
thấy thường còn của mình. Mã Tổ nắm lỗ mũi vặn mạnh,
bảo “sao không nói bay qua mất”. Sư chợt tỉnh ngộ cái
không mất của mình, hay thức được giấc mê “quên mình
theo vật”.
Chúng
ta sống nhờ lỗ mũi hít vô thở ra, nó là sanh mạng của
mình, lỗ mũi hằng có mặt thường trực ở trước chúng
ta, mà chúng ta khó thấy và ít nhớ. Hằng ngày chúng ta chỉ
nhớ những vấn đề: ăn, mặc, đẹp, xấu... còn hơi thở
là điều tối thiết yếu lại quên đi. Quên hơi thở tức
là đã quên mạng sống của mình. Mạng sống đã quên đi
thì sự sống không còn ý nghĩa của sự sống. Sống của
cái chết, của cái cuồng loạn. Phật, Tổ cố đánh thức
chúng ta nhớ lại mạng sống của chính mình. Hằng sống với
mạng sống của chính mình, làm gì có nghĩa chết. Như mãi
còn thở ra vào, sao nói chết được. Bởi vì chết là mất
đi cái sống, là dừng hơi thở. Tánh thấy hằng hiện hữu
nơi chúng ta mà chúng ta không thấy, ví như lỗ mũi thường
có mặt ở trước mắt mà chúng ta dễ quên. Cái nắm mũi
vặn mạnh của Mã Tổ, khiến Thiền sư Hoài Hải đau la thất
thanh, liền đó tỉnh ngộ, quả là diệu thuật trong nhà Thiền,
cũng là một bài thuyết pháp không lời kỳ diệu.
*
“Tướng
quốc Bùi Hưu vào viếng chùa Khai Nguyên, thấy trên vách chùa
có vẽ hình Cao tăng, Bùi Hưu hỏi Thiền sư Hy Vận (Hoàng
Bá):
-
Hình thấy tại đây, Cao tăng ở đâu?
Sư
cất giọng trong thanh gọi:
-
Bùi Hưu!
Bùi
Hưu:
-
Dạ!
Sư
hỏi:
-
Ở đâu?
Bùi
Hưu liền ngộ được hạt châu trên búi tóc.”
Chúng
ta đến thăm nhà người bạn, vừa ấn nút chuông điện ngoài
cổng, liền có người mở cửa, bao nhiêu lần cũng thế. Chúng
ta biết chắc chắn rằng nhà này có người gác cửa thường
trực. Cũng vậy, nơi tai chúng ta nếu không có cái linh tri
thường trực, khi động làm sao có phản ứng kịp thời. Ở
đây vừa gọi liền đáp, không có phút giây chờ đợi nghĩ
suy gì cả. Cho đến đang lúc ngủ say, bỗng có tiếng gọi
to cũng giật mình thức giấc. Càng thấy rõ cái linh tri nơi
tai chúng ta không khi nào vắng mặt. Chỉ khi thức các cơ quan
hoạt động thì nó sáng, lúc ngủ các cơ quan đóng bít thì
nó mờ. Cái linh tri này mới thật là Chủ nhân ông hay “Bộ
mặt thật xưa nay” của chúng ta. Chúng ta quên lửng ông chủ,
cứ chạy theo khách trần bên ngoài. Một bề quên mình theo
vật, nên mãi trầm luân sanh tử. Đang lúc hoạt động lăng
xăng, có người hỏi: cái gì là ông chủ, chúng ta bàng hoàng
sửng sốt không biết đáp thế nào. Thế là, hằng ngày chúng
ta nói sống vì mình, lo cho mình, mà quả thật chúng ta đã
mất mình. Nếu biết rõ ông chủ của mình, chúng ta mới dám
nói thật sống, bằng không biết ông chủ thế nào, làm sao
nói rằng mình đang sống được. Có hoạt động có sống
cũng chỉ là cuộc sống vay mượn mà thôi.
