CHƯƠNG
10
BỒ
TÁT HẠNH
Mặc
dù chỉ riêng một mình sự phát khởi về phương diện ước
nguyện của Bồ đề tâm thì rất đáng kể, nhưng chỉ có
một thiện hạnh không thôi thì tự nó sẽ không hoàn thành
được mục đích thành tựu Bồ đề tâm của bạn. Điều
quan trọng là phải đi vào sự thực hành các Bồ Tát hạnh.
Các hành động này, được gọi là sáu sự toàn thiện (sáu
ba la mật), tạo thành con đường cốt yếu và toàn diện đi
tới Giác ngộ, nó kết hợp phương tiện và trí tuệ. Chính
Đức Phật đã dạy rằng các Bồ Tát từ bỏ mọi mê lầm
là nhờ sức mạnh trí tuệ của các ngài, nhưng chính bởi
sức mạnh của phương tiện bi mẫn của các ngài mà các ngài
không bao giờ từ bỏ chúng sinh. Hai phương diện của con đường
này nên luôn luôn được phối hợp thực hiện, không bao giờ
bằng sự cô lập. Toàn thể sự thực hành của Bồ Tát được
phân loại thành sáu toàn thiện, đó là sự rộng lượng (bố
thí), trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí
tuệ.
Để
thực hiện những ước muốn của người khác, điều hết
sức quan trọng là phải dấn mình vào thực hành bố thí,
và chính sự bố thí cần được củng cố bằng việc tuân
giữ trong sạch các giới hạnh, tránh làm hại những người
khác. Bản thân sự thực hành giới hạnh cần được hoàn
thiện bằng thực hành nhẫn nhục, vì chúng ta nên chịu đựng
những tác hại mà những người khác gây nên cho ta. Để đi
vào những thực hành như thế, bạn phải có sự tinh tấn
lớn lao. Không có thiền định, sự thực hành của bạn sẽ
không có năng lực. Và không có trí tuệ chứng ngộ bản tánh
của các hiện tượng thì bạn sẽ không thể hướng dẫn
người khác một cách đúng đắn trên con đường dẫn tới
sự thành tựu Giác ngộ. Bây giờ tôi sẽ giải thích sáu
sự toàn thiện chi tiết hơn.
Sự
rộng lượng (bố thí)
Sự
bố thí là một thái độ sẵn sàng cho đi tài sản, thân thể,
đức hạnh v.v… của riêng bạn mà không có chút keo kiệt
nào. Bạn cho đi tài sản, của cải của riêng bạn, và những
đức hạnh tích tập được qua việc bố thí những điều
này cũng phải được hồi hướng cho sự lợi lạc của người
khác. Tính chất toàn thiện của sự bố thí không tùy thuộc
ở việc tiệt trừ hết cái khó nghèo của tất cả chúng
sinh; nó là sự phát triển tối hậu của một thái độ rộng
lượng. Các bản văn nói về tầm quan trọng của sự phát
triển một ý thức rộng lượng, đặc biệt là bố thí thân
thể bạn cho những người khác. Thân thể tự nó thì đầy
những lỗi lầm và khiếm khuyết, nhưng với thân thể này
bạn có thể thực hiện những mục đích to lớn bằng cách
sử dụng nó để giúp đỡ người khác thay vì ôm giữ nó.
Điều tương tự được áp dụng cho tài sản của bạn. Nếu
bạn khư khư ôm giữ những của cải của bạn, bạn sẽ tích
tập thêm nữa những ác hạnh bởi sự keo kiệt. Nhưng nếu
bạn bố thí tài sản cho những người khác thì chúng sẽ
phụng sự cho một mục đích trong khi tăng trưởng thực hành
bố thí của bạn. Những sự thâu thập đức hạnh mà bạn
tích tập nhờ bố thí những điều này cho người khác nên
được hồi hướng cho sự lợi lạc của họ.
Có
nói rằng nếu bạn thực hành sự bố thí theo lối này, cho
đi tài sản, thân thể và những thâu thập đức hạnh của
bạn, thì công đức bạn tích tập được sẽ rộng lớn.
Vì thế, đừng ôm giữ những của cải của bạn, cũng đừng
làm việc để tích trữ thêm nữa, bởi vì những tài sản
sẽ tỏ ra là một trở ngại cho sự thực hành bố thí của
bạn. Đức Phật đã bố thí tài sản và của cải của Ngài
cho sự lợi lạc của người khác và đã thành tựu trạng
thái Toàn Giác. Khi đã nhận ra sự vô ích của việc ôm giữ
của cải, bạn nên nỗ lực tăng trưởng ý thức về sự
bố thí của mình và áp dụng nó vào thực hành bằng cách
bố thí tài sản bạn có cho những người khác. Một người
nhận thức được sự vô ích của việc ôm giữ và bố thí
của cải của họ với một ước muốn trong sạch là giúp
đỡ người khác, người ấy được gọi là một Bồ Tát.
Vì bạn đã hồi hướng thân thể, tài sản và những thâu
thập đức hạnh của riêng bạn cho sự lợi lạc của những
người khác nên khi sử dụng chúng, bạn phải sử dụng với
thái độ vay mượn chúng từ người khác và làm việc đó
vì sự ích lợi của người khác.
Trong
việc thực hành bố thí, một ước nguyện vững chắc và
kiên định đạt được Giác ngộ phải là động lực của
bạn. Mọi sự bạn bố thí phải có lợi lạc cho người khác.
Việc thực hành bố thí phải được thực hiện vì sự lợi
ích của người khác và phải được làm trong một cách thức
hết sức thiện xảo, đó là, với sự thấu hiểu rằng cuối
cùng thì không có người cho hay nhận. Việc thực hành bố
thí phải được hồi hướng cho sự lợi lạc của mọi người,
nhưng nó cũng phải có phẩm tính của sự thanh tịnh
siêu việt, có nghĩa là năm sự toàn thiện kia cũng phải hiện
diện. Ví dụ, khi bố thí Pháp cho người khác, bạn nên có
giới hạnh để kềm chế không rơi vào một thái độ ích
kỷ, và bạn cũng nên có sự nhẫn nhục để chịu đựng
những gian khổ trong suốt thực hành của con đường. Có ba
loại bố thí: bố thí Pháp (Pháp thí), bố thí sự vô úy
hay sự che chở (vô úy thí) và bố thí tài sản vật chất
(tài thí).
Bạn
nên thực hành sự bố thí với ý định là ước muốn thành
tựu Giác ngộ vì những người khác. Khi bạn thực sự thực
hành bố thí, thái độ của bạn đối với những người
bạn bố thí không nên là thái độ thương hại. Bạn nên
nhìn họ như một nguồn mạch của thiện tâm vĩ đại, góp
phần vào sự tiến bộ trong việc thực hành Pháp của bạn.
Mặc dù bạn không nên phân biệt, bạn phải đặc biệt chú
tâm tới những người nghèo nàn vật chất và những người
đang đau khổ ghê gớm. Tóm lại, bất kỳ lúc nào bạn thực
hành sự bố thí, bạn nên luôn luôn nhìn thấy và nói về
những phẩm tính tốt đẹp của những người khác và không
bao giờ đề cập tới những lỗi lầm của họ. Thái độ
của bạn đừng bị ảnh hưởng bởi ước muốn được tưởng
thưởng, danh tiếng hoặc hy vọng được nhận sự báo đáp.
Và khi đã bố thí điều gì, bạn đừng bao giờ hối
tiếc vì đã từ bỏ tài sản đó. Hãy cố gắng làm tăng
trưởng niềm vui trong việc bố thí, và đừng quay lưng lại
với những tình huống bạn có thể phải thực sự dấn thân
vào việc bố thí trong phương diện thân thể.
