THANH
TẨY
CON
ĐƯỜNG SONG SONG VỚI THIỀN ĐỊNH
Trong
lễ điểm đạo, vị thầy thường kêu gọi những nguồn lực
tâm linh, những nguồn đại lạc và trí tuệ trong vũ trụ,
được thị hiện như những vị thần linh, trong trường hợp
này là Heruka Vajrasattva (Ngài Kim Cang Tát Đỏa). Nguồn năng
lực này kích động nguồn năng lực sẵn tiềm ẩn trong hệ
thống thần kinh của người học trò, bây giờ được đánh
thức dậy và bắt đầu rung động. Nếu học trò đã sẵn
có một tâm từ bi và một tâm rỗng lặng, cùng tụng niệm
những câu mật chú của Vajrasattva thì người học trò sẽ
nhận lãnh và nuôi dưỡng được những rung động từ vị
thầy. Rồi nếu, qua thời gian tu tập, người học trò
phát triển tâm thanh tịnh, xa lánh những dòng đời mờ tối,
những lối sống không tỉnh thức, thì sự an lạc nội tâm
sẽ từ từ khởi phát một cách tự nhiên.
Nhưng,
một lời cảnh cáo cho những bậc thức giả, những người
chỉ muốn nghiên cứu mật tông để thoả mãn trí thông minh,
nếu qúy vị chỉ tự đọc những lời dạy bảo của mật
tông mà không lãnh nhận một sự điểm đạo, quán đảnh
nào thì sẽ chẳng được ích lợi gì. Chỉ khi nào qúy vị
được hướng dẫn bởi một vị chân tu đầy kinh nghiệm
tâm linh thì qúy vị mới có thể bước vào lãnh vực này
mà không cần một sự thông minh, không cần một định thức
suy tưởng nào, để hòa nhập vào con đường chân hạnh phúc,
con đường an nhiên tự tại. Tôi không muốn huyền bí hóa
hay độc đoán trong vấn đề này, nói một cách rất thành
thực là nếu qúy vị nghĩ như thế nào thì qúy vị chỉ có
thể hiểu được như vậy, qúy vị hãy tự kinh nghiệm lấy!
Phương pháp tu tập Hòa Nhập của Mật Tông (Tantric Yoga - Mật
tông Du gìa) không đến từ sự đọc một vài cuốn sách,
đọc sách chỉ cho chúng ta một sự hiểu biết rỗng tuếch,
như một bệnh nhân uống lại cùng một thứ thuốc mà họ
nghĩ rằng căn bệnh này cũng giống như căn bệnh cũ.
Phương
pháp Heruka Vajrasattva Yoga (hòa nhập vào Kim Cang Tát Đỏa) chỉ
được thực hành khi đã được dạy bảo và được điểm
đạo bởi một vị thầy kim cang. Vì thế những lời dạy
bảo viết ra ở đây là một cơ hội vô cùng tốt đẹp cho
chúng ta đọc trước khi thật sự đi vào con đường này.
Nếu không hiểu như vậy thì những lời trình bày ở đây
chỉ là những lời khô cằn không có một chút lợi ích gì.
Dharmavajra,
một vị đại hành gỉa Tây Tạng, nhận xét rằng trong truyền
thống Gelug của Phật giáo Tây Tạng phương pháp Heruka Vajrasattva
Yoga là một phương pháp tối thượng và độc đáo. Theo phương
pháp này chúng ta có thể đạt giác ngộ ngay trong đời hiện
tại, như trường hợp của Lạt ma Tsong Khapa chỉ có ba năm.
Dĩ nhiên, lời dạy bảo tối thượng này đã không được
phổ biến thành sách vở nhưng nó vẫn tồn tại trong tâm
của những vị hành giả mật tông. Phật pháp chỉ được
truyền từ tâm qua tâm giữa thầy và trò. Một số người
tin rằng phương pháp này hiện nay vẫn được truyền dạy
trong tông phái Gelug ở Tây Tạng.
Theo
truyền thống thì tất cả những vị hành gỉa Tây Tạng đều
mong muốn biến chuyển phương pháp Heruka Vajrasattva thành kinh
nghiệm sống thực trong đời sống hằng ngày. Trước khi chúng
ta thực sự thực hành, phát triển và hoàn thành con đường
tu tập, chúng ta cần phải thanh tẩy thân khẩu và ý qua phương
pháp tối thượng này. Sau khi lãnh nhận sự điểm đạo, chúng
ta bước chân vào sự tu tập bằng cách tụng niệm hàng ngày
bách tự mật chú Vajrasattva thì con đường tu tập của chúng
ta sẽ có kết qủa hơn. Nếu chúng ta chỉ để hết tâm trí
vào việc thiền định và mong cầu giác ngộ mà không lo thanh
tẩy những thói quen, nghiệp chướng của thân khẩu và ý
thì ta sẽ chẳng đạt được một kết qủa nào, vì trong
tâm ta vẫn còn qúa nhiều vướng víu chướng ngại.
Do
đó, ta nên bước từng bước một trên con đường thiền
định bằng cách thanh lọc cả thân và tâm. Ngay cả khi ta
đang áp dụng phương pháp thiền quán là cố gắng tập trung
vào một điểm (nhất tâm) mà không lo thanh tẩy trước thì
đây cũng là một nguyên nhân làm ta chán nản và sẽ không
còn chút hy vọng tiến triển nào. Vì ta không nhận ra được
những chướng ngại đã tồn tại lâu đời trong thân khẩu
và ý của ta.