Ông
Bùi Hưu thấy hình Cao tăng mà không biết Cao tăng ở đâu.
Đó là tâm trạng quên mất ông chủ, đang thao thức dò tầm.
Một tiếng gọi của Thiền sư Hy Vận, dường như một tiếng
sét ngang tai, khiến ông bất chợt ứng thanh “dạ”, chồng
thêm một câu hỏi “ở đâu”, hốt nhiên ông sáng mắt.
Ông chủ đã lâu ông băn khoăn thắc mắc kiếm tìm, bất chợt
hiện lồ lộ trước mắt. Hạt châu quí trong búi tóc của
nhà vua, trong kinh Pháp Hoa, chỉ dành tặng riêng cho vị tướng
quân có công to nhất, hôm nay ông nhận được. Cái cao cả
quí báu nhất trong đời sống con người là ông chủ. Nhà
không có chủ là nhà hoang, xác thân không nhận ra ông chủ
là xác thân rỗng. Vì thế, mục đích duy nhất của Phật,
Tổ là chỉ cho chúng ta nhận ra ông chủ. Ông chủ ấy hằng
có mặt nơi tai, mắt... chúng ta, chỉ khéo nhận liền thấy.
*
“Thiền
sư Sư Bị (Huyền Sa) ngồi trong thất, có vị Tăng đứng hầu,
nhìn xuống nền thất có một điểm trắng, Sư hỏi Tăng:
-
Ông thấy chăng?
Tăng
thưa:
- Thấy.
Sư
bảo:
-
Ta thấy ông cũng thấy, tại sao có người ngộ người không
ngộ?”
Hai
thầy trò đồng thấy một điểm trắng trên nền thất, tại
sao thầy ngộ mà trò lại mê? Bởi vì trò thấy chỉ thấy
cái bị thấy, cho nên quên mất ông chủ tức là mê. Thầy
thấy mà không chạy theo cái bị thấy, nhân cái bị thấy
nhận ra ông chủ hay thấy của chính mình, tức là ngộ. Đồng
một cảnh mà mê ngộ khác nhau, gốc tại quên mình theo vật
hay nhân vật nhận được mình. Ở hội Linh Sơn đức Phật
đưa cành hoa sen lên, Tôn giả Ca-diếp miệng cười chúm chím,
đồng ý nghĩa này. Chư Tổ Thiền tông tận dụng mọi phương
tiện, nào đưa tay, dựng phất tử... khiến người nhận được
ông chủ qua cái thấy của mình.
Ngay
khi thấy sự vật, tâm không bị dấy một niệm nào, chính
khi ấy “bộ mặt thật xưa nay” bày hiện. Vì có thấy là
có biết, cái biết không do suy nghĩ, không do phân biệt, mới
là cái biết chân thật, thoát ngoài đối đãi sanh diệt. Cái
biết do suy nghĩ, do phân biệt đều là động, tạm có rồi
không, làm sao nói chân thật được. Cái suy nghĩ phân biệt
lặng xuống, tánh giác tri hiện bày rỡ rỡ, nó mới thật
là ông chủ muôn đời của ta. Giác tri mà lặng lẽ thì làm
gì có sanh diệt. Chỗ này còn nghi ngờ gì, không nói nó chân
thật vĩnh cửu. Thế nên, mắt thấy sắc tướng mà nhận
được tánh thấy của mình, là ngộ đạo, trái lại là mê.
*
“Thiền
sư Cảnh Thanh ngồi trong thất, có vị Tăng đứng bên cạnh,
Sư hỏi:
-
Bên ngoài có tiếng gì?
Tăng
thưa:
-
Tiếng con nhái bị con rắn bắt kêu.
Sư
nói:
-
Sẽ bảo chúng sanh khổ, lại có khổ chúng sanh.
Hôm
khác, Sư hỏi vị Tăng bên cạnh:
-
Bên ngoài có tiếng gì?
Tăng
thưa:
-
Tiếng mưa rơi.
