Hoàn
Thành P’howa vào Phút Lìa Đời
Tiến
trình hấp hối chậm rãi từ một cơn bệnh kéo dài hay tuổi
già thường liên hệ nhiều chu kỳ của hiện tượng tiếp
cận cái chết và hồi phục. Trong hoàn cảnh này, chúng ta
phải dàn hòa các dao động đối cực giữa hy vọng và sợ
hãi, bằng cách liên tục quán vô thường. Biết rằng không
có hoàn cảnh nào – tuyệt nhiên không hoàn cảnh nào – duy
trì được trạng thái ổn định y nguyên hay kéo dài [thọ
mệnh], chúng ta tự giải thoát mình ra khỏi nỗi bất mãn
mong muốn làm ổn định các điều kiện. Chúng ta nhìn thấy
phẩm tính như mơ của tất cả những gì khởi lên [trong tâm]
và an nghỉ [tâm mình] trong sự khởi lên đó. Trong trạng thái
này của tỉnh thức mở ngỏ, chúng ta có thể nhận ra dễ
dàng hơn khi thời điểm chết tới, và chúng ta có ít sự
đối kháng hơn đối với cái biết này.
Chúng
ta sẽ biết rằng không còn thang thuốc nào nữa, không còn
bài kinh nào nữa sẽ ngăn cản được cái chết của chúng
ta. Từ sự tôn trọng sinh mạng quý giá, chúng ta đã làm những
gì có thể được để giữ đời mình, nhưng bây giờ chúng
ta sắp lìa bỏ thân mình và kiếp này. Chúng ta đã sẵn sàng
cho sự chuẩn bị cuối cùng cho cái chết.
Nếu
có thể, chúng ta nên bố thí tài sản của mình. Một di chúc
chính thức, viết ra chữ sẽ có giá trị lớn bởi vì nó
cho chúng ta hướng tài sản vật chất của mình tới lợi
ích cao nhất. Cử chỉ bố thí này giải thoát chúng ta khỏi
sự gắn bó vào những gì chúng ta không có thể giữ được,
và tạo ra công đức.
Tương
tự, nếu chúng ta có thể và chưa làm như thế, chúng ta nên
viết một “di chúc sống” về các kỹ thuật hồi sinh nào
và tiến trình y khoa giữ thọ mệnh nào mà chúng ta muốn dùng,
và loại nào mà chúng ta muốn tránh. Nếu có thể, đây nên
là một bản văn pháp lý chính thức đi kèm với một văn
bản khác trong đó bổ nhiệm “thẩm quyền luật sư vững
bền” cho người mà chúng ta ủy thác việc thực hiện các
mong muốn của chúng ta, và thực hiện các quyết định y khoa
trong trường hợp chúng ta rơi vào hôn mê hay mất khả năng
phán đoán.
Cũng
hữu dụng và lợi ích nhiều là một lá thư thông báo các
bạn và gia đình mình về các giáo pháp nào, kể cả
pháp p’howa, nên thực hiện và giải thích về cách các pháp
này có thể giúp chúng ta khi hấp hối và sau khi chết. Một
mẫu thư như thế có thể đọc trong phần Phụ Lục.
Khi
chúng ta tiếp cận cái chết, chúng ta xem xét lại lần cuối
nghiệp lực của mình về thân, khẩu và ý. Chúng ta xem xét
lại sự tinh tấn tu tập của mình, các lời nguyện thiêng
liêng của mình, và các lời hứa chúng ta đã cam kết với
vị thầy của mình. Chúng ta quán tưởng Đức Phật A Di Đà
– hay bất kỳ vị Phật nào khác – không hề ly cách với
thầy bổn sư của chúng ta, như là người chứng của chúng
ta. Chúng ta thú nhận bất kỳ tội lỗi nào đã gây ra, đặc
biệt các hãm hại cố ý, và việc chúng ta không giữ được
các lời nguyện. Qua sự lương thiện tuyệt đối với mình,
chúng ta khởi tâm sám hối chân thật. Phát lời nguyện là
không bao giờ lập lại các sai trái trong các kiếp tương lai,
chúng ta đón nhận sự tha thứ từ nhân chứng đã giác ngộ
đó, bằng ánh sáng phóng quang hay bằng nước cam lồ hay cả
hai.