Để
làm tăng tiến và phát triển ý thức về sự bố thí
của bạn, bạn nên bắt đầu bằng cách bố thí những tài
sản nhỏ bé. Với thực hành, điều này sẽ dẫn tới việc
bạn không có ngay cả cảm giác e sợ hay dự phòng vi tế nhất
khi bố thí thân thể bạn. Có nói rằng tâm thái của con người
luôn luôn tùy thuộc vào cái gì người ta quen thuộc. Ví dụ,
khi ta học một ngôn ngữ, chúng ta khởi hành ngay từ lúc bắt
đầu với bảng chữ cái. Ban đầu dường như rất khó khăn.
Nếu lúc đó chúng ta được cho một bài văn phạm phức tạp
thì nó sẽ không ích lợi. Nhưng nếu chúng ta bắt đầu với
bảng chữ cái bằng một phương cách khéo léo, thì cuối cùng
ngay cả sự rắc rối của văn phạm cũng có vẻ rất dễ
dàng. Cùng cách thức đó, nếu bản thân ta tu hành bằng cách
bố thí tài sản vật chất của mình thì về sau, ngay cả
việc từ bỏ thân thể của chính ta cũng có vẻ rất tự
nhiên.
Bạn
không nên trì hỗn việc bố thí hay chờ đợi người khác
làm điều gì tốt đẹp. Bạn đừng cho một món quà khi đã
hứa cho một thứ gì khác, và đừng đề cập đến lòng tốt
của bạn khi bố thí điều gì khiến người nhận phải mang
ơn bạn. Khi bố thí bạn nên làm trong sự hoan hỉ, với một
cách biểu lộ làm vui lòng người. Bạn nên tự thực hành
sự bố thí và khuyến khích người khác làm điều đó, cũng
để giúp người khác phát triển một ý thức về sự bố
thí nữa. Bất kỳ cái gì làm hại người khác trong thời
hạn ngắn và đem lại đau khổ và bất hạnh về lâu về
dài thì không phải là một quà tặng thích hợp. Bất kỳ
cái gì mang lại hạnh phúc cả ngắn hạn lẫn dài hạn thì
thích hợp để đem cho người khác. Khi bạn thực hành bố
thí giáo lý (Pháp thí), trước hết bạn nên phân tích bản
chất của người nghe để quyết định xem họ có được
lợi lạc từ giáo lý bạn đang có ý định ban cho không. Nếu
không, thay vì có ích lợi cho người đó, cuối cùng nó có
thể có hại, và thính giả của bạn có thể mất lòng tin
ở Pháp. Thêm vào đó, bạn đừng tặng vật dụng cho thợ
săn khiến họ có thể dùng để giết thú vật, cũng đừng
dạy họ các kỹ thuật để săn bắt thú. Trong một số trường
hợp, sự từ chối tỏ ra có ích lợi hơn việc bố thí. Bồ
Tát nên khéo léo trong những tình huống như thế.
Nếu
bạn tự thấy mình không thể từ bỏ điều gì, bạn nên
quán chiếu về sự vô ích của những của cải vật chất
và cũng nhận thức về sự vô thường của cuộc đời riêng
bạn. Sớm muộn gì thì bạn sẽ phải từ bỏ những của
cải này, vì vậy thay vì chết trong sự áp chế của tính
keo kiệt, tốt hơn, ngay từ bây giờ hãy thoát khỏi tánh bủn
xỉn và hãy bố thí của cải của bạn. Hãy tự suy nghĩ:
“Tôi đã chịu đựng những dày vò của đau khổ trong vòng
sinh tử chỉ vì đã không phát triển sự quen thuộc với thái
độ bố thí của cải của tôi. Từ nay trở đi tôi phải
thay đổi thái độ của mình và phát triển một ý thức về
sự bố thí.” Để làm điều này, hãy tạo nên trong tâm
mọi loại của cải kỳ diệu và tưởng tượng bố thí chúng
cho những người khác.
Giới
hạnh
Sự
toàn thiện thứ hai là giới hạnh. Giới hạnh là một tâm
thái kềm chế không dấn mình vào bất kỳ tình huống hay
sự kiện nào tỏ ra có hại cho người khác. Sự toàn thiện
của giới hạnh được thành tựu khi bạn phát triển sự
xác tín tới cực điểm về việc không làm hại người khác.
Ở đây giới hạnh được phân loại nói chung thành mười
tiêu đề, đó là, sự kềm chế không làm mười ác hạnh.
Giới hạnh giống như một trận mưa mát mẻ dập tắt ngọn
lửa tham, sân và si ở trong bạn. Bạn nên thực hành giới
hạnh với ý hướng không tham, không sân, và cũng có chánh
kiến nữa. Sự tuân giữ giới hạnh thanh tịnh phải bị ảnh
hưởng bởi sự sợ hãi những hậu quả sẽ phải đối diện
nếu bạn đắm chìm trong những ác hạnh, những hậu quả
xấu của chúng đã được giảng rõ. Sự tuân giữ giới hạnh
giống như một viên ngọc đẹp thích hợp với mọi người,
bất luận chiều cao, trọng lượng, tuổi tác và quốc tịch
của họ như thế nào. Các vật trang sức có thể trông đẹp
mắt với một người nhưng không đẹp với người khác, trong
khi vật trang sức giới hạnh thì đẹp đối với mọi hành
giả dù họ có hình dáng thể chất ra sao.
Với
sự tuân giữ giới hạnh thanh tịnh bạn sẽ nhận được
sự kính trọng tự nhiên trong cộng đồng nhân loại. Dưới
ảnh hưởng của giới hạnh bạn sẽ xử sự với con người
trong một cách thế đúng đắn và đức hạnh, và bạn sẽ
được che chở không bị chìm đắm trong những ác hạnh. Trong
Kinh điển có nói rằng ngay cả bụi đất nơi người có giới
hạnh trong sạch bước qua cũng là một vật để tôn kính;
phẩm tính của giới hạnh thì to lớn như thế. Ý hướng
giữ gìn giới hạnh trong sạch của bạn đừng nên bị hạn
chế bởi việc tự bảo vệ mình không làm những ác hạnh
mà cũng nên là một gương mẫu cho những người khác khiến
họ cũng có thể được bảo vệ đối với sự tác hại của
những ác hạnh.
Nhẫn
nhục
Nhẫn
nhục là một tâm thái chịu đựng khi đối diện với những
tác hại do người khác gây ra. Có ba loại nhẫn nhục. Loại
đầu tiên là không bị khó chịu bởi những tác hại do người
khác gây ra; loại thứ hai là tự nguyện nhận lãnh đau khổ
vào mình; và loại thứ ba là có thể chịu đựng những đau
khổ có dính líu trong việc thực hành Pháp. Điều hết sức
quan trọng là phải quán chiếu về những phẩm tính và lợi
lạc to lớn của việc có đức tính nhẫn nhục. Những người
không làm bất kỳ thực hành nhẫn nhục nào khi chết sẽ
bị xâm chiếm bởi một cảm xúc ân hận mạnh mẽ vì những
ác hạnh họ đã phạm trong đời, trong khi những người thực
hành nhẫn nhục và chịu đựng những tác hại người khác
gây ra sẽ không có bất kỳ ân hận nào khi chết. Cách đối
trị hữu hiệu nhất đối với thái độ ruồng bỏ những
người khác là thực hành sự nhẫn nhục. Nhẫn nhục cũng
che chở các hành giả trước những tác hại do sân hận gây
nên. Có nói rằng ngay cả một phút chốc sân hận đối với
một vị Bồ Tát có thể tiêu hủy toàn bộ sự thâu thập
đức hạnh bạn có được nhờ tích tập hơn một ngàn kiếp.