Sư
bảo:
-
Chúng sanh điên đảo quên mình theo vật.
-
Hòa thượng thì sao?
-
Vẫn chẳng quên mình.
-
Vẫn chẳng quên mình, ý nghĩa thế nào?
-
Xuất thân còn là dễ, thoát thể nói rất khó.”
Rắn
bắt nhái đó là chúng sanh khổ, vì con lớn hiếp con bé. Song
lại có khổ chúng sanh, chính là người quên mất mình chạy
theo ngoại cảnh. Hằng ngày tai chúng ta chỉ lắng nghe tiếng
động tịnh bên ngoài, có khi nào nhận biết mình có tánh
nghe thường trực. Vừa nghe tiếng động liền phân biệt thuộc
loại nào, hay dở, lợi hại , phải quấy... rồi sanh tâm yêu
ghét. Cứ thế mãi không dừng, làm sao chẳng bảo là “chúng
sanh điên đảo quên mình theo vật”? Chỉ có người tỉnh
giác mới biết phản quan lại mình, mọi động tịnh bên ngoài
đều là pháp sanh diệt, ông chủ biết được mọi động
tịnh ấy mới là người chẳng sanh diệt. Vì khi động vẫn
biết động, lúc tịnh vẫn biết tịnh, hai tướng động tịnh
đuổi nhau, ông chủ vẫn ngồi yên xem sự đổi thay của chúng.
Người biết sống trở về ông chủ của mình, mặc sự sanh
diệt đổi thay của trần cảnh, là “vẫn không quên mình”.
Chỗ không quên mình ấy, làm sao diễn tả được, nên nói
“xuất thân còn là dễ, thoát thể nói rất khó”.
Tai
nghe tiếng mà không chạy theo phân biệt tiếng, lại nhận
nơi mình hằng có tánh nghe, là pháp tu “Phản văn văn tự
tánh” của Bồ-tát Quán Thế Âm. Âm thanh nhỏ lớn xa gần
lúc nào cũng có, tánh nghe thường hằng nên mới thường nghe.
Nếu tánh nghe có gián đoạn, ắt chúng ta có khi nghe khi
không. Song không khi nào chúng ta chẳng nghe, dù khi không có
tiếng động vẫn nghe không tiếng. Đây là chứng cứ cụ
thể, tánh nghe thường trực nơi mọi người chúng ta. Trong
các phương pháp tu “trở về tự tánh”, biết phản chiếu
lại tánh nghe của mình là ưu việt hơn cả. Cho nên trong kinh
Lăng Nghiêm đức Phật bảo Bồ-tát Văn-thù chọn phương pháp
nào viên thông, Ngài chọn ngay pháp “nhĩ căn viên thông”
của Bồ-tát Quán Thế Âm.
Thiền
sư có đến ngàn vạn phương tiện, lãnh hội một thì tất
cả đều thông. Sau khi thông lý tuyệt đối, có giá trị thế
nào?
Bởi
vì tất cả chúng ta đều trông thấy mọi lẽ tạm bợ của
cuộc đời, khiến khát khao tìm kiếm hướng về chỗ trường
cửu miên viễn. Song nói đến chỗ này, dường như mọi người
đều thở dài tự nhận là vô phần. Hầu hết đều bó tay
cúi đầu trước thực thể bất sanh bất diệt ấy. Khao khát
ước mơ mà không thể tìm được, không dám mò tới, thật
là đau đớn vô cùng. Một khi bất ngờ bắt gặp được nó
thì còn gì sung sướng cho bằng. Chính tâm trạng Tôn giả
Xá-lợi-phất v.v... ở trong kinh Pháp Hoa cũng thế. Từ khi
tu hành cho đến nay, các ngài chỉ mong được quả Nhị thừa,
không khi nào dám ước mơ đến Phật quả. Bất ngờ được
đức Phật thọ ký cho sẽ thành Phật, thật là một điều
quá sức ước mong. Nói thí dụ chàng cùng tử được ông
trưởng giả trao sự nghiệp để bày tỏ tâm trạng của các
Ngài. Thiền sư Thủy Lạo nói với đồ đệ: “Từ khi ăn
cái đạp của Mã Tổ đến giờ, cười mãi không thôi.”
