QUI
Y
Chúng
ta đã chia sẻ với nhau tại sao chúng ta cần phải thanh tẩy
và thanh tẩy như thế nào. Chúng ta cũng hiểu rất rõ là chúng
ta luôn tạo thêm những nghiệp mới qua thân khẩu và ý, bởi
vì chúng ta chưa thấu hiểu nguyên nhân nội tại, luật của
nghiệp lực.
Có
một sự khác biệt rất lớn giữa sự hiểu biết thuần lý
thuyết và sự hiểu biết bằng kinh nghiệm sống thực. Một
số học trò hiểu thấu đáo những lời dạy bảo về nghiệp
và tin tưởng mãnh liệt rằng “Điều đó rất đúng vì Lạt
ma của tôi đã nói như vậy!” Nhưng họ không có một chút
kinh nghiệm sống nào, nên khi bị thử thách họ đã thất
bại. Họ không có một phương pháp giải quyết khi một vấn
đề trầm trọng xẩy ra. Họ rất thỏa mãn khi nói về nghiệp,
họ còn khuyên cha mẹ và bạn bè họ: “Thôi, như vậy đủ
rồi ! ” nhưng họ không thể làm được những điều mà
họ đã nói vì họ chưa từng bao giờ thực hành.
Tuy
nhiên, một số học trò khác không hoàn toàn thỏa mãn với
những lý thuyết mà họ đã học, ngược lại, họ thực
tâm muốn hiểu thấu vấn đề bằng chính kinh nghiệm sống
của họ. Có thể họ đã không học về nghiệp nhưng họ
lại luôn luôn tỉnh thức trong mọi hành động, như vậy họ
đã thực sự nếm mùi vị của Phật Pháp, như nếm mật ngọt
bằng chính lưỡi của họ. Khi sự khó khăn xẩy đến, họ
biết cách đối phó, biết cách giải quyết. Chúng ta phải
hiểu thấu vấn đề này. Thật là nguy hiểm, nếu chúng ta
chỉ bám víu, ôm giữ, tích tụ Phật Pháp mà không thực hành
nó. Điều này không giúp chúng ta được chút gì trong cuộc
sống.
Rất
nhiều vị học giả, giáo sư, từ Đông sang Tây, đã giảng
dạy về tất cả triết lý nhà Phật, mà chưa hề thực hành
chút nào. Đặt câu hỏi là họ trả lời ngay, nhưng những
câu trả lời của họ giống như những người hướng dẫn
du lịch, họ chuyên nghiệp như một cái máy. Khi một người
thực sự kinh nghiệm Phật Pháp nói, lời nói của họ tràn
đầy sức mạnh của ơn phước, của chuyển hóa. Có thể
họ cũng nói cùng một vấn đề như những vị học giả nhưng
khi họ diễn tả vấn đề là họ truyền đạt đến tận
con tim của thính giả, làm con tim của người nghe thực sự
rung động. Lời nói không có kinh nghiệm giống như một cơn
gió thoảng qua tai.
Nếu
không hiểu luật nhân quả bằng chính kinh nghiệm bản thân,
thì ta không thể tỉnh thức trong bất cứ việc gì ta làm.
Mặc dầu những người này có thể giảng dạy rất uyên bác
cho hàng ngàn thính giả, nhưng thính giả không cảm thấy gì,
không tin được những lời thuyết pháp, vì họ chưa thực
sự nếm được mật ngọt của vấn đề. Họ đã không thật
sự sống với điều họ tranh luận. Đây là một điều đáng
buồn. Khi được hỏi một vấn đề thực tế của nghiệp
quả như thế nào, các vị học giả chỉ có thể dẫn chứng
bằng những gì họ đã đọc trong một vài cuốn sách. Vì
không có kinh nghiệm nên họ không thể giải thích được
một cách rõ ràng: quan sát nghiệp như thế nào, làm thế nào
để thực hành, cách chuyển hóa một hành động xấu qua tốt
như thế nào? Có những câu hỏi thực tế về nghiệp đến
từ bên ngoài sách vở, nên những học giả này không thể
trả lời. Cuối cùng họ chỉ nói cho qua chuyện: “ Anh không
thể hỏi như vậy, Phật Pháp không có vấn đề đó.” Thực
sự vấn đề không đơn giản như họ đã đọc được trong
sách vở.