Bây
giờ, chúng ta quán tưởng rằng tất cả các công đức, tài
sản vật chất và phẩm hạnh tốt của tất cả các kiếp
sống của chúng ta gom lại tạo thành một đàn pháp cúng dường
nghiêm tranh và rộng lớn, dâng lên các vị Phật và Bồ Tát
ở mười phương. Công đức của việc cúng dường này sau
đó được hồi hướng cho tất cả chúng sinh.
Chỉ
khi chúng ta có thể đo lường tiến trình nội tại của thân
mình tan rã, và chúng ta nên tỉnh thức nhận ra một cac1h cụ
thể về chuỗi các dấu hiệu bí mật – ảo ảnh, khói, tia
sáng như đom đóm, và ánh sáng như các ngọn đèn bơ. Những
dấu hiệu này cho thấy là bức màn giữa tình trạng hiện
nay của chúng ta và sự hiển lộ của thân trung ấm của thực
tánh của các hiện tượng đang trở thành mỏng hơn. Khi hơi
thở ngắn lại, thân mình nặng nề và lạnh đi, và các cảm
quan trở nên mơ hồ, chúng ta hãy yêu cầu các bạn đỡ chúng
ta thẳng dậy nếu có thể. Nếu không, họ nên lăn chúng ta
về hướng bên phải của chúng ta trong tư thế sư tử, tức
thế nằm mà Đức Phật Thích Ca khi nhập niết bàn. Rồi thì,
nếu các bạn không phải là người tu pháp p’howa hay chưa
bao giờ được hướng dẫn về điều phải làm, thì
tốt hơn là, họ nên rời phòng. Dĩ nhiên, điều này không
phải luôn luôn có thể được, nhưng ít nhất, họ sẽ không
làm chúng ta phân tâm.
Bây
giờ đơn độc, chúng ta không nên sợ hãi gì. Chúng ta đã
chết vô lượng lần trước giờ, và lần này, chúng ta đã
quy y và có một pháp tu đầy sức mạnh. Chúng ta đã tập
dợt giây phút này qua pháp tu p’howa. Chúng ta quán tưởng
mẫu tự Hung án ngữ 9 cửa ngõ (các lòng bàn chân, 2 cửa
nơi hạ bộ, miệng, các lỗ mũi, các lỗ tai). Tâm chúng ta
vui mừng hướng về Cõi Cực Lạc và Phật A Di Đà. Ngay cả
nếu sự quán tưởng của chúng ta mơ hồ, chúng ta biết rằng
Phật A Di Đà, không cách biệt với thầy của chúng ta, thì
hiện ra bên trên đỉnh đầu của chúng ta. Chúng ta mong
muốn kết hợp với thầy bổn sư của chúng ta. Rồi thì chúng
ta tập trung về thần thức t’higle càng mạnh mẽ càng tốt.
Liên
tục đọc câu chú “P’hat!” chúng ta phóng thần thức t’higle
ra khỏi đỉnh đầu, thực hiện mỗi lần phóng ra với sự
chú và sức mạnh như dường đó là lần cuối của chúng
ta. Bây giờ, hơi thở hắt mạnh mẽ cuối cùng sắp tới.
Chúng ta tập trung tất cả sức còn lại vào lần phóng [thần
thức] ra này, hoàn tất sự tách rời tâm và thân. Sự kết
hợp với Phật A Di Đà là bất nhị; đó là sự giải thoát
vào cõi thanh tịnh.
Sự
Giải Thoát Khi Học Nhân
Không
Thể Thực Hiện P’howa
Nếu
cái chết tới đột ngột và không có thì giờ để thực
hiện p’howa, hay nếu người này không còn khả năng thực
hiện, thì pháp tu p’howa cũng có thể mang tới giải thoát,
trước tiên là trong giai đoạn ánh sáng trong trẻo của thân
trung ấm của thực tánh vạn pháp. Trạng thái này của tâm
thức chưa mê muội đáp ứng với cái tỉnh thức bất nhị
tự nhiên được kinh nghiệm trong thiền định sau khi chuyển
di thần thức vào trong tâm của Phật A Di Đà. Nếu trạng
thái này được ổn định trong thiền định, sẽ có thể
đạt được sự giải thoát pháp thân sau khi chết.