Vì thế sự nhẫn nhục che chở bạn khỏi sự ngã lòng khi
bị người khác làm hại, và nó cũng bảo vệ bạn trước
những tình huống khi sự sân hận của bạn có thể hủy diệt
toàn bộ đức hạnh bạn tích tập được. Nó là món trang
sức được những người khác ngưỡng mộ; nó là áo giáp
bảo vệ bạn trước sự sân hận của chính bạn và đối
với bất kỳ tác hại nào người khác gây nên.
Hậu
quả lập tức của việc bạn nổi nóng là bạn mất điềm
tĩnh, tâm bạn mất sự tỉnh thức. Những người quanh bạn
sẽ không vui vì sự sân hận tạo nên một bầu không khí
xấu quanh bạn. Sân hận và oán ghét tiêu hủy năng lực phán
đoán của bạn, và thay vì đền đáp lòng tốt của người
nào thì bạn kết thúc một cách đáng thương bằng sự trả
đũa. Mặc dù bạn có thể vui hưởng những tiện nghi vật
chất, nếu tâm bạn tràn đầy sự sân hận và oán ghét mạnh
mẽ, thì bạn sẽ không được hưởng ngay cả sự hỉ lạc
nhỏ bé nhất vì bạn sẽ bị cảm xúc dày vò liên tục. Nhận
thức được điều này, hãy hết sức nỗ lực thực hành
nhẫn nhục và cố gắng thoát khỏi sự sân hận.
Khi
có người làm hại bạn, đừng nổi giận và trả đũa lại,
mà hãy nhận thức rằng người đó không kiểm soát được
những cảm xúc của họ. Họ không cố ý làm điều đó nhưng
bị ảnh hưởng của những cảm xúc tiêu cực. Nguyên nhân
chính khiến người ta giận dữ và làm hại bạn là vì họ
chịu ảnh hưởng thường xuyên của những mê lầm. Thay vì
nóng giận, bạn nên phát triển lòng nhân từ và bi mẫn. Điều
hết sức đơn giản là nếu những người ấy kiểm soát được
những cảm xúc của họ, thì họ sẽ chẳng làm hại bạn
chút nào, bởi vì điều họ tìm kiếm chính là hạnh phúc.
Họ sẽ không làm việc để chính họ bị đọa lạc do tích
tập ác nghiệp đến từ việc làm hại người khác. Bởi
họ không kiểm soát được cảm xúc của mình nên không có
lý do gì khiến bạn phải cáu giận.
Bạn
nên phân tích xem sự sân hận, oán ghét và ý định làm hại
có phải là cái gì thuộc bản chất của con người hay không.
Nếu sân hận là bản tánh cốt yếu của con người, như nóng
là bản tánh của lửa, thì người ta không thể làm gì để
chiến thắng nó, và không có vấn đề trả đũa khi bị làm
hại. Trái lại, nếu sân hận không phải là bản tánh cốt
yếu của chúng sinh mà chỉ là một phẩm tính ngẫu nhiên,
thì cũng lại không có lý do gì phải cáu giận và trả đũa,
vì cái thực sự gây nên đau khổ là khí cụ mà người ta
dùng, như một cây gậy hay một dùi cui. Chúng ta nên nóng giận
những khí cụ này thay vì cáu giận người ấy, nhưng thực
ra chúng ta không làm thế. Cũng như chúng ta không cáu giận
những vật vô tri như các dùi cui, ta nên cố gắng điềm tĩnh
và đừng cáu giận tí nào. Thay vào đó, cố gắng truy tìm
nguyên nhân sâu xa của sự tác hại. Bạn sẽ nhận ra là chính
những hành nghiệp của riêng bạn, những ác hạnh mà bạn
đã mắc phạm trong quá khứ đã khiến người ta làm hại
bạn. Vì vậy, nếu bạn sắp cáu giận và trả đũa, bạn
nên nhận thức như thế đối với các mê lầm và ác hạnh
của riêng bạn. Không có lý do gì bạn phải cáu giận người
khác. Chỉ có các mê lầm của chúng ta khiến ta đối mặt
với những tình huống và đau khổ như thế.
Nếu
tôi cáu giận và đáp trả một vài kinh nghiệm về đau khổ
mà tôi không thể chịu đựng, tôi sẽ tích tập những ác
hạnh sẽ có ảnh hưởng sâu rộng trong tương lai. Thay vào
đó, tôi nên cảm thấy mang ơn người đã làm hại tôi, vì
họ đã cho tôi cơ hội để kiểm tra sự nhẫn nhục của
chính tôi. Thay vì cáu giận và trả đũa lại, chúng ta nên
cảm ơn người làm hại ta. Khi chúng ta bị đánh đập, sự
đau đớn là hậu quả đồng đều của sự xúc phạm và của
thân thể riêng ta. Không có thân xác, chúng ta sẽ không kinh
nghiệm sự đau khổ về vật lý. Vì thế, nếu chúng ta sắp
giận dữ, chúng ta cũng nên sân hận với chính thân thể của
ta.
Thực
hành nhẫn nhục rất cần thiết để chiến thắng sự oán
hận và ganh tỵ trước sự thành công và hạnh phúc của những
người khác. Chúng ta nên hoan hỉ rằng thay vì tài sản của
chúng ta để làm việc cho tất cả những người khác, một
vài người có thể làm việc cho phúc lợi của riêng họ.
Khi nhìn sự thành công như vậy, chúng ta nên vui vẻ và sung
sướng. Chúng ta phải chiến thắng cảm thức vui mừng mà
ta chứng nghiệm khi nhìn thấy sự suy sụp của những kẻ
thù hay đối thủ của ta, và không nên cảm thấy phẫn uất
hay thất vọng về sự thành công của kẻ thù. Sự phẫn uất
của chúng ta không chỉ làm hại người đó mà cũng khiến
ta tích tập thêm các ác hạnh, nó sẽ gây nên sự đọa lạc
của bản thân ta trong tương lai.
Trong
đời sống bình thường, chúng ta thường đau khổ hơn là
hạnh phúc. Điều tối quan trọng là có thể nhìn mọi
kinh nghiệm về đau khổ này trong bối cảnh đẩy mạnh thêm
nữa việc thực hành Pháp của chúng ta. Nếu chúng ta đã phát
triển sự nhẫn nhục trong ý thức tự nguyện nhận vào mình
những đau khổ, thì mặc dù có thể không đủ sức nhận
đau khổ của những người khác về mặt thân xác, chúng ta
sẽ không đánh mất khả năng phán đoán của mình. Ngay trong
đời sống bình thường, hai người có thể đau khổ vì căn
bệnh giống nhau, nhưng bởi những thái độ và cách thức
nhìn sự việc của họ khác nhau, một người đau đớn nhiều
hơn vì họ không được trang bị thái độ đúng đắn để
đối diện với tình huống, trong khi người kia có thể đối
mặt với tình huống tốt hơn và có thể tránh được nỗi
thống khổ và dày vò tinh thần thêm nữa. Ta nên ghi nhớ rằng
nếu tình huống không thể thay đổi được thì không có lý
do gì để lo lắng về nó. Nếu tình huống có thể thay đổi
thì cũng không có lý do gì để lo lắng; chúng ta chỉ nên
làm việc để thay đổi nó.
Nếu
không đối diện với đau khổ, chúng ta sẽ không có ước
muốn thành tựu sự giải thoát khỏi vòng sinh tử. Đó là
một phương diện tích cực của đau khổ. Không có đau khổ
làm thế nào bạn có thể có kinh nghiệm về sự từ bỏ ?