Tôi
chắc chắn rằng phần đông chúng ta đã hiểu rõ những hành
động xấu của thân khẩu và ý là những chu kỳ tự nhiên,
mang đến cho đời những đau khổ, những bối rối và những
xấu xa. Đây là sự thật chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa.
Qúy vị có thể giải thích vấn đề này rõ hơn tôi. Khi ngồi
nghe cái giọng Anh văn què quặt của tôi, qúy vị tự nghĩ:
“Cái ngôn ngữ gì quái gở vậy? Nếu ông ấy để tôi nói,
tôi có thể giải thích hay hơn.” Đó là một sự thật. Nhưng
tại sao chúng ta không thể chấm dứt những thói quen tật
xấu của chúng ta? Điều đó chứng minh hiểu biết bằng lý
thuyết thôi, không đủ, cần phải có thực hành.
Một
số phật tử tuy hiểu rất ít về Phật Pháp, nhưng họ có
một trình độ tâm linh rất cao, vì họ chú tâm chăm chỉ
thực hành Phật Pháp. Nhưng có rất nhiều giáo sư, học gỉa
uyên thâm về lý thuyết nhà Phật, đã từng đi thuyết pháp
nhiều nơi mà chẳng có một trình độ tâm linh nào. Do đó,
tôi khuyên qúy vị nên vô cùng thận trọng trong vấn đề
này. Khi chỉ nói về, chỉ bàn về những lời dạy bảo thì
nó chẳng có ích lợi gì. Chúng ta cần phải thực hành. Những
lời dạy bảo phải mang những rung động của ơn phước,
của chuyển hóa trong từng kinh nghiệm cá nhân, và phải có
khả năng chuyển những nguồn năng lực đó đến người nghe.
Ở
Tây Tạng, trên con đường dạy bảo những phương pháp tu
tập, những bậc thầy thường không chú trọng dạy lý thuyết,
mà đặc biệt chỉ chú tâm đến vấn đề thực hành Phật
Pháp. Ngay trong lúc thuyết giảng, họ cũng để học trò thiền
định. Kết qủa là có một số học trò đã chứng nghiệm
ngay trong lúc nghe giảng. Thường thường một khóa học là
20 ngày, sau 20 ngày học hỏi, họ đã hiểu trọn vẹn vấn
đề từ đầu đến cuối, tâm đầy tràn năng lực, họ gấp
gấp rời bỏ tu viện, đi vào những hang động trong núi thẳm
để thiền định trong cô liêu. Nói khác đi, những vị học
gỉa có thể dạy chúng ta cả 20 năm mà không gây được một
rung động nào trong trái tim của chúng ta.
Tôi
cũng đã thấy một số học trò Tây phương rất phấn khởi
trong phương pháp tu tập Lam-rim, họ cũng muốn đi vào hang
động để thiền định trong cô liêu. Tuy nhiên, tiếp tục
kiên nhẫn tu tập trong nhiều năm để thanh tẩy những nghiệp
chướng thì vẫn tốt hơn là đi vào núi thẳm để thiền
định , vì sự thúc đẩy của cảm xúc hay của cảm hứng
thì nhất thời không bền lâu.
Vì
thế, khi qui y và phát tâm bồ đề, chúng ta không nên để
một khoảng trống giữa chúng ta và những công việc này.