Sự
hiển lộ thanh tịnh của báo thân đưa một cơ hội thứ nhì
cho giải thoát. Việc tu tập pháp p’howa làm cho người tu
quen thuộc với sự xuất hiện thanh tịnh của Đức Quan Aâm,
Đức A Di Đà và Đức Vô Lượng Thọ (Amitayus). Đặc biệt,
việc kinh nghiệm được bản tánh của mình như là Đức Quan
Aâm trong khi thiền định sẽ làm người tu chứng ngộ được
sự xuất hiện tự nhiên của Đức Quan Aâm trong thân trung
ấm của thực tánh của vạn pháp chính là sự hiển lộ tự
tánh của chính mình. Sự chứng ngộ này mang tới sự giải
thoát báo thân.
Một
cơ hội thứ ba để giải thoát khởi lên trong thân trung ấm
của sự trở thành. Khi nhận ra rằng mình chết, và khi các
hình ảnh, âm thanh và cảm xúc hỗn loạn kéo tới, và nếu
người tu có một thói quen cầu nguyện, thì người tu có thể
cầu nguyện tới Phật A Di Đà. Chỉ có một tấm thân trung
ấm phi vật thể, người tu sẽ được đẩy bạt tới bất
cứ nơi nào tâm nghĩ tới, kể cả [khi nghĩ tới] Phật A Di
Đà. Điều này sẽ mang tới hiện tượng giải thoát sắc
thân.
Thực
Hiện Hộ Niệm P’howa
Việc
đầu tiên để làm khi người đó chết là vỗ mạnh đỉnh
đầu người đó. Điều này hướng dẫn thần thức hướng
lên trên. Người tu pháp môn p’howa mà đã từng đạt các
dấu hiệu tốt thì lúc đó có thể chuyển di thần thức cho
người chết. Điều này thực hiện bằng cách quán tưởng
chính mình là Đức Quan Aâm, và [quán tưởng] người chết
là Đức Quan Aâm ngồi trong tư thế kim cang (vajra posture, bán
già với bàn chân phải trên đùi chân trái) ở phía trên cái
xác đang nằm sấp mặt như đang nằm lạy (LDG: Người Tây
Tạng lạy bằng cách nằm sấp người xuống, chứ không quỳ
như người Việt. Đây chỉ là quán tưởng thôi. Bản văn
không bảo phải để người chết nằm sấp mặt.). Người
tu quán tưởng có một dòng năng lực màu xanh lá cây bắn
ra từ tim mình tới tim người chết, nơi đó nó tăng lực
cho sức rung động của năng lực người vừa qua đời. Bài
kinh nguyện 2 dòng dâng lên Phật A Di Đà và 3 tiếng thần
chú “P’hats” được đọc lên như hồi thực tập. Tuy nhiên,
toàn bộ chú tâm sẽ hướng về sự chuyển di thần thức
người chết vào trong tâm (nơi tim) của Phật A Di Đà.
Sự
nhận thức rằng Đức Quan Thế Aâm biểu tượng cho bản tánh
(essence: bản chất, yếu tánh) của người chết sẽ làm cho
người hộ niệm có thể thành tựu sự chuyển di. Xác chết
chỉ đơn thuần là một ảo giác, một nơi cư ngụ tạm thời;
Đức Quan Aâm là một sự xuất hiện thanh tịnh sinh khởi
từ bản chất bất hoại của tâm người chết. Ai kinh nghiệm
điều này trực tiếp trong thiền định thì sẽ được giải
thoát, xa lìa khỏi sự chia chẻ phân biệt giữa thi thể và
sự quán tưởng.
Sự
thực hành pháp p’howa có thể được thực hiện một cách
lặng lẽ, đặc biệt nếu việc này đụng chạm tới thân
nhân và/hay là tạo ra sự rối loạn trong bệnh viện. Một
số bệnh viện thông cảm đối với các lời yêu cầu xin
ngồi lặng lẽ một mình bên thi thể, đặc biệt nếu sự
thu xếp này được báo trước. Nếu người chết cũng là
người tu và đã yêu cầu chúng ta hộ niệm cho pháp tu p’howa
của họ, thì sẽ thích nghi khi thực hiện pháp này bằng các
kinh cầu lớn tiếng. Tuy nhiên, nếu người đó chống cự
với sự chết, và nếu pháp p’howa sẽ tăng thêm sự dao động
và sợ hãi của người đó, thì đừng nên làm pháp này. Pháp
này có thể được thực hiện sau khi người này đã chết.