Trong phạm vi này, điều quan trọng là quán chiếu về sự
kiện là từ vô thủy tới nay, chúng ta đã từng trải qua
vòng luân hồi của đau khổ và dày vò liên tục, không bao
giờ từ bỏ những động cơ ích kỷ của ta, nỗ lực bám
chấp vào cái ta quan trọng của mình, và làm việc cho những
mục đích ích kỷ của ta. Bây giờ, chúng ta nên nhận thức
tầm quan trọng của việc chuyển hóa thái độ đó và nỗ
lực làm việc vì sự lợi lạc của những người khác. Trong
tiến trình, nếu phải đối đầu với đau khổ, ta sẽ có
khả năng chịu đựng nó mà không mất đi khả năng phán đoán
và không thất vọng về những kinh nghiệm như thế. Không
có kinh nghiệm nào mà cuối cùng không trở nên dễ dàng nhờ
sự thường xuyên quen thuộc. Chịu đựng những đau khổ trong
tiến trình của con đường là điều chúng ta có thể trở
nên quen thuộc.
Điều
hết sức quan trọng là trong quyết định của bạn phải có
sự cương quyết, can đảm và khả năng đàn hồi mạnh mẽ.
Khi những anh hùng nhìn thấy máu của chính mình trong chận
chiến đấu, thay vì ngã lòng và mất can đảm, họ trở nên
cương quyết hơn; nó như một thúc đẩy để chiến đấu
mãnh liệt hơn. Đó là loại thái độ mà Bồ Tát nên theo
khi gặp những tình huống trong đó họ phải chịu đựng những
đau khổ. Chúng ta nên chịu đựng đau khổ của những hoàn
cảnh vật chất tệ hại trong tiến trình thực hành. Chúng
ta nên chịu đựng những buồn phiền gây nên bởi người
khác khi họ nhục mạ ta hay nói năng chống báng ta. Chúng ta
phải chịu đựng đau khổ của bệnh tật và sự già yếu
của chính ta. Đừng để những thứ này áp đảo ta; ta phải
có khả năng chịu đựng chúng. Chúng ta phải chuẩn bị để
chịu đựng những gian khổ bao hàm trong tiến trình sống một
cuộc đời mãnh liệt trong sự thực hành Pháp, hiến mình
cho hạnh phúc tối thượng của tất cả chúng sinh. Ta đừng
bao giờ mất đi sức mạnh của sự tinh tấn của ta và nên
tiếp tục thực hành và không bao giờ oán giận hoàn cảnh.
Trên nền tảng vững chắc của sự nhẫn nhục, chúng ta có
thể xây dựng sự chứng ngộ về con đường trong tương lai
của ta.
Tinh
tấn
Sự
toàn thiện kế tiếp là tinh tấn. Tinh tấn là tâm thái hoan
hỉ trong những thiện hạnh. Tinh tấn được coi như nền tảng
cho những thực hành nhờ đó chúng ta không bị rơi vào những
cảnh giới thấp của sinh tử. Nó được coi như người tiền
trạm của mọi thiện hạnh. Nếu bạn có sự tinh tấn, mọi
nghiên cứu và thực hành của bạn sẽ thành công, bởi bạn
sẽ không có cảm giác mệt mỏi hay ngã lòng. Có nói rằng
nếu bạn được phú cho sự tinh tấn toàn thiện (tinh tấn
ba la mật), thoát khỏi bất kỳ sự ngã lòng hay khiếm khuyết
nào, thì sẽ không có nỗ lực nào mà bạn không thành công.
Trái lại, nếu bạn bị tràn ngập bởi sự lười biếng,
bạn sẽ không đạt được sự tiến bộ về trí tuệ và
trong bất kỳ thực hành nào khác. Sự thiếu tinh tấn đem
lại đọa lạc không chỉ trong đời này mà còn lâu dài về
sau.
Tinh
tấn giống như áo giáp có thể giúp bạn chịu đựng bất
kỳ hình thức đau khổ hay gian khó nào trong tiến trình làm
việc vì sự lợi lạc của người khác. Nó bảo vệ bạn
trước sự ngã lòng, suy sụp khi đối diện với những gian
khổ. Tinh tấn-giống-như-áo giáp của bạn phải đến độ
nếu như bạn phải tái sinh ở địa ngục trong vô lượng
kiếp chỉ để thực hiện những ước muốn của một người,
thì bạn sẽ sẵn sàng làm điều đó. Để thành tựu sự
tinh tấn cần thiết cho việc tích tập đức hạnh, trước
tiên bạn phải nhận diện chướng ngại của tinh tấn chính
là sự lười biếng. Có ba loại lười biếng: lười biếng
do biếng nhác, là ước muốn trì hỗn việc bạn phải làm;
lười biếng do mặc cảm thấp kém, là cảm thức không đủ
khả năng làm điều gì; và sự lười biếng dính mắc vào
các ác hạnh, hay đặt nỗ lực to lớn nơi ác hạnh. Để
chiến thắng tính lười biếng, bạn phải quán chiếu về
sự kiện thực hành Pháp có những kết quả đầy lợi
lạc. Bạn cũng phải nhìn thấy sự tai hại và vô ích khi
chỉ dấn mình vào chuyện tầm phào vô nghĩa và v.v… Chuyện
tầm phào vô nghĩa, thường xuyên phóng dật và bị thu hút
vào lối sống thế tục là những chướng ngại to lớn nhất
cho sự tiến bộ trong thực hành của chúng ta. Để chiến
thắng mặc cảm thấp kém, bạn phải suy nghĩ về sự kiện
là tất cả chư Phật trong quá khứ đã thành tựu Giác ngộ
nhờ năng lực của tinh tấn. Đầu tiên các Ngài không là
những vị Phật mà là những chúng sinh bình thường như chúng
ta. Nhưng bởi các Ngài thực hiện sự tinh tấn vĩ đại trong
việc thực hành Pháp nên các Ngài đã có thể thành tựu mục
đích sau cùng. Để chiến thắng sự thiếu xác tín của chúng
ta, ta phải nhận thức rằng để thành tựu Phật Quả, chúng
ta phải sẵn sàng thực hiện sự hy sinh nào đó. Tuy nhiên
nếu nhận ra rằng ta chưa sẵn sàng để thực hiện sự tinh
tấn như thế, chưa sẵn sàng để từ bỏ của cải của ta,
chúng ta nên nhận thức rằng sớm hay muộn, chúng ta sẽ phải
từ bỏ những của cải này và cả thân thể của ta nữa.
Chúng ta nên bố thí chúng thay vì phải từ bỏ chúng mà không
kiểm soát được vào lúc chết khi chúng không còn ý nghĩa
gì nữa. Nhờ năng lực của sự bố thí của ta, ít nhất
chúng ta có thể rút ra được một vài lợi lạc từ những
của cải. Giống như khi đau ốm, bạn phải chịu đựng những
đau đớn thể xác lúc bác sĩ tiêm thuốc cho bạn, vì thế,
bởi lợi lạc của việc chiến thắng đau khổ lớn lao –
là nỗi khó chịu của vòng sinh tử – rất cần thiết phải
chịu đựng một số những gian khổ và đau đớn thể chất
nào đó trên con đường đi tới Giác ngộ.
Chúng
ta không nên cảm thấy ngã lòng và mất can đảm bởi việc
để thành tựu sự Giác ngộ mà chúng ta phải tích tập công
đức và trí tuệ rộng lớn trong vô lượng kiếp. Mục đích
của chúng ta khi nỗ lực thành tựu sự Giác ngộ này là vì
hạnh phúc của tất cả chúng sinh. Chúng sinh thì vô biên,
và những đau khổ của họ thì vô hạn. Tiến trình làm việc
để giải thoát vô lượng chúng sinh này khỏi những đau khổ
vô cùng tận của họ bắt buộc phải là một tiến trình
dài lâu và khó nhọc. Chúng ta phải sẵn sàng để thực hiện
một vài hy sinh trong tiến trình này. Một Bồ Tát là một
bậc, do lòng tư,ø bi và nhân từ của ngài đối với tất
cả chúng sinh, không có ngay cả một sự tiếc nuối hay ngã
lòng nhỏ bé nhất khi phải đối diện với đau khổ và khó
nhọc. Chưa từng có ai thành tựu điều gì mà thiếu sự xác
tín. Trái lại, nếu chúng ta phát triển lòng can đảm và sử
dụng sự tinh tấn cần thiết, thì ngay cả lúc đầu sự việc
có vẻ phức tạp và khó khăn, cuối cùng sẽ trở nên hết
sức đơn giản và dễ dàng. Khi bạn dấn mình vào một công
việc, trước hết thật quan trọng là phải đánh giá tình
huống, phân tích nó, và xét xem bạn có thể làm việc đó
hay không. Nếu bạn thấy nó vượt quá khả năng hay năng lực
hiện tại của bạn, thì tốt hơn, nên rút lui và chờ đợi
hơn là làm việc đó dở dang. Nhưng một khi bạn đã quyết
định làm công việc đó, thì đừng làm nửa chừng; bạn
nên thực hiện công việc ấy cho tới khi hoàn thành mục đích.