Thiền sư Huệ Hải cũng nói: “Từ khi nhận được kho báu
nhà mình đến nay, dùng mãi không thiếu.” Cười mãi không
thôi, vì hạt châu vô giá bị đánh mất, bất chợt tìm thấy
nắm được trong tay, kể từ đây hết rồi một kiếp lang
thang nghèo đói. Dùng mãi không thiếu, vì nó là kho báu vô
tận, ứng dụng tùy tâm, nên gọi là “bảo châu như ý”.
Có được hạt bảo châu như ý trong tay, tự thân mọi nhu
cầu đều toại nguyện, còn thêm tùy ý cứu giúp tha nhân.
Thật là tự lợi, lợi tha viên mãn.
Hạt
“Minh châu vô giá” hay “Bảo châu như ý”, đều do đức
Phật lấy làm thí dụ để chỉ thể tánh tuyệt đối này.
Bởi vì mạng sống là cứu kính của chúng sanh, mạng sống
càng dài thì giá trị càng cao. Cho nên ở thế gian không ơn
gì to bằng ơn cứu mạng. Chỉ cần được cứu sống thêm
một vài mươi năm, người ta cho đó là ơn sâu trời bể.
Đạt được thể tánh này, là nhận lấy sanh mạng trường
tồn miên viễn, vượt ngoài vòng thời gian, không còn dùng
con số nào tính kể được. Đức Phật dùng thí dụ “điểm
mực” nơi phẩm Như Lai Thọ Lượng trong kinh Pháp Hoa là nói
rõ ý này. Đem thế giới tam thiên nghiền thành bụi nhỏ,
lấy bụi ấy làm mực, đi sang phương đông trải qua trăm
ngàn muôn ức thế giới mới điểm một điểm mực..., gom
hết những thế giới có điểm mực không điểm mực đã
đi qua, nghiền nát thành bụi, mỗi hạt bụi tính là một
kiếp, thử tính tuổi thọ Phật là bao nhiêu? Dù có nhà toán
học tài tình mấy cũng không sao tính nổi tuổi thọ của
Phật. Phật ở đây là chỉ Phật pháp thân, tức là thực
thể tuyệt đối sẵn có nơi mọi chúng sanh vậy.
Thực
thể này không những vượt ngoài thời gian, mà cũng bao trùm
khắp không gian. Kinh Hoa Nghiêm đức Phật dùng thí dụ “phá
vi trần xuất kinh quyển”, để nói lên thể rộng lớn của
nó. Nói rằng “Có một quyển kinh lượng bằng thế giới
tam thiên đại thiên, vò tròn nhét trong hạt bụi nhỏ, có
người trí tuệ xem biết, dùng phương tiện đập vỡ hạt
bụi lấy quyển kinh. Trong quyển kinh ghi chép đầy đủ mọi
sự thật của thế giới tam thiên đại thiên...”. Quyển
kinh dụ thể tánh tuyệt đối hay Phật tánh, hạt bụi dụ
thân tứ đại của chúng sanh. Muốn biết mọi sự vật trong
vũ trụ, không gì hơn ngay nơi thân này nhận ra thể tánh tuyệt
đối, mọi sự thật hiện bày đầy đủ trong ấy. Có ai ngờ
trong hạt bụi nhỏ lại chứa quyển kinh to như thế, chỉ
người trí tuệ (Phật) mới nhận thấy được nó. Chúng ta
không khi nào dám thừa nhận mình có thể tánh rộng lớn trùm
khắp vũ trụ, mà hằng tự nhận mình như cây lau, cây sậy
trên địa cầu, như hạt cát trong bãi sa mạc. Vì thế, đọc
kinh Duy-ma-cật thấy nói “ông Duy-ma-cật đưa tay nắm thế
giới dời đi nơi khác...”, làm sao chúng ta dám tin. Tôn giả
A-nan sau khi ngộ được chân tâm, bạch Phật rằng “con xem
thân cha mẹ sanh (so với chân tâm) như hạt bụi trong hư không,
như hòn bọt ngoài bể cả...(Kinh Lăng Nghiêm). Tuệ Trung Thượng
Sĩ, một Thiền sư Việt Nam, có vị Tăng hỏi: “Sanh tử là
việc lớn làm sao giải quyết?” Thượng Sĩ đáp: “Trong
hư không dài có chướng gì hai vành xe, ngoài bể cả có ngại
gì hòn bọt nổi.” Ý nói rằng, sự sanh tử của thân này
đối với pháp thân như hai vành xe ném trong hư không, như
hòn bọt nổi trong bể cả, có nghĩa lý gì mà quan trọng.