Một
số người khi bước chân vào con đường thiền định đã
bị hướng dẫn sai lầm, họ cố gắng thu thập kinh nghiệm
về không tánh bằng cách từ bỏ, buông bỏ, vất bỏ những
hiện tượng hiện có, những gía trị hiện có vì họ cho
rằng không tánh là một gía trị nào đó của cái không có
gì, của cái không là gì. Nếu ta thực sự muốn kinh nghiệm
không tánh, ví dụ theo lối Madhyamaka (Trung Đạo) hoặc trường
phái Zen (Thiền) trong Phật giáo, thì ta cũng vẫn cần
phải dùng cả hai: phương pháp và trí tuệ. Rất nhiều người
mong muốn đạt giác ngộ ngay nhưng chẳng ai muốn dùng phương
tiện để đi, họ giống như những con chim đang bay bằng đôi
cánh gẫy.
Khi
nào ta gặp phải những chướng ngại trong lúc thực tập,
đừng thất vọng, đừng nản chí. Thay vì chán nản, ta nên
hiểu rằng ta cần phải thanh lọc con người ta và tập trung
nhiều hơn vào phương pháp tu tập thay vì chỉ mong muốn đạt
giác ngộ. Dần dần ta sẽ tiến bộ hơn trên con đường ta
đang tìm kiếm.
Tại
Sao Cần Thanh Tẩy ?
Thanh
Tẩy Như Thế nào ?
Bài
học này có là do lời yêu cầu của qúy vị, chứ không phải
tự nhiên tôi kêu gọi qúy vị đến đây; trên con đường
tu tập từng bước một đến giác ngộ, ta cần phải hiểu
sức mạnh của tâm và sự tạo ra những hành động tốt xấu
của nó như thế nào. Theo kinh nghiệm, khi quan sát đời sống
ta sẽ nhìn thấy những hành động tự nhiên của thân khẩu
và ý. Như vậy, với sự thúc đẩy của lương tri, chúng ta
đã yêu cầu có bài học này để có thể thanh tẩy những
nghiệp lực xấu đang hiện có trong chúng ta.
Cái
lối yêu cầu có bài học này của qúy vị rất là hay. Đặt
trên căn bản hiểu biết của qúy vị về đặc tính của
một cái tâm xấu thì sự yêu cầu này không thể đến từ
sự vô minh hay từ một cảm hứng nào. Vì điểm tốt lành
và sự thông minh đó mà qúy vị có thể thực hành phương
pháp thiền này để phá vỡ hoàn toàn những năng lực xấu
đã tồn trữ trong con người của qúy vị, tôi có cảm tưởng
là bài học này sẽ đem đến cho qúy vị những ơn ích vĩ
đại.
Trước
hết, chúng ta phải nhìn nhận chúng ta rất là may mắn khi
chúng ta biết chắc chắn rằng tất cả những nghiệp lực
xấu đều khởi phát từ tâm vô minh. Hầu như tất cả mọi
người đều không ý thức và không hiểu nghiệp được tạo
ra như thế nào, cũng không hiểu thế nào là sự khác biệt
giữa một hành động xấu và một hành động tốt và những
hậu quả hạnh phúc hay đau khổ mà nó đem lại. Qúy vị đã
biết tất cả những điều này, đó là lý do tại sao qúy
vị là những người may mắn. Ngay cả những người đã khám
phá ra điều này, cũng rất khó mà tìm ra được một phương
pháp để tẩy rửa hoàn toàn nghiêïp lực hầu thoát ra khỏi
vòng cương tỏa của luật nhân quả. Điều này không phải
dễ, nó cần một thời gian rất dài. Thật là may mắn cho
chúng ta khi biết được một phương pháp tuyệt hảo để
thanh tẩy toàn diện thân và tâm.
Càng
may mắn hơn nữa vì chúng ta sẽ có được một phương tiện
tối thiện xảo của mật tông. Được phương tiện này vô
cùng khó. Tại sao khó? Vì như những người Tây phương lần
đầu tiên tiếp xúc với Phật giáo họ không hiểu mục đích
của sự quỳ lạy nên đã thốt ra câu: “ Tại sao phải quỳ
lạy? Xin lỗi, không phải cho tôi !” Quỳ lạy là một điều
quá ư là đơn giản, quá dễ hiểu! Phương pháp này vô cùng
sâu thẳm và đầy sức mạnh để giúp chúng ta thực hành
công việc thanh tẩy toàn thể con người chúng ta (quỳ lạy
để đối trị tính ngạo mạn, kiêu ngạo, cái tôi -Dg).
Nói
một cách khác, khi chúng ta thiền định theo phương pháp Lamrim
từng bước một (Lamrim -con đường tuần tự từng bước
một đưa đến giải thoát và giác ngộ, còn được gọi là
Tiệm Tu -Dg) chúng ta thường gặp rất nhiều chướng ngại.
Chúng ta không thể hiểu được tại sao thiền định lại
qúa khó khăn. Tại sao khó kiểm soát tâm, tại sao khó đạt
giác ngộ, tại sao tôi gặp qúa nhiều trở ngại khi muốn
làm một vài điều tốt? Chỉ huy một công việc trần gian
thì sao qúa dễ mà chỉ thiền một chút thôi thì qúa khó?
Điều
này không có nghĩa là ta thiếu vắng niềm an lạc. Nó chỉ
có nghĩa là từ vô lượng kiếp ta đã tích tụ biết bao nghiệp
xấu qua thân khẩu và ý đến nỗi bây giờ ta như bị chìm
lặn trong biển khổ. Nếu những nghiệp chướng đó được
thị hiện ra bằng hình tướng, ta sẽ thấy nó dầy đặc
cả không gian. Nếu ta không có một chút trí tuệ nào hoặc
trí tuệ qúa yếu kém như một ngọn đèn leo lét thì làm sao
có thể soi chiếu vào đêm đen lồng lộng gío.