Có
nói rằng để công việc bạn làm được thành công, điều
quan trọng là phải có sự xác tín. Sự xác tín này không
có bất kỳ những dính dáng tiêu cực nào; nó chỉ đơn giản
là một thứ can đảm. Sự xác tín của bạn phải đến mức
độ bạn sẵn sàng làm bất cứ điều gì một mình, không
nhờ vào sự tham dự hay giúp đỡ của những người khác.
Bạn nên nghĩ rằng tất cả chúng sinh khác, vì ảnh hưởng
của những mê lầm, không có khả năng hay năng lực để làm
việc cho chính họ. Bạn nên có sự xác tín để cảm thấy
rằng bạn đã nhìn thấy sự tai hại của những mê lầm,
rằng bạn sẽ không cho phép chính mình phải chịu ảnh hưởng
của chúng, rằng bạn có khả năng và năng lực để làm việc
vì sự lợi lạc của những người khác. Bạn nên xác quyết
không bao giờ để cho chính mình rơi vào sự thống trị của
những mê lầm nhưng luôn luôn đối diện và chống trả lại
chúng. Nếu bạn thối lui thì ngay cả tổn hại nhỏ bé nhất
cũng có thể tiêu diệt bạn. Khi một con rắn đang hấp hối
thì ngay cả những con quạ cũng xử sự như bầy kên kên.
Bạn
cũng nên nuôi dưỡng năng lực hoan hỉ. Bất kỳ khi nào bạn
thực hiện những thực hành này, điều hết sức quan trọng
là chúng phải được khả năng hoan hỉ đi kèm theo. Thái độ
hoan hỉ và vui sướng trong thực hành của bạn phải giống
như sự sung sướng khi trẻ con chơi đùa. Năng lực đem sự
hoan hỉ và sung sướng vào sự thực hành Pháp này chiến thắng
sự bằng lòng với những thành tựu nhỏ bé của bạn. Đồng
thời bạn không nên thờ ơ với năng lực thư dãn. Khi thực
hiện một sự tinh tấn trong việc thực hành và bạn cảm
thấy mệt mỏi và kiệt sức, bạn rất cần phải thư dãn
để cảm thấy bạn được làm tươi mới lại, được nạp
lại năng lực và lại sẵn sàng dấn mình vào thực hành.
Nếu không, sự kiệt sức về thể chất sẽ gây nên sự ngã
lòng. Có nói rằng khả năng tinh tấn phải giống như một
giòng sông, bền bỉ và liên tục.
Khi
thực hành năng lực tinh tấn, bạn đừng nỗ lực chỉ để
chống trả lại những yếu tố đối kháng mà bạn đang cố
gắng vượt qua, mà bạn cũng tự bảo vệ mình không mắc
phạm vào những ác hạnh khác. Ví dụ như khi bạn quan tâm
tới việc chiến thắng vô minh, và bạn tinh tấn liên tục
để nhận diện vô minh và chống trả nó, bạn có thể hoàn
toàn bỏ mặc những loại mê lầm khác, và cuối cùng tích
tập những ác hạnh khác, như tham lam. Khi một chiến sĩ đánh
rơi kiếm, người ấy lập tức nhặt nó lên không do dự.
Tương tự như vậy, khi thực hành năng lực tinh tấn, bạn
nên thực hành năng lực chánh niệm một cách bền bỉ để
đừng rơi vào ảnh hưởng của những tâm thái tiêu cực khác.
Sự chánh niệm nên được dùng làm yếu tố chính yếu để
che chở bạn khỏi những mê lầm khác trong quá trình thực
hiện sự tinh tấn, bởi ngay cả những hành động tiêu cực
nhỏ bé nhất cũng có thể có những hậu quả trầm trọng.
Khi bạn bị một mũi tên nhỏ tẩm chất độc đâm vào, vết
thương có thể rất nhỏ, nhưng chất độc lan ra toàn thân
bạn và cuối cùng giết chết bạn. Mọi tâm thái tiêu cực
đều có loại tiềm năng đó. Một số có vẻ không nghiêm
trọng gì lắm, nhưng tất cả những cảm xúc ấy đều có
loại tiềm năng này. Sự cẩn mật của bạn phải giống như
sự cẩn mật của một người bị bắt buộc để một ly
sữa trên đầu dưới sự đe dọa của cái chết nếu chỉ
làm đổ một giọt sữa. Tự nhiên là người ấy sẽ thận
trọng không để đổ sữa. Sự cẩn mật của các bạn trong
việc thực hành Pháp phải thận trọng giống như vậy. Trong
mọi tình huống điều rất quan trọng là phải ân hận về
những hành động tiêu cực của bạn đã phạm trong quá khứ
và phát triển một quyết định mạnh mẽ không đắm mình
trong chúng nữa. Điều này sẽ dùng làm một sự nhắc nhở
liên tục đừng bao giờ mất đi khả năng chánh niệm. Giống
như một chiếc lông được gió mang đi, thân tâm bạn được
giữ vững nhờ sự tinh tấn và hoan hỉ mà bạn đem vào việc
thực hành Pháp.
Thiền
định
Thiền
định là trạng thái nhất tâm tập trung vào một đối tượng
đức hạnh. Trạng thái tinh thần bình thường của chúng ta
là một sự phóng tâm. Tâm thức bình thường của chúng ta
thật khó kiểm soát và quá yếu ớt không thể thấu suốt
bản tánh của thực tại. Và điều cốt yếu là phải thấu
hiểu bản tánh của thực tại nếu chúng ta sắp giải thoát
bất cứ ai, bản thân ta hay những người khác, khỏi những
đau khổ của vòng sinh tử. Vì thế, rất cần thiết phải
phát triển tâm thức thành một khí cụ thích hợp để quán
sát thực tại, giống như một kính hiển vi mạnh mẽ. Rất
cần phát triển tâm thức thành một vũ khí chặt đứt gốc
rễ đau khổ, như một thanh gươm bén. Thiền định là sự
thực hành nhờ đó tâm thức bình thường, phóng dật, không
được chế ngự của con người được phát triển tới chỗ
nó có thể an trụ đầy năng lực, không cố gắng và nhất
tâm vào bất kỳ đối tượng nào người ta chọn lựa. Bồ
đề tâm phải là căn bản của thực hành thiền định.
