NỘI
DUNG
Dẫn
Nhập
Chương
1: GIÁO LÝ
Chương
2: ĐẠO SƯ
Chương
3: CƠ HỘI
Chương
4: CÁI CHẾT
Chương
5: SỰ TÁI SINH
Chương
6: SỰ QUY Y
Chương
7: NGHIỆP
Chương
8: BỐN SỰ THẬT
Chương
9: LÝ TƯỞNG BỒ TÁT
Chương
10: BỒ TÁT HẠNH
DẪN
NHẬP
Thực
hành Phật giáo là tiến hành một cuộc chiến đấu giữa
những thế lực tiêu cực và tích cực trong tâm bạn. Thiền
giả nỗ lực làm tiêu mòn điều tiêu cực và phát triển,
tăng trưởng điều tích cực. Những giáo lý trong quyển sách
này là để chuyển hóa tâm thức; chỉ đọc hay nghe mỗi một
đoạn thôi cũng có thể đem lại lợi lạc to lớn.
Không
có những cột mốc vật chất để đo lường sự tiến bộ
trong cuộc chiến đấu giữa những thế lực tiêu cực và
tích cực trong tâm thức. Sự chuyển hóa bắt đầu khi trước
hết bạn nhận diện và nhận thức được những lầm lạc
của bạn, như tính giận dữ và ganh tỵ. Sau đó người ta
cần hiểu biết những cách đối trị sự lầm lạc, và sự
hiểu biết đó có được là nhờ nghe các giáo lý. Không có
một phương cách đơn giản để tẩy trừ những lầm lạc.
Chúng không thể được nhổ sạch bằng cách mổ xẻ. Chúng
phải được nhận thức, và sau đó, nhờ sự thực hành những
giáo lý này, chúng có thể từ từ giảm bớt và rồi hoàn
toàn bị tiệt trừ.
Những
giáo lý này đem lại các phương tiện để giải thoát bản
thân ta khỏi sự lầm lạc – một con đường mà cuối cùng
đưa tới sự tự do đối với mọi đau khổ và dẫn tới
sự phúc lạc của Giác ngộ. Ta càng thông hiểu Pháp, hay giáo
lý đạo Phật, thì sự áp chế của tánh tự cao, oán ghét,
tham lam và những cảm xúc tiêu cực khác gây nên bao nhiêu
đau khổ càng giảm bớt. Việc thực hành sự hiểu biết này
trong đời sống hàng ngày trải qua một thời gian nhiều năm
tháng sẽ từ từ chuyển hóa tâm thức, bởi tâm thức vẫn
chịu sự biến đổi, dù thường thì nó có vẻ không phải
thế. Nếu bạn có thể so sánh tâm thái hiện tại của bạn
với tâm thái sau khi đọc cuốn sách này, thì bạn có thể
nhận ra một vài sự tiến bộ. Nếu như thế, các giáo lý
này sẽ đáp ứng được mục đích của chúng.
Trong
kiếp này, Đức Phật đã xuất hiện từ hơn 2500 năm trước
trong thân tướng Thích Ca Mâu Ni, hiền giả của bộ tộc Thích
Ca. Ngài xuất gia làm một nhà sư và dấn mình vào những thực
hành du già gian khổ. Tọa thiền dưới một gốc cây ở nơi
gọi là Bodh Gaya ở miền bắc Ấn Độ, Ngài thành tựu sự
Toàn Giác. Sau đó Ngài ban rất nhiều giáo lý để khế hợp
với những lợi lạc và khuynh hướng khác nhau của chúng ta.
Trong một số giáo lý, Ngài dạy cách thức để có được
một sự tái sinh tốt đẹp hơn và trong những giáo lý khác,
Ngài dạy làm thế nào để đạt được giải thoát khỏi
sự luân hồi của sinh và tử. Những bản văn sâu rộng chứa
đựng những giáo lý này được gọi là Kinh (sutra), phác thảo
những phương pháp và phương tiện để đem lại hạnh phúc
cho tất cả chúng sinh. Lưu xuất từ kinh nghiệm và Pháp âm
mạch lạc của Đức Phật, những giáo lý này có thể được
thực hành và chứng nghiệm bởi bất kỳ ai.
Ở
Tây Tạng, các giáo lý Phật giáo đã được biên tập trong
một cuốn sách duy nhất để khám phá những giai đoạn của
toàn thể con đường đi đến Giác ngộ. Trong quá khứ, nhiều
người đã có thể thành tựu trạng thái Toàn Giác nhờ nương
tựa vào chính những giáo lý này; chúng thích hợp với bất
kỳ những ai có tâm thức chưa được điều phục. Mặc dù
chúng ta nhận ra sự tai hại do những lầm lạc của mình,
như mối họa hại cho chính ta và người khác khi ta hành động
từ sự giận dữ, nhưng chúng ta vẫn còn rơi vào ảnh hưởng
của chúng. Vì vậy một tâm thức chưa được điều phục
ném chúng ta xuống vực thẳm một cách hung bạo thay vì nó
dừng lại khi nhìn thấy bờ vực.
Chúng
ta đã từng trôi lăn trong vòng luân hồi đau khổ này do những
lầm lạc của ta và những hành động do chúng kích động,
được gọi là nghiệp. Do tương quan nhân-và-quả giữa những
hành động và kinh nghiệm của ta, chúng ta dùng đời mình
để chịu đựng đủ loại thăng trầm trong phiền não và
rối rắm. Hoàn toàn thoát khỏi gánh nặng của các hành vi
trong quá khứ và sự áp chế của tham, sân, và si, điều đó
được gọi là giải thoát, hay Niết bàn. Khi chúng ta có thể
tẩy trừ những lầm lạc và nghiệp nhờ chứng ngộ sự thanh
tịnh tự nhiên của tâm, sự an lạc hoàn toàn sẽ phát khởi
và chúng ta đạt được giải thoát toàn triệt khỏi sự luân
hồi đau khổ.