Ngọn
đèn trí tuệ qúa yếu ớt đó không đủ để soi đường
dẫn lối, không đủ để lôi kéo ta ra khỏi biển trầm luân
của nghiệp lực. Vì thế, những năng lực của những ý niệm
sai lầm, của ác tâm đã gây trở ngại cho ta trên con đường
giải thoát và giác ngộ rất nhiều. Do đó, ta cần có một
sức mạnh của sự thực hành tẩy rửa, bằng phương pháp
Heruka Vajrasattva Yoga, để có thể phá hủy tận gốc rễ những
nguồn năng lượng vô minh và những hành động xấu của thân
khẩu và ý.
Phương
pháp Heruka Vajrasattva Yoga có một nguồn năng lực vô biên để
thanh lọc tất cả những nghiệp lực xấu, đó là những chướng
ngại chính trên con đường tu tập. Những nguồn năng lực
không trong sạch đã ảnh hưởng và để lại những dấu ấn
đau khổ trên thân xác và tâm hồn chúng ta. Một cách triết
lý hơn, chúng ta có thể nói rằng những nghiệp lực này chẳng
phải ở bên trong (nội tâm) cũng chẳng phải từ bên ngoài
(ngoại cảnh). Nếu chúng ta muốn nghiên cứu thêm, chúng ta
có thể trở lại vấn đề này trong một dịp khác. Lý do
mà tôi muốn nêu nó ra đây là vì khi tôi đề cập đến điều
xấu, điều tiêu cực, tôi có ý nói nó khác với lối hiểu
biết thông thường của phần đông những người Tây phương
thường nghĩ nó là những cảm xúc, nhưng thực ra nó có một
ý nghĩa sâu xa hơn, một tầm mức rộng lớn hơn nhiều.
Hãy
lấy một ví dụ về thể xác của chúng ta, lần đầu tiên
người ta đến với những lớp thiền, họ có một trở ngại
rất lớn trong vấn đề ngồi thiền, vì hệ thần kinh kéo
nguồn năng lượng xuống chỗ tận cùng của xương sống.
Sở dĩ chúng tôi khuyên nên ngồi bắt chéo chân và thẳng
lưng là vì khi chúng ta ngồi thẳng lưng thì những nguồn năng
lượng tâm linh trôi chảy dễ hơn nên chúng ta dễ dàng kiểm
soát được tâm của chúng ta. Tuy nhiên, sự thay đổi trong
hệ thần kinh làm chúng ta có cảm tưởng rằng nguồn năng
lượng tâm linh tuôn chảy từ luân xa đỉnh đầu (luân xa
7) xuống luân xa địa đại (luân xa 1). Điều này làm cho một
số người lầm tưởng họ bị hụt hẫng, bị mất kiểm
soát. Những người mới học không những chỉ gặp khó khăn
trong cách ngồi mà còn gặp trở ngại trong vấn đề tập
trung tư tưởng lâu dài để nghe những bài học mới. Đây
là điều vô cùng khó khăn. Những khó khăn của thể xác và
tâm hồn thực sự làm những người này thắc mắc và ngạc
nhiên tại sao họ lại phải ngồi ở đây trên trái đất.
Cái
áp lực ở luân xa địa đại là do nguồn năng lực âm của
cơ thể, chúng xuất phát từ những tâm ý xấu. Trong truyền
thống Đại thừa Phật giáo, chúng tôi không để ý nhiều
đến sự phản ứng của cơ thể mà chúng tôi chú ý nhiều
hơn đến những nguyên nhân của vấn đề, của vô minh, của
nghiệp.
Trên
con đường thiền định từng bước một đi đến giải thoát,
một khi ta không thể ngồi thiền - vì quá nhiều trở ngại
- ta hãy nhớ rằng ta có một phương pháp tuyệt diệu để
hóa giải những chướng ngại này, đó là phương pháp tẩy
lọc thân tâm. Theo kinh nghiệm của các vị Lạt ma Tây tạng,
con đường thiền định phải đi đôi với việc thanh tẩy,
như phương pháp Heruka Vajrasattva Yoga. Thực tập hai việc cùng
một lúc sẽ giúp ta đạt được kết quả mong muốn mà không
một chút ngăn ngại nào.
Nhưng
cũng đừng hy vọng một điều không thực tế: “ Ngày hôm
nay tôi xấu, tối nay tôi thiền là ngày mai tôi sẽ hoàn toàn
trong sạch.” Chúng ta không thể thanh lọc nội trong một
đêm. Đây không chỉ là một điều hy vọng sai mà chính sự
mong cầu này đã trở nên một chướng ngại! Một điều quan
trọng là trong khi tu tập chúng ta không nên chờ đợi bất
cứ một điều gì (càng mong cầu càng gặp ma chướng - Dg)
Hãy nghỉ ngơi, hãy nới lỏng, hãy cởi mở, hãy buông thả,
hãy thoải mái ! Hãy luôn luôn nghĩ tới điều này là chúng
ta nên cố gắng, cố gắng và cố gắng. Nếu chúng ta làm
được như vậy, chắc chắn kết quả tốt sẽ đến mặc
dù chúng ta mong cầu hay chẳng mong cầu. Chúng ta không nên
tiếp tục hỏi hoặc yêu cầu vị thầy cho một điều tiên
đoán: “ Nếu con kiểm soát được thân khẩu ý, không làm
những điều xấu mà chỉ làm những điều tốt thì con có
đạt được kết quả ngay không ?” Có rất nhiều người
đã đặt ra vấn đề này. Tại sao? Vì họ không hiểu một
chút gì về nghiệp ! Nếu lúc nào ta cũng hành động khôn
ngoan, luôn luôn thực hiện điều tốt lành thì cần gì phải
hỏi, phải không quý vị?