Nếu chúng ta không hợp nhất với những công việc này, chúng
ta sẽ không tẩy rửa được những nghiệp của chúng ta, như
sự trình bày ở trên kia. Khi qui y, chúng ta hãy trở nên làm
một với việc qui y. Khi phát nguyện tâm bồ đề, chúng ta
hãy trở nên làm một với tâm bồ đề. Không phải khi làm
lễ qui y, ngồi trên tấm nệm mà tâm lại suy nghĩ những gì
ở đâu đâu. Hãy để tâm hoà nhập với Phật Pháp mà chúng
ta đang thực hành. Điều này tuy khó nhưng không phải là không
làm được, điều này thực sự cần thiết nếu chúng ta thực
tập để mang lại lợi ích cho tâm hồn chúng ta và cho mọi
người.
Bởi
vì không những chỉ nghe mà còn cố gắng thực hành, nên một
số rất đông những người Tây phương đã đạt được những
thành qủa tốt trên đường tìm giác ngộ và họ đã có những
chứng nghiệm rất cao. Những học trò này rất thành thực
và bén nhậy trong lúc nói chuyện với Lạt ma Zopa và với
cá nhân tôi, tâm của họ thực sự đã được cảm hoá bởi
những điều họ nghe. Nếu trong lúc học hỏi, người nói
như cái máy phát thanh, người nghe như bức tường, thì làm
sao có được những ơn ích này? Nói một cách sâu xa hơn,
với bản tính đa nghi của người Tây phương, họ không dễ
dàng chấp nhận bất cứ điều gì cho đến khi họ đã hoàn
toàn hiểu và thấm nhập những ơn ích của lời dạy bảo.
Tôi thích nghe họ phát biểu: “ Thầy nói như vậy, tôi không
chấp nhận.” Chúng tôi có cảm tưởng rằng họ ái mộ ông
thầy vì lòng tin nhất thời hơn là có sự hiểu biết sâu
xa hầu có đủ điều kiện để nghe Pháp.
Qui
y và phát tâm bồ đề
Nguyện
mãi mãi, Con xin qui y Phật, Pháp, Tăng, Tăng sĩ trong cả 3 truyền
thừa, cùng chư Nam Tiên và Nữ Tiên của mật chú, những vị
Anh Hùng, Chư Thiên, Chư Bồ Tát và đăïc biệt là Thầy con
“Thừa”
được phiên dịch từ chữ Phạn yana, có nghĩa là “con đường,
cỗ xe, phương tiện.” Theo nghĩa rộng thì đó là một phương
tiện để nâng tâm thức của chúng ta lên một cấp độ cao
hơn. Thí dụ, nếu chúng ta phát nguyện tâm bồ đề và thực
hành sáu hạnh bồ tát, chắc chắn chúng ta sẽ đạt giác
ngộ. Cỗ xe lớn, Đại thừa, đưa chúng ta đi từ chỗ khởi
đầu, tâm bồ đề qua sáu hạnh và từ thập địa bồ tát
lên đến giác ngộ. Nếu chúng ta bắt đầu một cách thật
hoàn hảo và hành động đúng, chắc chắn chiếc xe sẽ đưa
chúng ta đến chỗ mong muốn. Yana còn có nghĩa là con đường:
con đường đi đúng sẽ dẫn đến đúng chỗ. Nếu vì vô
minh, chúng ta chọn con đường đi sai, chúng ta sẽ đi lạc.
Ba
cỗ xe Phật giáo là hai cỗ thuộc Tiểu thừa và một cỗ
thuộc Đại thừa. Chúng ta qui y Tăng trong cả ba thừa. Mặc
dù chúng ta đang theo truyền thống Đại thừa và đặc biệt
hơn, trong cái chiều hướng sâu thẳm nhất của Mật tông,
chúng ta cũng không nên kiêu ngạo mà nghĩ rằng “ Tôi thuộc
Đại thừa, tôi không cần qui y Tăng bên Tiểu thừa.” Mặc
dầu chư vị La hán bên Tiểu thừa còn bám víu vào sự giải
thoát cho riêng họ, nhưng họ cũng đã vượt thoát khỏi ngã
chấp để chứng nghiệm tánh không và họ cũng có khả năng
hướng dẫn chúng ta ra khỏi kiếp luân hồi. Vì thế, chúng
ta không nên kỳ thị mà chúng ta nên qui y các ngài.