Điều luôn luôn quan trọng là đừng làm người hấp hối
phiền não hay bực bội. Nên tránh những xích mích với gia
đình và người chăm sóc; chủ yếu là sự linh động và dịu
dàng.
Pháp
p’howa có thể thực hiện cho người không theo đạo Phật,
nhưng nếu họ chưa nhận phép điểm đạo (initiation: dẫn
người mới vào, đưa người mới vào) và pháp tu tập, thì
không thích hợp để dạy họ khi chưa có sự chuẩn thuận
từ một vị lạt ma có phẩm chất. Chúng ta có thể khuyến
cáo rằng họ nên quán tưởng một vật biểu tượng tâm linh
của họ trên đầu họ (LDG: Thí dụ, người đạo Thiên Chúa
có thể quán cây thập giá trên đầu). Tuy nhiên, trong khi thực
hiện pháp p’howa để giúp họ, chúng ta sẽ vẫn quán tưởng
Đức Phật A Di Đà thay vì biểu tượng của tôn giáo người
đó. Nếu họ thấy khó chịu với Phật Giáo, thì chúng ta
không thực hiện pháp p’howa cho họ. Thay vào đó, chúng ta
đọc những bài kinh cầu tổng quát và hồi hướng công đức
của bất kỳ sự tu tập cá nhân nào tới họ.
Đôi
khi, cần làm đi làm lại nhiều lần trước khi có dấu hiệu
chuyển di [thần thức] thành công xuất hiện trên đỉnh đầu.
Những dấu hiệu này có cả hiện tướng phồng lên, một
mảng tóc nơi đỉnh đầu dễ bị bứt ra, hay là một giọt
máu hay huyết tương. Milarepa có một lần ngồi bên đường
trong một tuần lễ thực hiện pháp p’howa trên xác một con
chó. Chúng ta có nên mong đợi bỏ ra vài phút đồng hồ để
hành pháp này giúp những người mà chúng ta quan tâm? Nếu
họ không thể dựa vào chúng ta vào lúc cần thiết, thì ai
mà họ có thể nương tựa?
Cho
tới khi thấy rõ các dấu hiệu, đừng nên chạm vào thi thể
trừ phi lúc vỗ vào đầu. Sau đó, không quan trọng gì chuyện
thi thể đưa đi thiêu hay là chôn cất.
Hành
Pháp P’howa Cho Thú Vật
Bởi
vì khung xương đầu thú vật có cấu trúc khác với của người,
nên không thể tạo ra cùng loại mở luân xa đỉnh đầu. Do
vậy, thay vì gửi năng lực màu xanh lá cây tới tim con thú,
người tu hãy quán tưởng đưa thần thức t’higle của con
thú này vào tâm (tim) mình và hợp nhất nó với chính tâm
thức của mình, chuyển nó ra luân xa đỉnh đầu của mình
và vào trong tâm (tim) Đức Phật A Di Đà.
Không
dễ gì chuyển di thần thức của thú vật, nên nhiều người
hộ niệm bằng cách đọc câu chú của Phật A Súc Bệ (Buddha
Akshobhya, còn được dịch là Bất Động Phật), và tạo ra
(dựng, đắp, hay vẽ) hình ảnh Ngài cho các con thú mà họ
quan tâm.
Pháp
tu Phật A Súc Bệ đặc biệt hiệu quả bởi vì ngài đã lập
nguyện rằng bất kỳ ai đọc câu chú của ngài 100,000 lần
và tạo dựng ảnh hình ngài thì sẽ được thoát khỏi cảnh
tái sinh vào cảnh giới thấp.
Tuy
nhiên, việc thực hiện bất kỳ pháp nào và hồi hướng công
đức cho một con thú đã chết thì đều đưa tới lợi ích.