Chỉ
nên nghĩ : “ Từ bây giờ đến lúc chết, dù có giác ngộ
hay không, tôi luôn luôn thực hiện những điều tốt lành
mà tôi có thể thực hiện được, tôi sẽ cố gắng sống
hữu ích cho chính tôi và cho những người khác.” Chúng ta
còn hy vọng gì nữa? Chỉ mong muốn và thực hiện một điều
đó thôi cũng đạt đạo rồi còn đòi hỏi chi: “ Nếu thiền
định một tháng, tôi sẽ trở thành Heruka Vajrasattva.” Điều
này chỉ thêm ràng buộc mà thôi.
Mặc
dù trong cuộc sống chúng ta sẽ tạo thêm rất nhiều nghiệp
mới nhưng niềm an lạc lúc lâm chung sẽ bảo đảm chúng ta
không phải tái sinh vào một kiếp thấp hơn kiếp hiện tại.
Chắc chắn chúng ta sẽ nhận được sự bảo đảm này nếu
chúng ta cố gắng tu tập và thanh lọc những nghiệp xấu đã
làm. Không phải như những lời bảo đảm của trần gian,
đây là sự bảo đảm của tâm linh. Trên đời này, mọi sự
việc luôn luôn đổi thay, chúng ta không thể tin vào nhữngï
đổi thay đó, chỉ là một mớ giấy! Sự bảo đảm của
nội tâm cho chúng ta một sự an bình thật và trong lúc chết
chúng ta sẽ kiểm soát được thân tâm để không bị ảnh
hưởng xấu của tham sân si lôi kéo.
Để
có được kết qủa tốt trong thiền định, điều quan trọng
là chúng ta hãy thực tập ngay phương pháp thanh tẩy Heruka
Vajrasatta Yoga. Tất cả các vị Lạt ma đều nhận định rằng
đây là một phương pháp tuyệt diệu để tiêu trừ các chướng
ngại và những dấu ấn khổ đau mà nghiệp đã mang lại.
Trong
khi những phương pháp Vajrasattva khác chỉ chú trọng vào việc
thanh tẩy thân xác, thì phương pháp Heruka Vajrasattva Yoga lại
đặc biệt chú trọng đến việc thanh tẩy tâm linh. Đó là
tất cả sức mạnh của nó !
Bốn
sức mạnh đối nghịch
Diệu
pháp Heruka Vajrasattva được chia làm 3 phần: qui y, phát tâm
bồ đề và thực hành phương pháp Heruka Vajrasattva. Tại sao
phải qui y và phát tâm bồ đề trong diệu pháp thanh tẩy này
? Bởi vì, ngay cả trong lúc liên hệ với những đối tượng
thánh thiện, như qui y Tam Bảo, cũng như với chúng sinh, thì
những hành động xấu vẫn luôn luôn được tạo ra.
Chúng
ta có thể kiểm chứng sự thật này ở ngay chính chúng ta.
Hầu như tất cả những rắc rối trong đời đều đến từ
những người chung quanh chúng ta, không phải từ cục đá,
cục gạch hoặc cây cối và hầu như tất cả những rắc
rối thông thường đều bắt nguồn từ những người thân
cận. Sự liên hệ càng gần thì ảnh hưởng tình cảm càng
phức tạp. Ví dụ, nếu chúng ta tránh xa dầu nhớt thì không
sao, nhưng nếu chúng ta đến gần, đụng chạm vào nó thì
chắc chắn sẽ dính đầy người và khó tẩy rửa sạch. Cũng
giống như vậy, chơi dao có ngày đứt tay, gần mực thì đen
gần đèn thì sáng; gần người nào thì dễ bị ảnh hưởng
bởi người đó.
Một
ví dụ khác, chính chúng ta, chủ nhân một hành động, cũng
bị ảnh hưởng bởi tâm xấu của chính mình, rồi đôi khi
cũng muốn ảnh hưởng điều đó trên người khác; như khi
giết người, ta đi kiếm một người khác để giết; khi ăn
cắp, chúng ta đi ăn cắp của người khác; khi nói dối, chúng
ta nói dối một người khác. Dĩ nhiên, sự vô minh, sự tham
lam không bao giờ được thỏa mãn, vì tâm ích kỷ đang hiện
diện ở đó và những người khác cũng đang hiện diện ở
đó. Trong trường hợp này, nghiệp xấu của chúng ta gây ra
cho người nào tùy theo duyên nghiệp của chúng ta với người
đó. Chúng ta thanh tẩy nghiệp lực xấu đó bằng sự phát
nguyện tâm bồ đề.
Chúng
ta cũng tạo ra những hành động xấu ngay cả với những đối
tượng thánh thiện. Đôi khi, với một ác tâm, chúng ta không
ưa Phật, không thích Bồ Tát, khinh thường ảnh tượng, kinh
sách và dèm pha, phỉ báng sư tăng. Có muôn ngàn lối
để tạo ra những kiểu ác nghiệp này, chúng ta thanh lọc
nó bằng cách qui y Phật, Pháp và Tăng.
Để
phát nguyện bồ đề tâm, chúng ta phải tập và nuôi dưỡng
lòng từ bi đến muôn loài chúng sinh, không phân biệt chủng
tộc, tôn giáo, tín ngưỡng hoặc một quốc gia nào. Chúng
ta phải vững mạnh, hăng say trên đường tu tập cho chính
mình và khuyến khích những người khác cùng làm theo. Hãy
thường xuyên có những thái độ này để cởi bỏ những
nghiệp lực xấu trong chúng ta.