Ngài
Tsong-kha-pa nói rằng tâm thức chúng ta đã chịu ảnh hưởng
của những mê lầm từ vô thủy. Chức năng của thiền định
là để kiểm soát được tâm bạn khiến bạn có thể hướng
nó về bất kỳ đối tượng đức hạnh nào bạn chọn. Cho
tới nay chúng ta vẫn chịu ảnh hưởng của tâm thức ta, và
tâm chúng ta từng chịu ảnh hưởng của những mê lầm. Bởi
thế, chúng ta đã chìm đắm trong những ác hạnh. Kết quả
là ta phải chịu đựng những đau khổ không mong muốn. Để
chấm dứt sự luẩn quẩn này của những nhân duyên gây nên
đau khổ trong vòng tái sinh, chúng ta phải chuyển hóa tâm thức
chúng ta và giành phần kiểm soát chúng. Tâm thức thì giống
như một con ngựa, phải được hướng vào những thiện hạnh
hơn là những ác hạnh. Chúng ta đừng để tâm thức chỉ
lang thang bừa bãi vào những thiện hạnh. Để sự thực hành
thiền định của bạn được hữu hiệu, bạn phải thiền
định trong một trình tự có hệ thống với một mức độ
kiểm soát. Nếu không, mặc dù lúc đầu bạn có thể ngẫu
nhiên kinh nghiệm một sự quán tưởng sống động, nhưng chừng
nào nó không được kiểm soát đúng đắn thì nó sẽ không
thật ích lợi. Bạn sẽ phát triển tập quán xấu là để
mặc cho tâm thức vơ vẩn bất kỳ nơi đâu nó muốn. Khi bạn
đạt được tiến bộ thực sự thì trái lại, bạn phải
có khả năng trụ tâm bạn ở một điểm nào đó một cách
dễ dàng không trở ngại gì. Cho tới khi bạn đạt tới giai
đoạn đó, rất cần thiết phải tuân thủ một sự liên tục
đúng đắn, giống như bạn phải đặt nền móng thực sự
cho một ngôi nhà nếu bạn sắp xây dựng những bức tường
kiên cố. Bạn nên có một chương trình ngay từ lúc bắt đầu,
và bạn sớm quyết định là bạn sẽ thực hiện thiền định
được bao nhiêu. Suốt trong sự thiền định chính yếu, bạn
phải có thể sử dụng cả sự chánh niệm lẫn nội quán
để nhìn xem tâm bạn có bị xao lãng vào những vấn đề
khác hay không. Có nói rằng vào lúc bắt đầu, tốt hơn là
bạn nên làm những thời thiền định ngắn, vì nếu thời
khóa của bạn quá dài thì sẽ có nguy cơ tâm thức rơi vào
ảnh hưởng của sự hôn trầm hay trạo cử. Nếu bạn làm
một khóa thiền định dài hai hoặc ba giờ, thì mặc dù bạn
hao tốn thời gian nhưng nếu tâm bạn không thật tập trung
và chịu sự chi phối của hôn trầm hoặc trạo cử, thì sự
thiền định của bạn sẽ không hữu hiệu như mong muốn.
Vào lúc bắt đầu, cũng cần có những thời thiền ngắn khiến
khi thiền định, bạn sẽ có sự hỉ lạc trong thời gian đó.
Trái lại, nếu bạn thực hiện một thời khóa dài và không
thấy vui thích nó, thì có nguy cơ trở nên ngã lòng. Khi lại
nhìn thấy chỗ tọa thiền của bạn, bạn sẽ cảm thấy buồn
chán hay miễn cưỡng. Tuy nhiên, nếu bạn làm những thời
thiền ngắn thì khi tiếp tục thiền định, bạn sẽ thực
sự vui thú làm điều đó, bởi ảnh hưởng của thời thiền
trước đó sẽ không bị phai lạt.
Vai
trò của giấc ngủ trong sự thực hành là gì ? Điều quan
trọng là đừng ngủ vào ban ngày hay vào lúc đầu hay cuối
của đêm. Người Tây phương có một thói quen rất kỳ lạ.
Ban đêm họ đi ngủ rất trễ và buổi sáng dậy thật muộn.
Nếu có một lý do đặc biệt để làm điều này thì đó
là vấn đề khác, còn không thì tốt hơn là nên đi ngủ sớm
và thức dậy sớm. Giấc ngủ được cho là một yếu tố
có thể chuyển hóa tâm thức. Nếu bạn có một tư tưởng
thiện lành khi rơi vào giấc ngủ, thì có nói là toàn bộ
giấc ngủ của bạn được chuyển hóa thành tư tưởng thiện
lành. Bạn phải đi ngủ trong một số giờ riêng biệt, vì
thế trước khi ngủ hãy cố gắng nuôi dưỡng một tư tưởng
thiện lành, như lòng bi mẫn; sau đó toàn bộ giấc ngủ của
bạn sẽ thiện lành. Giấc ngủ đúng đắn thực sự trợ
giúp cho thân thể bạn và duy trì sức khỏe thể chất của
bạn, nó sẽ giúp đỡ bạn trong sự thực hành tâm linh. Nếu
bạn theo tục lệ Ấn Độ, bạn nên rửa chân rồi đi ngủ.
Tôi không biết nhiều Đạo sư Tây Tạng có làm theo thực
hành này không vì trời lạnh. Có nói là ta nên ngủ như một
con sư tử, nằm nghiêng về bên phải. Ngủ trong tư thế này
được nói là có nhiều thuận lợi, ví dụ như thân thể
bạn sẽ không thư dãn thái quá; mặc dù ngủ bạn sẽ không
mất năng lực chánh niệm; bạn sẽ không rơi vào giấc ngủ
quá say, và không có những giấc mơ xấu.
Khi
đi ngủ, bạn nên cố gắng tưởng tượng một thị kiến
chói sáng khiến bạn sẽ không bị lệ thuộc vào bóng tối
vô minh khi bạn ngủ. Bạn cũng nên có chánh niệm và sự nội
quán và ước muốn thức dậy sớm. Hãy giữ chánh niệm trước
khi đi ngủ, nhớ lại những hoạt động trong ngày hay đi vào
những thiền định của bạn bằng tâm thức. Nếu bạn thành
công trong việc đó thì ngay cả khi ngủ bạn cũng không mất
sự kiểm soát. Giấc ngủ của bạn sẽ không chỉ thiện lành,
nó cũng có thể có những tư tưởng tốt. Khi thức dậy, tâm
bạn sẽ tỉnh táo, nhưng vì những ý thức giác quan chưa lấy
lại được năng lực của chúng, đôi khi bạn có thể có
một tâm thái hết sức sáng suốt. Nếu bạn có thể dùng
nó cho những thực hành phân tích thì nó thực sự rất có
năng lực. Vì thế bạn nên có ý định thức dậy vào một
giờ nào đó và ngủ nhẹ nhàng, như loài vật ngủ. Nhờ sức
mạnh của ý muốn đó, bạn sẽ có thể thức dậy như bạn
dự định. Ngài Tsong-kha-pa nói rằng nếu bạn có thể sử
dụng những hoạt động ăn và ngủ một cách đúng đắn,
bạn có thể xoay chuyển chúng theo một chiều hướng tốt
lành và nhiều ác hạnh sẽ được ngăn ngừa.
Ngài
Tsong-kha-pa nói rằng rất cần thiết phải nhận thức rằng
thiền định có hai loại, là thiền định làm kiên cố (chỉ)
và thiền định phân tích (quán), và sự áp dụng khéo léo
năng lực phân tích của tâm thức thì rất quan trọng. Ví
dụ như để làm vật dụng bằng bạc và vàng, trước tiên,
những người thợ vàng, thợ bạc đốt nóng, rửa sạch, lau
chùi nó và làm mọi loại công việc nhờ đó họ có thể
dùng nó để làm đồ trang sức bất kỳ hình dạng nào. Tương
tự như vậy, để chiến thắng được những mê lầm chính
và thứ yếu, trước tiên, rất cần phải quán chiếu về
những khiếm khuyết và bản chất hủy hoại của những mê
lầm và việc chúng gây nên hành động tiêu cực như thế
nào – như một hậu quả của hành động này, người ta quay
cuồng ra sao trong vòng tái sinh. Tất cả những điều này phải
được thấu hiểu nhờ áp dụng năng lực phân tích của trí
tuệ, và chỉ lúc ấy người ta mới có thể hy vọng thành
tựu sự cam kết dấn mình vào thực hành của con đường.