Tiểu
thừa và Đại thừa không phải là những phát minh của các
vị Lạt ma Tây Tạng. Hai truyền thống Phật giáo này được
sáng lập bởi chính Đức Phật và như vậy nó đã tồn tại
từ lâu đời trước khi được truyền vào Tây tạng. Có một
số người nghĩ rằng Đức Phật chỉ truyền dạy bằng tiếng
Pali và cho rằng những bản kinh được ghi chép bằng ngôn
ngữ khác là sai. Có những người khác lại tin vào tiếng
Phạn (Sanskrit). Cả hai luận cứ này đều sai lầm. Một khi
Phật pháp được truyền sang nước khác, được thực hành
bởi các vị hành giả, thì nó vẫn được giữ nguyên vẹn
lời dạy bảo, nhưng rồi dần dần được làm cho thích hợp
với tâm hồn dân địa phương, và vì vấn đề truyền thông
sao cho dễ hiểu. Như vậy, có một sự khác biệt lớn giữa
xứ tuyết Tây tạng và bình nguyên nóng cháy Aán độ, do đó
chúng ta có thể hiểu được sự thay đổi của Đạo Pháp
khi nó di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác.
Ngày
xưa, có một ông vua là môn đệ của Đức Phật, một đêm
vua mơ thấy 18 người tranh giành nhau một cuộn vải, ai cũng
cố gắng tranh phần thắng về mình. Sau cùng, ai cũng chiếm
được trọn cuộn vải. Vua đến hỏi Phật về ý nghĩa của
giấc mơ đó. Ngài giải thích rằng cuộn vải tượng trưng
cho những lời dạy bảo của Ngài, sau khi Ngài qua đời, mười
tám trường phái sẽ nắm giữ theo sự hiểu biết riêng của
họ để giải thích giáo lý của Ngài. Mỗi người nhận được
một cuộn vải có nghĩa là mỗi một tông phái sẽ nắm giữ
một con đường đúng riêng và sẽ thực hành theo để đi
đến giải thoát. Như vậy, sự thành lập mười tám tông
phái Tiểu thừa là do lời tiên tri của Đức Phật.
Tông
phái Phật giáo nguyên thủy (Theravada) là một trong 18 tông
phái đó. Một số tín đồ của Tiểu thừa cảm thấy buồn
khi được gọi là “ tín đồ Tiểu thừa” và yêu cầu được
gọi là Phật giáo nguyên thủy -- điều này vô lý, vì Phật
giáo nguyên thủy chỉ là một trong số 18 tông phái kia, Thevada
không nắm giữ tất cả triết lý của Tiểu thừa, nên không
thể coi như bằng nhau –Ngược lại, một số khác lại tự
đắc khi nghĩ mình thuộc Phật giáo Đại thừa. Sự phân biệt
nhị nguyên này phát khởi do tâm vô minh và đi ngược hẳn
lại sự an bình nội tại của Phật Pháp.
Sự
khác biệt căn bản giữa Tiểu thừa và Đại thừa nằm ngay
tại tâm của họ. Nguyên tắc căn bản của Tiểu thừa là
chú trọng vào sự giải thoát một mình họ, trong khi đó những
người theo Đại thừa quan niệm đạt giác ngộ để giải
thoát tất cả muôn loài chúng sinh. Một số người phân biệt
mặc áo màu vàng là Tiểu thừa, áo màu đỏ là Đại thừa,
nhưng đó là một sự sai lầm. Tất cả những ai tu tập không
vì sự giác ngộ cho riêng mình mà cho muôn loài chúng sinh thì
là Đại thừa, không phân biệt họ mặc áo mầu gì. Nếu
ai mặc áo đỏ mà chỉ tu tập cho riêng họ, lo giải thoát
khỏi luân hồi sinh tử cho riêng cá nhân họ thì đó chính
là môn đồ của Tiểu thừa.