Nhiều
khi chúng ta vững mạnh nhưng chúng ta không kiểm soát được
những liên hệ nghiệp quả với cha mẹ chúng ta. Họ rất
tốt với chúng ta nhưng chúng ta luôn luôn đem lại sự buồn
đau cho họ. Chúng ta không thể dễ dàng cắt đứt sợi giây
liên hệ với họ bằng cách nói một câu từ giã đơn sơ
rồi cao bay xa chạy, để rồi không bao giờ muốn nhìn lại
họ nữa. Điều đó không đủ để tách rời chúng ta với
họ. Để chấm dứt liên hệ nghiệp quả với họ, chúng ta
phải thanh tẩy nó bằng tình yêu bao la dành cho họ là phát
nguyện tâm bồ đề tới họ trong tâm của chúng ta. Tương
tự như vậy, chúng ta không thể xóa bỏ nghiệp với người
khác bằng một lời từ biệt để không bao giờ muốn gặp
lại. Sự liên hệ này phải được chuyên cần thanh tẩy.
Điều
tốt đẹp nhất để thanh lọc nghiệp lực xấu là dùng Bốn
sức mạnh đối trị nhau. Sức mạnh đầu tiên là sức mạnh
của đối tượng, đó là qui y và phát nguyện tâm bồ đề.
Phương pháp mà tôi diễn tả ở đây là: đối tượng qui
y chính là Heruka Vajrasattva, Ngài là sự hợp nhất của qui
y tam bảo: Phật, Pháp và Tăng. Ngài cũng chính là vị
thầy, vị thầy tuyệt đối mà chúng ta sẽ đề cập đến
sau này. Trí tuệ của Ngài hiểu thấu được bản tính của
cả hai nguồn năng lượng tốt và xấu. Ngài sẽ giải thoát
chúng ta nên chúng ta qui y Ngài.
Sức
mạnh thứ hai là sức mạnh của sự buông xả. Đôi khi còn
gọi là sức mạnh của lòng nuối tiếc, nhưng từ ngữ này
đôi khi làm mất đi cái ý nghĩa sâu xa của nó. Sức mạnh
này phát ra từ nội tâm, nó không phải là một cảm xúc buồn
đau hay tội lỗi, mà là những dấu ấn tác động lâu dài
trên những vấn đề của chúng ta, những dấu ấn đó là
những nguyên nhân làm chúng ta tích lũy thêm những khuynh hướng
xấu mỗi ngày. Hãy tưởng tượng một người vừa chợt khám
phá ra hắn nuốt phải thuốc độc thì lập tức hắn muốn
uống thuốc giải độc ngay. Sức mạnh của sự buông xả
giúp chúng ta thấu triệt được những dư âm của từng hành
động không tỉnh thức của chúng ta và ngay lúc đó chúng
ta ý thức được rằng chúng ta đã tạo nghiệp nên chúng
ta muốn thanh lọc ngay.
Sức
mạnh thứ ba là sức mạnh của sự điều trị (chuyển hóa).
Với sức mạnh này chúng ta điều trị tất cả những nghiệp
lực xấu đã tồn trữ trong chúng ta. Khi thiền định, chúng
ta chú tâm vào một điểm duy nhất là Heruka Vajrasattva - sự
thị hiện của an lạc, của siêu việt, của trí tuệ được
kết tụ trong vị thầy của chúng ta - rồi chúng ta thực hành
phương pháp thanh tẩy cùng tụng niệm những câu mật chú.
Về
sức mạnh thứ tư, tôi không biết có một từ ngữ Anh ngữ
nào tương đương hay không, đó là sức mạnh của sự bền
vững, không thể phá hủy được, khi nào chúng ta có được
sức mạnh này thì sẽ không bao giờ, không bao giờ còn bị
ảnh hưởng bởi những thói hư tật xấu nữa. Đó là một
lời nguyện, một lời hứa, một sự quyết tâm. Cùng một
lúc với sức mạnh này, chúng ta sẽ không bao giờ tạo thêm
nghiệp xấu nữa. Mọi công việc coi như hoàn tất. Đó là
một điều vững chắc và mãnh liệt đến từ trí tuệ. Trong
mỗi người chúng ta có một nguồn năng lực vi tế luôn luôn
bảo vệ chúng ta thoát khỏi những tệ trạng xấu. Nói xa
hơn nữa, nó là một mãnh lực ngược hẳn lại những thói
quen cũ của chúng ta, nó bảo vệ chúng ta một cách tuyệt
đối. Dĩ nhiên, sức mạnh này cũng tùy theo sự quyết tâm
của chúng ta, nếu là một quyết tâm mãnh liệt, toàn triệt,
nó sẽ được bảo đảm hoàn toàn.
Ví
dụ, khi chúng ta thực hành tám điều tâm niệm của Đại
thừa mỗi ngày, thì ngay từ buổi sáng vừa thức dâïy chúng
ta đã lập lại lời nguyện hứa. Từ lúc đó, chúng ta phải
tỉnh thức và nuôi dưỡng nó trong cả một ngày. Nếu những
lời nguyện hứa chỉ được giữ trong lúc tham dự lễ thì
không lợi ích gì cả, nó phải được nuôi dưỡng trong từng
giây phút của đời sống. Nếu không, khi buổi lễ vừa tan
là chúng ta lại bị rơi ngay trở lại lối sống cũ,
trở lại với vô minh và sẽ chẳng hiểu những công việc
chúng ta vừa làm.
Lời
nguyện hứa không được đứt đoạn. Bất cứ một hành động
nhỏ nào cũng có thể phá vỡ lời nguyện trong tâm chúng ta.
Cả một đời chúng ta đã không kiểm soát nguồn năng lực
này. Do đó, nếu mỗi sáng chúng ta xác nhận lại sự tỉnh
thức này thì không có cách chi phá hủy được những lời
nguyện của chúng ta. Trong chúng ta có một thân vi tế, được
tích lũy những năng lượng để bảo vệ chúng ta.