Hạt bụi sánh với hư không, hòn bọt so với bể cả, giá
trị quá rõ ràng, nên nói “viên ngọc vô giá”.
Sống
được với thể tánh này thì diệu dụng vô cùng, lợi mình
lợi người viên mãn. Hằng ngày chúng ta chỉ sống với vọng
tưởng, mà còn có trăm ngàn tác dụng, tạo ra trăm điều
ngàn việc. Phương chi sống với thể tánh linh minh thì diệu
dụng làm sao lường được. Căn cứ hiện tượng thế gian
phán xét, để thấy rõ điều này. Trên thế gian cái gì càng
thô thì dụng càng yếu, cái gì càng tế thì dụng càng mạnh.
Như đất thể thô hơn nước, nên bị nước cuốn; nước
thể thô hơn gió, nên bị gió đùa. Sức mạnh của gió làm
tan cả đất, cuộn phăng cả nước mà không thấy hình dáng
tướng mạo gì. Sức mạnh của nguyên tử, của khinh khí cũng
tương tợ như thế. Vọng tưởng là tướng tâm duyên theo
pháp trần... nên có tướng mạo. Khi tâm ta tưởng quả núi,
liền có quả núi hiện nơi tâm, tâm nhớ người liền có
người hiện... Dấy tâm thì có cảnh, tâm cảnh dính liền
nhau. Tâm không rời cảnh, đó là tâm hư vọng cũng gọi là
vọng tưởng. Cảnh có đến ngàn vạn nên tâm duyên cảnh
cũng cả trăm thứ. Có tướng mạo là tâm thô, chia nhiều
thứ là bị phân tán. Tâm thô và phân tán nên công dụng của
nó yếu ớt tầm thường. Khi vọng tưởng đã lặng sạch,
chỉ còn một tâm thể linh minh, không hình dáng tướng mạo,
nên ứng dụng vô cùng. Đến chỗ này gọi là “diệu dụng
không thể nghĩ bàn”. Bởi diệu dụng không thể nghĩ bàn,
nên dụ là Bảo Châu Như Ý. Nắm hạt châu này trong tay thì
mọi việc đều như ý, tức là mãn nguyện tự tại. Một
bên công dụng tầm thường cuộc hạn, một bên diệu dụng
không thể nghĩ bàn tự do tự tại, đối chiếu nhau chúng
ta thấy rõ giá trị sai biệt của đôi bên rồi.
Chân
lý tuyệt đối không có ở bên ngoài, mà nằm sẵn ngay nơi
chúng ta. Chúng ta muốn tìm nó, phải biết quay lại mình, đừng
chạy ra ngoài tìm kiếm vô ích. Chân lý tuyệt đối nơi mình,
chính là ông chủ của mình, nhận ra ông chủ thì mọi chân
lý trong vũ trụ đều thấy rõ. Nhận ra và sống được với
ông chủ của mình thì, vòng luân hồi chấm dứt, mọi khổ
đau hết sạch, được giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
xk