Chúng
ta qui y Tăng thuộc Đại thừa cũng như Tiểu thừa, chư vị
thần tiên và chư vị bồ tát - tất cả những vị này đã
chứng nghiệm và thành tựu con đường cao nhất của Mật
tông. Có vị xuất hiện như một vị thần từ bi, có những
vị xuất hiện dưới dung mạo giận dữ.
Khi
một vị bồ tát thị hiện dưới hình thức giận dữ, chúng
ta không nên nghĩ rằng họ phải luôn luôn hiền hòa. Ngay cả
trong đệ nhất địa của thập địa bồ tát, được gọi
là “Hoan Hỉ Địa”, họ cũng có thể thị hiện ra hàng
trăm cách khác nhau. Từ những hình dạng này, những lời dậy
bảo có thể thị hiện từ Báo Thân Phật ra 100 vị Phật
khác nhau hoặc hóa hiện ra 100 cảnh giới khác nhau để giáo
hóa chúng sinh. Trong tiến trình bồ tát hạnh, khả năng của
họ tăng lên gấp mười ở mỗi một cấp bậc; những gì
họ có thể làm được vượt xa sự lý giải của chúng ta.
Vì thế, chư vị bồ tát có thể thị hiện ra trong bất cứ
dung mạo nào, một vị thần hiền lành hay một vị thần hung
dữ ...vân vân..., chúng ta nên qui y các ngài.
Thực
ra, chư bồ tát có thể thị hiện ra là người Đông phương
hay người Tây phương, người da mầu hay người da trắng,
người Thiên chúa giáo, người Hồi giáo hay người Do thái
giáo - bất cứ hình dạng nào. Ngày nay, có quá nhiều tín
đồ tôn giáo với tâm hẹp hòi, họ không muốn đến với
những vị thầy tâm linh khác chủng tộc, khác màu da, khác
tôn giáo hay khác quốc gia. Khi họ đã theo một vị thầy riêng,
đã trở thành đệ tử của vị thầy đó, họ cho tất cả
những vị thầy khác và tín đồ của ông ta là quỉ ma. Tôi
gọi những người này là “chủ nghĩa Thầy.” Đây thật
là một điều sai lầm, họ qui y với một tâm kỳ thị. Đây
không phải là đường lối qui y của Phật giáo.
Dĩ
nhiên, một số khác lại tự tôn mình là vị thầy số một
và độc nhất trên thế giới, rồi đồ đệ của họ cũng
tự nhiên tin như vậy. Trong trường hợp này, thay vì trở
nên một chiếc xe chuyên chở tín đồ đến giải thoát, tôn
giáo mà họ rao giảng lại làm ngộp thở tín đồ, họ trở
nên hẹp hòi hơn và sau cùng trở thành một loại cuồng tín.
Tốt hơn hết là không theo một tôn giáo nào, còn hơn là có
đạo theo kiểu này. Ít ra, những người vô tôn giáo không
có những quan điểm quá khích như vậy, với họ, họ nghĩ
rằng chỉ cần trở nên một người bình thường là quá đủ,
quá tốt rồi.
Chúng
ta qui y phật và bồ tát trong 10 phương, qui y những vị đã
đạt ngộ tánh không, bất kể họ thuộc màu da nào, quốc
gia nào hay tín ngưỡng nào. Hãy nhớ rằng, cấp bậc thứ
nhất trong hàng bồ tát có thể là người Phi châu đàn ông
hay đàn bà, có thể là một bác tài xế lạc đà Ả Rập,
cũng có thể là một tên khủng bố, khi nghĩ được như vậy,
chúng ta sẽ phục vụ người khác tốt hơn.