Tất cả những tiến trình phân tích này giống như những
chuẩn bị để sửa soạn cho tâm thức nhận được lợi lạc
từ sự đột phá mạnh mẽ của thiền định. Khi đã đặt
nền móng đúng đắn và làm cho tâm thức bạn trở nên phong
phú nhờ những tiến trình phân tích như vậy, bạn có thể
thực hành bất kỳ sự thiền định nào, dù nó liên quan tới
thiền định an định hay quán chiếu.
Khi
thực hành thiền định, chúng ta nên có một mục đích; ta
cần tinh tấn. Tinh tấn đó được phát triển nhờ nhìn thấy
một mục đích, và mục đích việc thiền định của chúng
ta phải được hiểu rõ. Bạn càng hiểu rõ mục đích thì
bạn sẽ càng gắn bó với việc thiền định. Ngài Tsong-kha-pa
nói rằng mọi Kinh điển có thành sự chỉ dạy riêng hay không
thì tùy thuộc rất nhiều vào việc bạn có thể nhận ra hay
không sự cần thiết và quan trọng của sự thiền định phân
tích lẫn định tĩnh Ngài nói rằng thật đáng buồn là không
phải chỉ có những người không học tập đúng đắn, mà
ngay cả những người đã có một nghiên cứu rộng lớn, khi
thực sự đi vào thực hành nghiêm ngặt, họ lại loại bỏ
tất cả các nghiên cứu của mình và bằng lòng với độc
nhất sự vô niệm đơn thuần. Điều đó thật đáng buồn.
Nếu bạn không nỗ lực khai phá khả năng phân tích của tâm
thức mà vẫn chỉ miệt mài bền bỉ trong thiền định định
tĩnh, chỉ duy trì sự vô niệm, bạn sẽ trở nên càng lúc
càng kém thông tuệ, và trí tuệ phân biện giữa đúng và
sai sẽ suy giảm. Điều này thì rất nguy hiểm.
Trí
tuệ
Trí
tuệ phân tích bản tánh của các hiện tượng. Có nhiều loại
trí tuệ khác nhau, như năm ngành học (ngũ minh): nội minh thuộc
tôn giáo và bốn ngoại minh là luận lý, y khoa, văn phạm,
và các nghệ thuật. Ở đây tôi đề cập tới nội minh. Hình
thái trí tuệ này là nền tảng của mọi phẩm tính tốt đẹp.
Không có sự dẫn dắt của trí tuệ, tất cả những toàn
thiện (ba la mật) khác, như bố thí và giới hạnh, sẽ giống
như một nhóm người không có người chỉ huy. Sự thực hành
những toàn thiện khác không có năng lực của trí tuệ sẽ
không đưa tới mục đích mong muốn, tức là đến sự thành
tựu giác ngộ. So sánh với những khả năng khác như đức
tin, chánh niệm, tinh tấn và v.v…, trí tuệ được cho là
còn quan trọng hơn nữa vì chỉ nhờ sức mạnh của trí tuệ,
khi được phụ trợ bởi những khả năng khác, người ta có
thể thực sự đánh bại thế lực của những mê lầm. Những
toàn thiện khác như bố thí và giới hạnh thì tùy thuộc
rất nhiều vào sự thấu suốt của trí tuệ.
Năng
lực của trí tuệ thì giống như năng lực của một vị vua
đầy quyền lực. Khi ngài được trợ giúp bởi những vị
thượng thư thật khéo léo và thông minh, ngài sẽ không làm
bất kỳ điều gì sai lầm. Cũng thế, những tình huống dường
như mâu thuẫn, như có lòng từ bi rất mãnh liệt mà vẫn
không bị ô nhiễm bởi sự tham luyến và dục vọng, là do
ảnh hưởng của trí tuệ. Với trí tuệ, mặc dù bạn phát
triển lòng từ bi mạnh mẽ đối với những người khác,
bạn sẽ không bao giờ có lòng ham muốn và bám luyến đối
với họ. Nếu bạn có năng lực trí tuệ, bạn sẽ không rơi
vào một quan điểm triết học cực đoan về sự thường hằng
hay hư vô (chấp không).
Chướng
ngại của trí tuệ là vô minh, và nguyên nhân khiến tăng trưởng
và phát triển vô minh là sự thường xuyên đắm mình trong
những hoạt động vô ích, như lười biếng và ngủ quá nhiều.
Vô minh cũng phát sinh từ sự không có được hỉ hay lạc
trong năng lực của trí tuệ. Phương pháp để chiến thắng
vô minh này là tăng trưởng sự hiểu biết của bạn qua sự
nghiên cứu. Đối với những người hiểu được lợi lạc
trong sự thực hành Pháp, điều quan trọng là nhận thức được
rằng trí tuệ phân biện bản tánh của các hiện tượng là
nguyên nhân cốt yếu để thành tựu Giác ngộ. Nếu người
nào chỉ quan tâm tới giáo lý mà không thực hành, không cần
thâu đạt một sự hiểu biết rộng lớn; nhưng thay vì giảng
dạy sự hiểu biết đó, sẽ lợi lạc hơn nữa nếu những
người như vậy giữ sự im lặng. Đối với một hành giả
nghiêm túc, cả sự nghiên cứu lẫn suy niệm đều hết sức
quan trọng. Sự tiến bộ bạn có được trong sự thực hành
nên tương ứng với sự tăng tiến trong việc hiểu biết Giáo
Pháp của bạn. Khi đã có đời người quý báu được phú
cho một bộ óc tinh vi này, chúng ta phải sử dụng những phẩm
tính đặc biệt của nó và áp dụng năng lực duy nhất mà
ta đã được phú tặng cho, đó là năng lực phân biện giữa
đúng và sai. Điều này được thực hiện nhờ sự tăng trưởng
nhận thức của chúng ta. Bạn càng tăng trưởng sự hiểu
biết, thì nhận thức của bạn càng hoàn hảo hơn. Khi bạn
làm việc cho sự thành tựu trí tuệ, điều tối quan trọng
là đừng bao giờ cách ly sự thực hành trí tuệ của bạn
với những toàn thiện (ba la mật) khác. Chúng ta có thể rút
ra được niềm hứng khởi từ chính gương mẫu của Đức
Phật. Trước tiên, Ngài trải qua những khổ hạnh dữ dội
và chịu đựng những gian khổ to lớn trong tiến trình của
con đường. Cuối cùng, dưới gốc cây Bồ đề, Ngài đạt
được Giác ngộ và giảng dạy cho những người khác những
gì bản thân Ngài đã chứng ngộ. Mặc dù ban đầu đối với
chúng ta sẽ rất khó khăn khi đi sâu vào thực hành sáu toàn
thiện, trước hết, điều quan trọng là phát triển lòng ngưỡng
mộ đối với sáu toàn thiện và tăng trưởng nhận thức
của ta về chúng. Cuối cùng, điều này sẽ đưa chúng ta tới
sự thực hành đích thực, khiến ta có thể tìm thấy tìm
thấy sự giải thoát khỏi những khó khăn nhọc nhằn của
luân hồi sinh tử và hưởng thọ niềm an lạc của sự Toàn
Giác.
TÂM
LINH CHO MỘT THẾ GIỚI
TỐT
ĐẸP HƠN
Làm
quân bình tiến bộ vật chất với sự phát triển nội tâm
để
đạt được thành công đích thực
KHI
THIÊN NIÊN Kỷ MớI đến gần, thế giới chúng ta đòi hỏi
ta chấp nhận tính chất nhất thể của nhân loại. Trong quá
khứ, các cộng đồng cô lập có thể có đủ điều kiện
để cho rằng mình là một cái gì riêng rẽ tự nền tảng.