Nghiệp
Cũng
theo đường lối đó để hiểu luật nhân quả. Khi chúng ta
đã qui y thì bổn phận chúng ta là phải nhận định ngay ra
nghiệp lực để từ đó chúng ta có thể ngăn ngừa những
hành động xấu và những cám dỗ của chúng. Nhưng thường
thường chúng ta khó có thể làm được như vậy. Chúng ta
biết rằng nếu chúng ta tiếp tục tạo ra nghiệp thì chúng
ta tiếp tục rơi trở lại vòng luân hồi khổ đau. Vì quan
niệm như vậy nên chúng ta không có một sự hiểu biết sâu
xa về bản tính của nghiệp. Người nào hiểu thông suốt
gốc rễ của nghiệp lực thì sẽ không bao giờ tạo thêm
nghiệp mà sẽ từ bỏ nó một cách tự nhiên không nuối tiếc.
Cho tới khi nào chúng ta còn để cho những ràng buộc và lòng
ích kỷ hướng dẫn những hành động của chúng ta, thì mặc
dầu hiểu biết cặn kẽ nghiệp, chúng ta cũng vẫn bị nó
lôi kéo và sẽ hành động theo nó.
Tôi
hiểu người Tây phương rất rõ. Họ thông minh, nhưng tâm
của họ qúa phân tán. Một mặt họ muốn đạt đạo, một
mặt họ vẫn giữ nghiệp. Nói cách khác, họ bị xúi dục,
bị lôi cuốn bởi những thói hư tật xấu nên không có cách
chi ngăn ngừa được nghiệp quả. Đấy là nguyên nhân của
đau khổ, của than khóc! Họ là những người quá mẫn cảm.
Khi tình trạng khổ đau khởi phát ra, năng lượng xấu sẽ
bao trùm năng lượng tốt vì họ đã không thường xuyên liên
tục tạo cho họ một sức mạnh tốt đẹp sâu xa, một sự
hiểu biết cốt tủy về nghiệp lực, hay của luật nhân quả.
Có
thể có người nói: “ Oâi, nghiệp chỉ là kinh nghiệm của
những người nào tin nó. Người nào không tin, sẽ không bị
nó hành.” Rất nhiều người Tây phương đã tranh luận
với tôi về vấn đề này. Đây là một quan niệm hoàn toàn
sai lầm. Luật nhân quả tác đôïng trên tất cả mọi người,
dù tin hay không tin. Nếu chúng ta liên tục làm một công việc
nào đó, chắc chắn chúng ta sẽ có kinh nghiệm về kết quả
của nó, uống thuốc độc thì sẽ bị đau - rất có thể
chúng ta nghĩ rằng đây cũng là thuốc. Một khi chúng ta đã
tạo ra nghiệp thì chúng ta sẽ nhận lãnh hậu quả, đó là
lý do tại sao chúng ta bị hết vấn đề này đến vấn đề
khác trong đời sống.
Con
bò, con heo, con bọ cạp chẳng có một ý niệm nào về nghịêp
- không tin chuyện gì cả- nhưng chúng vẫn sống trong nghiệp
quả của chúng. Mỗi một hành động của chúng được hướng
dẫn bởi tham sân si và mỗi một hành động sẽ mang đến
một nghiệp quả khác nhau. Vì thế, chúng ta không nên nghĩ
rằng nghiệp chỉ dành cho những Phật tử, cho những Lạt
ma. Nghiệp là luật tự nhiên tác động trên tất cả mọi
hiện tượng - vật chất hay không vật chất - ở trong vũ
trụ. Đây là một nguyên lý vô cùng quan trọng mà bắt buộc
chúng ta phải hiểu.
Khi
tôi giảng dạy về nghiệp, tôi không giải thích nó một cách
kỹ thuật như một vài cuốn sách qúy vị tìm thấy ở Tây
Tạng. Tôi trình bày nó một cách hết sức đơn giản là qúy
vị hãy theo dõi cái chiều hướng mà tâm của qúy vị đang
hành động lúc đó. Qúy vị có thể nhìn ra một cách rất
dễ dàng tâm của qúy vị lên xuống như thế nào, đặc biệt
trong lúc thiền định. Một khi chúng ta tỉnh thức trong vấn
đề này, chúng ta sẽ dễ dàng hiểu được những kinh nghiệm
đến từ trong quá khứ như thế nào, nghiệp quả y hệt như
vậy. Điều này thật rõ ràng, không cần phải cầu kỳ giải
thích kiểu này hay kiểu khác. Nói một cách đơn giản, không
kiểm soát thân khẩu và ý thì nghiệp tự do diễn xuất! Tự
do hoành hành!
Vì
thế, dù tin hay không tin, nghiệp luôn luôn ảnh hưởng trên
chúng ta. Đừng nghĩ rằng những người Thiên Chúa giáo, Do
Thái giáo, Hồi giáo thì ở ngoài vòng ảnh hưởng của nghiệp
và không cần để ý đến nó. Điều đó không đúng. Hãy
lấy một ví dụ, dân Do Thái và Ả Rập đã tạo nghiệp cho
nhau nên bây giờ họ đang có những vấn đề ở Trung Đông.
Những tên đồ tể không tin rằng việc giết quá nhiều súc
vật sẽ ảnh hưởng đến họ, tin hay không tin, họ đã gây
đau khổ quá nhiều cho chúng sinh khác thì chắc chắn đau khổ
sẽ đến với họ.