Nếu
chúng ta làm các thiện hạnh như cứu sống những con vật,
thì ta có thể tích tập những điều kiện cần thiết để
được tái sinh làm người. Nếu chúng ta thực hành Pháp nghiêm
cẩn, ta có thể tiếp tục sự tiến bộ tâm linh của ta trong
những đời sau. Nhưng cuộc đời này thật quý báu và không
thể tiên đoán được, và dấn mình vào sự thực hành khi
chúng ta có cơ hội là điều quan trọng. Ta không bao giờ biết
được cơ hội đó sẽ kéo dài bao lâu.
Theo
định luật nghiệp báo hay nguyên lý nhân quả thì những gì
chúng ta làm bây giờ sẽ có kết quả ở tương lai. Tương
lai chúng ta được quyết định bởi tâm thái của ta trong
hiện tại, nhưng tâm thái hiện tại của ta thì bị tàn phá
bởi những mê lầm. Chúng ta nên khao khát thành tựu sự Giác
ngộ. Nếu điều đó không thể được, chúng ta nên cố gắng
đạt được giải thoát khỏi sự tái sinh. Nếu không được
nữa thì ít nhất, ta gieo trồng hột giống để có một tái
sinh thuận lợi trong đời sau, mà không bị rơi vào một cõi
luân hồi thấp. Trong thời cơ tốt lành này, khi chúng ta được
nghe và thực hành Pháp mà không bị ngăn ngại, chúng ta đừng
để cho cơ hội hiếm có đó qua đi.
Tuy
nhiên, tự giải thoát khỏi nỗi đau khổ chỉ là một phần
của cuộc truy tìm. Giống như ta không muốn có ngay cả nỗi
đau khổ nhỏ bé nhất và chỉ mong muốn hạnh phúc, thì những
người khác cũng vậy. Tất cả chúng sinh đều bình đẳng
trong ý nghĩa là ai cũng có khuynh hướng tự nhiên ước muốn
hạnh phúc và giải thoát khỏi đau khổ. Mọi chúng sinh đều
có quyền giống nhau là được hạnh phúc và thoát khỏi đau
khổ. Hiểu rõ điều này mà vẫn làm việc chỉ vì sự giải
thoát cho riêng mình sẽ khiến cho sự thành tựu trở thành
cái gì thật nhỏ bé. Nhưng nếu động lưc nền tảng của
chúng ta là làm sao có đủ khả năng giúp đỡ người khác,
thì chúng ta có thể đạt tới trạng thái Toàn Giác và đủ
năng lực để làm lợi lạc tất cả chúng sinh. Và nhờ đó
bản thân chúng ta có thể thành Phật.
Nếu
tâm thái hiện tại của ta nghèo nàn và khả năng thì giới
hạn, làm thế nào chúng ta có thể hoàn thành những ước
nguyện của người khác ? Chỉ đơn thuần muốn giúp đỡ
họ thì không đủ. Đầu tiên chúng ta phải có khả năng nhận
thức những khát khao của người khác. Để nhận thức của
ta được trong sáng, ta phải giải trừ tất cả lỗi lầm
ngăn cản chúng ta trong việc nhìn các sự vật như chúng là.
Những chướng ngại cho sự Toàn Giác là những ô nhiễm do
những lầm lạc như lòng ham muốn, giận dữ, kiêu ngạo và
vô minh để lại. Ngay cả sau khi các lầm lạc đã được
tẩy trừ, tâm thức vẫn còn những dấu vết của chúng. Nhưng
bởi bản tánh thật sự của tâm thức thì trong sáng, thanh
tịnh, và tỏ biết nên ta có thể tịnh hóa tâm thức một
cách hoàn hảo và bởi thế, đạt được sự trong sáng của
sự tỉnh giác được gọi là Toàn Giác.
Động
lực chính yếu thúc đẩy Đức Phật thành tựu tất cả những
phẩm tính vĩ đại của Ngài về thân, ngữ và tâm là lòng
bi mẫn. Cốt tủy của sự thực hành của chúng ta cũng nên
là ước nguyện giúp đỡ người khác. Một ước nguyện vị
tha như thế hiện diện tự nhiên trong lòng chúng ta bằng sự
thấu hiểu rằng cũng như chúng ta, những người khác ước
muốn được hạnh phúc và né tránh đau khổ. Cũng như một
hột giống, chúng ta có thể giữ gìn và khiến cho ước nguyện
tăng trưởng nhờ sự thực hành. Về cơ bản, mọi giáo lý
của Đức Phật đều nỗ lực phát triển thiện tâm và lòng
vị tha này. Con đường của Đức Phật được đặt nền
tảng trên lòng bi mẫn, là ước nguyện người khác được
giải thoát khỏi khổ đau. Lòng bi mẫn này đưa chúng ta tới
sự nhận thức rằng hạnh phúc của người khác là tối hậu,
nó quan trọng hơn hạnh phúc của chính ta, và không có họ,
chúng ta sẽ không có sự thực hành tâm linh, không có cơ hội
để Giác ngộ. Tôi không tự cho là mình đã đạt được
sự hiểu biết vĩ đại hay chứng ngộ cao siêu, nhưng để
tưởng nhớ tới thiện tâm của những vị Thầy của tôi
là những người đã ban cho tôi các giáo huấn này, và với
mối quan tâm tới hạnh phúc của mọi chúng sinh, tôi trao tặng
những giáo lý này cho các bạn.
http://www.thuvienhoasen.org/conduongdentudovothuong-00.htm
WP:
Liên Hoa