Một số cộng đồng lại còn tồn tại trong sự hoàn toàn
cô lập. Nhưng ngày nay, bất kỳ điều gì xảy ra trong một
miền đất thì cuối cùng đều ảnh hưởng đến nhiều khu
vực khác. Trong phạm vi của sự tương thuộc mới mẻ này,
sự tự-lợi rõ ràng nằm ở việc quan tâm đến các lợi
lạc của người khác.
Nhiều
vấn đề và xung đột của thế giới phát sinh do bởi chúng
ta đánh mất thị kiến rằng nhân loại là cái gì ràng buộc
chúng ta lại với nhau như một gia đình. Chúng ta quên rằng
mặc dầu sự đa tạp về giòng giống, tôn giáo và hệ tư
tưởng, con người cùng chia xẻ một ước muốn căn bản là
có sự an bình và hạnh phúc. Tuy nhiên, những điều này sẽ
không được thành tựu bằng cách nói hay nghĩ về chúng, cũng
không bằng cách chờ đợi ai khác hành động. Trong lãnh vực
hoạt động của ta, mỗi người chúng ta phải nhận lãnh trách
nhiệm trong khả năng tốt nhất mà ta có thể trong việc sử
dụng trí tuệ vô song của ta để nỗ lực hiểu biết chính
mình và thế giới của chúng ta.
Tôi
tin rằng mục đích của cuộc đời là sống hạnh phúc. Từ
sâu thẳm con người chúng ta, chúng ta ước muốn hạnh phúc.
Trong kinh nghiệm riêng, tôi nhận ra rằng càng quan tâm tới
hạnh phúc của người khác thì cảm nhận của riêng ta về
hạnh phúc càng lớn. Việc nuôi dưỡng một tình cảm nồng
ấm đối với người khác sẽ tự nhiên làm cho tâm thức
thoải mái. Nó giúp quét sạch các nỗi sợ hay bất an và ban
cho ta sức mạnh để đương đầu với các trở ngại. Vì
chúng ta không chỉ là các sinh vật có tính cách vật chất,
nên là sai lầm khi đặt toàn bộ các hy vọng về hạnh phúc
của ta ở sự phát triển bên ngoài. Bí quyết là cần phát
triển sự an bình nội tâm.
Chúng
ta cần dấn mình vào công việc khó khăn là phát triển lòng
từ và bi trong bản thân ta. Tự bản chất, lòng bi thì an bình
và dịu dàng, nhưng nó cũng rất mạnh mẽ. Một vài người
có thể gạt bỏ nó như cái gì thiếu thực tiễn và viển
vông, nhưng tôi tin rằng việc thực hành lòng bi mẫn là căn
nguyên đích thực của sự thành công – một dấu hiệu của
sức mạnh nội tại. Để thành tựu lòng bi mẫn, chúng ta
không cần thiết phải trở nên có tính chất tôn giáo hay
ý thức hệ. Chúng ta chỉ cần phát triển các nhân tính căn
bản của mình.
Ngày
nay, các tín đồ của nhiều đức tin hy sinh hạnh phúc của
riêng họ trong việc phụng sự người khác. Các truyền thống
tôn giáo khác nhau rõ ràng có sự ràng buộc giống nhau này
cũng như có một ý thức trách nhiệm có tính chất thế giới.
Tôi tin chắc rằng lòng vị tha này là mục đích quan trọng
nhất của toàn thể thực hành tôn giáo. Con người có những
khí chất và sự quan tâm khác nhau và vì thế các truyền thống
tôn giáo chú trọng tới những triết học và thực hành khác
nhau là điều không thể tránh được. Vì cốt lõi của chúng
ta là để thành tựu lợi ích cá nhân và tập thể, nên điều
thiết yếu là ta phải duy trì sự hài hòa và kính trọng giữa
chúng. Điều này sẽ không chỉ lợi lạc cho các tín đồ
của đức tin riêng ta mà còn tạo nên bầu không khí an bình
trong xã hội.
Trong
thế giới hiện nay, không có nhiều sự quan tâm tới các giá
trị nhân loại. Tiền bạc và quyền lực đã thống trị mạnh
mẽ. Nếu xã hội đánh mất các giá trị của sự công chính,
lòng bi mẫn và sự trung thực thì chúng ta sẽ còn đối diện
với các khó khăn to lớn hơn. Một vài người có thể cho
rằng không thực sự cần đến các đạo đức như thế trong
thương mại hay chính trị. Tôi hoàn toàn không đồng ý. Phẩm
chất các hành động của ta tùy thuộc ở động cơ của chúng
ta. Theo quan điểm Phật giáo của tôi, mọi sự bắt nguồn
từ tâm thức. Bí quyết là một nhận thức sâu sắc đích
thực về nhân loại về lòng bi mẫn và từ ái. Một khi chúng
ta phát triển một trái tim tốt lành, vị tha – dù trong khoa
học, nông nghiệp hay chính trị – kết quả sẽ còn lợi
lạc hơn nữa.
Với
động cơ đúng đắn, các hoạt động này có thể giúp ích
cho nhân loại; không có nó, các hoạt động sẽ đi theo chiều
hướng khác. Đây là lý do tại sao tư tưởng bi mẫn rất
quan trọng đối với nhân loại. Mặc dù không dễ dàng đem
lại sự chuyển hóa nội tại khiến phát sinh lòng bi mẫn,
một cách tuyệt đối, nó đáng để ta nỗ lực.
Chúng
ta cố gắng để cải thiện tiêu chuẩn sống của ta, đó
là điều tự nhiên, nhưng không phải với bất cứ giá nào.
Càng đeo đuổi sự lợi lạc và cải thiện vật chất mà
không biết rằng sự hài lòng đến từ sự phát triển nội
tâm, các giá trị sẽ biến mất khỏi cộng đồng của ta.
Khi sự công chính và trung thực không có chỗ trong trái tim
mỗi người thì suy nhược là điều đầu tiên phải gánh
chịu. Hậu quả là sự oán hận dẫn đến nỗi bất hạnh
cho mọi người. Chúng ta phải làm quân bình sự tiến bộ
vật chất với ý thức trách nhiệm là kết quả của sự
giáo dục và phát triển nội tâm.
Chúng
ta có thể đối diện với các trở ngại khi theo đuổi các
mục đích của ta. Nếu chúng ta cứ thụ động, không chút
nỗ lực để giải quyết các vấn đề thì không sự chuyển
hóa tốt đẹp hơn nào có thể được thành tựu. Việc chuyển
hóa các trở ngại thành những cơ hội cho sự phát triển
tích cực là một thách thức đối với sự chân thật của
ta. Nó đòi hỏi sự kiên nhẫn, lòng từ bi và việc sử dụng
trí thông minh của chúng ta. Không biết đến các cơ hội như
thế là làm uổng phí năng lực con người của ta. Cực kỳ
quan trọng là nhận thức rằng càng gặp sự khủng hoảng
trầm trọng thì ta càng cần kiên nhẫn lớn lao hơn. Trên tất
cả, chúng ta không được đánh mất sự quyết tâm của mình.
Đây
là một thế kỷ bị hư hỏng bởi xung đột và chiến tranh.
Giờ đây chúng ta hãy bước đi để bảo đảm rằng thế
kỷ đang tới sẽ được đặc trưng bởi sự bất bạo động
và đối thoại, là các điều kiện tiên quyết của sự cộng-sinh
hòa bình. Trong bất kỳ xã hội nào cũng sẽ có các dị biệt
và mâu thuẫn, nhưng chúng ta phải phát triển đức tin rằng
sự đối thoại và tình bằng hữu là một chọn lựa có giá
trị đối với sự bạo động. Điều tất cả chúng ta cần
khi tiếp cận thiên niên kỷ mới này là một ý thức được
nâng cao về trách nhiệm toàn cầu.
Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14
(Trích Tạp chí Asiaweek)