Lần
đầu tiên chúng ta đến Kathmandu, quý vị thưởng ngoạn phong
cảnh rất thoải mái. Rồi khi quý vị lên tu viện Kopan, quý
vị cảm thấy rúng động. Quý vị thấy nó quá dơ bẩn, không
có một nhà vệ sinh nào ở đây. Sự rúng động của quý
vị là kết quả của sự bám víu trước kia về một sự
tiện nghi, sạch sẽ. Đó là nghiệp đấy! Nếu không bị ràng
buộc vào những kinh nghiệm tiện nghi trước kia thì quý vị
sẽ không bị rúng động vì những sự kiện dơ bẩn xẩy
ra ở chung quanh. Vì thế, chúng ta có thể hiểu nghiệp và
những hậu quả của nó một cách rõ ràng nếu chúng ta biết
phân tích những kinh nghiệm của chúng ta trong đời sống hàng
ngày.
Một
điều rất tốt là chúng ta nên phát triển tâm tỉnh thức
trên tất cả mọi hành động của chúng ta hơn là cứ để
bị ám ảnh về phương pháp thiền, đây là thiền chỉ hay
thiền quán như một số người đã bị. Nếu tình trạng
này xẩy ra, chúng ta hãy thoát khỏi tình trạng này bằng cách
nghĩ rằng thiền chỉ là một phương pháp thực hành Phật
Pháp còn tất cả những hành động khác như ăn uống, nói
chuyện, ngủ nghỉ... toàn là những hành động của luân hồi.
Điều
tôi muốn đề cập đến là có rất nhiều phương pháp thiền.Thiền
quán không phải là một phương pháp duy nhất để thiền.
Trí tuệ có thể đạt được bởi bất cứ phương cách thiền
nào, trên bất cứ hiện tượng nào trong vũ trụ. Như vậy,
chúng ta không phải chỉ có một phương pháp ngồi thiền bằng
cách bắt chéo chân, cảnh giác nghiệp lực hàng ngày cũng
là thiền và có thể nói rằng đấy là một phương cách rất
tốt để phát huy trí tuệ. Bằng cách này, toàn thể cuộc
đời của chúng ta sẽ được dùng để dẫn đưa chúng ta
đến gần sự hiểu biết về vô ngã.
Khi
hiểu được bản tính của nghiệp, chúng ta sẽ tự ý thức
được tất cả những công việc chúng ta đang làm. Vì thế
chúng ta có thể thiền ở bất cứ nơi nào. Như chúng ta đã
biết, nếu chúng ta không tỉnh thức trong tất cả những hành
động của thân khẩu và ý thì chúng ta sẽ tạo ra hết nghiệp
này đến nghiệp khác và chúng ta sẽ nhận lãnh qủa báo đau
khổ mà không thể trốn thoát. Chính điều này làm chúng ta
luôn luôn tỉnh thức trong lúc nói chuyện, trong khi ở tiệm
ăn, khi làm việc, ngay cả khi đang đi chợ.
Thông
thường chúng ta nghĩ cái tâm nhị nguyên không thể dùng làm
đối tượng cho việc thiền định -- tâm nhị nguyên là tâm
phân biệt của chúng ta dùng để diễn dịch những sinh hoạt
thường ngày, như đời sống luân hồi, sự bất mãn,
sự đau khổ và những việc ngoài ý muốn -- Đó là ý nghĩ
vô cùng sai lầm. Phật giáo Đại thừa dạy rằng nếu những
cảm giác của thân xác như cảm xúc có thể dùng để
phát triển trí tuệ, thì bất cứ những hình thức kinh nghiệm
khác cũng có thể dùng được, nếm thức ăn cũng có thể
dùng để phát triển trí tuệ.
Một
số người cho rằng quán tưởng không thể dùng trong lúc thiền
định vì chúng là những phóng chiếu của trí óc, theo dõi
hơi thở hay những cảm giác thì thực tế hơn và có thể
dùng được. Đối với Phật thì cảm xúc, cảm giác hay quán
tưởng cũng đều là huyễn ảo! Những cảm giác của thân
xác thì không thường hằng, chúng thay đổi từng giây phút,
vì tâm biến chuyển không ngừng nghỉ. Những cảm giác của
thân và của tâm, nhất là của ác tâm đều là những hình
ảnh phóng chiếu của vô minh. Tâm nhị nguyên, cái tâm phân
biệt của chúng ta tự động phóng chiếu ra hai hình ảnh cho
bất cứ một cái gì mà chúng ta kinh qua.
Thường
thường một người mới thực hành thiền theo phương pháp
thiền quán đều coi những cảm giác của thân xác là thực.
Nhưng không sao, bất cứ những gì họ dùng (nội cảnh hay
ngọai cảnh) trong việc thiền đều xuất hiện như là những
sản phẩm của tưởng tượng và đều có liên hệ đến tâm.
Nói một cách căn bản hơn, không có gì khác biệt giữa nội
và ngọai của một hiện tượng: chúng có thể thật mà cũng
có thể không thật. Cho đến khi nào chúng ta chưa có một
tâm rỗng lặng, không phân biệt - tánh không - thì bất
cứ cái gì chúng ta kinh nghiệm về thể chất hay tinh thần
cũng đều là huyễn ảo, cũng đều là những quan niệm sai
lầm.
Thực
ra, vấn đề vị giác ở lưỡi cũng là một cảm giác của
thân xác, truyền thống đại thừa thực hành thiền trên tất
cả mọi trạng huống, mọi sinh hoạt. Thiền mật tông dạy
chúng ta rằng trước khi ăn, chúng ta nên cúng dường và độ
sinh cho thức ăn. Trong khi ăn, chúng ta nên ăn thật thoải mái
và ý thức từng động tác, luôn luôn nhớ rằng chúng ta có
liên hệ với thức ăn mà chúng ta đang ăn, không nên ăn vì
ham muốn, thèm khát như chúng ta thường làm. Bất cứ sự
kiện nào cũng là một đề tài để phát triển trí tuệ.
Tụng niệm mật chú cũng giúp chúng ta rất nhiều trong vấn
đề thực hành thiền. Chúng giúp ta dễ dàng tập trung, do
đó không bị phân tán bởi những lôi kéo khác. Tuy nhiên,
việc tụng niệm không hẳn phải đọc ra bằng lời. Mật
chú là những âm thanh xuất hiện ra ở bên trong hệ thần
kinh của chúng ta, vì thế trước khi sinh ra, chúng ta có thể
nghe nếu chúng ta biết lắng nghe. Mật chú không phải là những
gì chúng ta nhận được từ vị Lạt ma, tất cả đều đột
khởi, tự khởi phát. Nếu không có những rung động tự nhiên
ở bên trong hệ thần kinh, chúng ta đều điếc hết - mỗi
loại năng lượng có một âm thanh riêng biệt. Đây không phải
là tín điều tôn giáo mà là khám phá của khoa học. Chúng
ta không thể từ bỏ những âm thanh tự nhiên trong hệ thần
kinh của chúng ta. Hãy thử bỏ cái đầu đi xem nào!
Tuy
nhiên, đây là những kinh nghiệm không vững chắc lắm của
rất nhiều Lạt ma, những đối tượng tạm thời của ngũ
quan cho ta nhiều chướng ngại hơn là giúp ta trong thiền định.
Nếu chúng ta còn tiếp nhận sự vật qua tâm và từ ngũ quan,
thì chúng ta vẫn không thể tập trung vào một điểm theo đúng
nghĩa của nó. Chúng ta không phải là một thiền chỉ gia cũng
không phải là một thiền quán gia. Hãy kiểm soát xem điều
này đúng hay sai.
Vì
thế, ngớ ngẩn làm sao khi nghĩ rằng ngồi đây, cố gắng
đi vào đại định mới là đường lối duy nhất để thực
hành Phật pháp còn làm bất cứ điều gì khác trên cuộc
đời này cũng đều sai, đều không phải Đạo pháp. Chúng
ta nên cẩn thận và hãy thường xuyên ý thức những sinh hoạt
trong đời sống như ăn, uống, ngủ, đi đứng, làm việc ...
bằng sự hiểu biết của trí tuệ. Bất cứ khi nào chúng
ta gần những bậc thầy, những tăng sĩ, cha mẹ, hay ngay cả
những lúc ở một mình, chúng ta cũng phải ý thức được
nghiệp càng nhiều càng tốt. Thật là sai lầm khi nghĩ rằng
chúng ta có thể trốn thoát được nghiệp khi vào trong phòng
khóa kín cửa lại, để rồi làm bất cứ cái gì chúng ta
muốn. Không thể chạy trốn được! Dù ở một mình hay với
người khác, nghiệp qủa đến một cách tự động, xẩy ra
một cách tự nhiên dù muốn hay không muốn.
Nếu
chúng ta đã được dạy một đường lối duy nhất để thiền
là hãy ngồi đó và đừng nghĩ gì cả thì chúng ta sẽ không
còn thời giờ để thực hành nó nữa. Nghiệp cho biết rằng
hầu hết những người Tây phương đều dùng cuộc đời của
họ để làm việc hay để cho những sinh hoạt bên ngòai. Do
đó, họ không có thì giờ để ngồi, chúng ta nên hiểu rằng
thực hành Phật Pháp là một thực hành lâu dài. Thiền không
phải là để tâm trống rỗng rồi đăm đăm nhìn vào một
chỗ. Khi đã hiểu được cốt tủy của Phật Pháp thì chúng
ta sẽ hiểu được có rất nhiều việc cho chúng ta làm, có
rất nhiều việc để chúng ta phát triển. Điều này giúp
chúng ta luôn luôn phấn khởi trên đường tu tập, ngay cả
khi không thể tập trung tư tưởng chúng ta vẫn có thể thực
hành Phật Pháp. Ở bất cứ đâu, đi bất cứ chỗ nào, với
bất cứ ai hay với bất cứ một thiền giả nào, chúng ta
đều có thể sống trong Phật Pháp. Khả năng này đến từ
trí tuệ.
Không
có trí tuệ, làm sao ta có thể hòa nhập trong Phật Pháp và
có thể giải thoát khỏi những ràng buộc về ăn, ngủ và
bài tiết ? Khi có trí tuệ, không cần phải ở bên một vị
thầy mới nhận lãnh được những lời dạy bảo, ta có thể
học hỏi từ tất cả những vật chung quanh ta. Chúng ta có
thể học từ sự chuyển động của các hành tinh, của sự
thay đổi thời tiết, sự lớn lên và chết đi của cây cối,
hay của bất cứ một hiện tượng nào. Điều này sẽ thực
sự xẩy ra khi chúng ta có trí tuệ. Trí tuệ của ta sẽ cho
ta biết vị thầy thực của ta là ai, đây là một điều rất
thực tế. Đó là điều Phật Giáo Tây Tạng muốn dạy cho
chúng ta.
Hãy
dành trọn cuộc đời của chúng ta để học hỏi và kinh nghiệm
Phật Pháp. Đó là sức mạnh duy nhất mà chúng ta có thể
làm được. Đó là con đường đi đến giác ngộ trong một
đời hiện tại, vì thế chúng ta không nên tiêu phí một phút
nào trong cuộc đời chúng ta. Đây là một lý luận tuyệt
vời. Nếu chúng ta tin tưởng tuyệt đối vào một ý niệm
sai lầm là dành một giờ trong ngày để thiền, như vậy còn
lại 23 giờ kia sẽ là giờ của tối tăm, của u mê, giờ
của luân hồi, thì chắc chắn chúng ta sẽ phải cần vô số
lượng thời gian để giác ngộ. Tin vào cái gì thì cái đó
sẽ thành sự thật, cho dù điều đó đúng hay sai!