Sau
cùng, như trong lời cầu nguyện, chúng ta qui y vị thầy của
chúng ta, đặc biệt hơn nữa là vị thầy nguyên thủy của
chúng ta, người sẽ hướng dẫn chúng ta trên con đường đến
giải thoát. Hãy luôn luôn nhớ rằng vị thầy duy nhất của
chúng ta theo phương pháp này là Heruka Vajrasattva (Ngài Kim Cang
Tát Đỏa) Danh từ Tây tạng Lob-pon có nghĩa là một người
chỉ cho chúng ta con đường ngay thật và hướng dẫn chúng
ta đi theo con đường đó, Ngài uốn nắn những hành động
của thân khẩu ý của chúng ta và đem chúng ta ra khỏi những
hành động mù quáng, vô minh. Ngài có thể hướng dẫn chúng
ta đến giác ngộ ngay trong đời hiện tại hoặc chỉ trong
ba năm. Hãy gọi tên Ngài bằng một tiếng tôn kính và qui
y Ngài mãi mãi.
Khi
qui y, chúng ta hãy quán tưởng như sau, bên phải là cha tôi,
bên trái là mẹ tôi. Kẻ thù số một của tôi, người nào
gây trở ngại cho chúng ta nhiều nhất, ở ngay trước mặt
tôi. Người bạn thân nhất của tôi, người mà gắn bó với
ta nhất, ở đằng sau tôi. Tất cả những chúng sinh khác ở
chung quanh tôi.
Theo
Đại thừa, đây là sự quán tưởng tốt nhất. Nếu chúng
ta thắc mắc chúng ta nên đặt người bạn thân của chúng
ta ở đâu? Chúng ta thường trả lời “ Ồ, ngay ở đây,
trước mặt tôi !” và kẻ thù ở sau lưng hoặc tít ngoài
xa kia. Thay vì làm như vậy, khi qui y, chúng ta nên đặt kẻ
thù ở ngay trước mặt. Hãy nhìn họ, hãy chiêm nghiệm đời
sống của họ. Nói một cách chân thành, chúng ta hãy nghĩ
đến những vấn đề riêng tư của chúng ta, trong cái riêng
tư này có những nguyên nhân gây ra những hành động không
thể kiểm soát được, rồi chúng ta hãy nghĩ rằng kẻ thù
của chúng ta cũng ở trong hoàn cảnh đó. Hãy nghĩ như vậy
cho kẻ thù của ta, “Tôi nghĩ rằng, người này xấu nhưng
những khó khăn của họ cũng giống y hệt của tôi, thì tại
sao tôi lại nổi giận mỗi khi tôi thấy họ? Vấn đề xấu
nhất của họ chính là ngã chấp vô minh. Nghĩ rằng ghét cái
gì thì sẽ ghét cái đó. Tôi không nhìn thấy tâm vô minh của
họ thì tại sao tôi lại có những hành động xấu khi thấy
họ? Thân xác của họ chỉ đại diện cho một cái tâm xấu,
tôi không thích họ chỉ vì cái tâm xấu này sao? Họ có thể
nhìn ra điều này nếu tâm vô minh của họ được thanh tẩy
rồi họ cũng sẽ được giải thoát.”
Do
đó, chúng ta nên phát tâm từ bi đến kẻ thù của chúng ta
khi chúng ta qui y. Đây là một quan niệm đúng đắn nhất,
tuyệt vời nhất của qui y. Thực hành qui y theo đường lối
này là cách tốt nhất để giải quyết những vấn đề của
tham sân si. Nếu không, chúng ta lại tích tụ thêm âu lo cho
hiện tại và lại làm tăng thêm những bám viú, những ràng
buộc trong lúc qui y. Chúng ta nói rằng chúng ta đang thực hành
Phật pháp, nhưng Phật pháp mà chúng ta đang thực hành chẳng
mang lại ơn ích gì mà chỉ tăng thêm sự ràng buộc cho cuộc
sống. Với thái độ như vậy, niềm an lạc của Phật sẽ
trở thành một vật sở hữu, thay vì giải thoát chúng ta ra
khỏi những phiền toái, những khó khăn của cuộc sống thì
lại ràng buộc và gây cho chúng ta nhiều phiền toái hơn nữa.
Lúc đó họ sẽ bực tức: “ Phật Pháp của ông như cục
cứt!” Như vậy cái ngã lại tăng lên.
Trí
tuệ là trí tuệ! Tại sao nó lại gây trở ngại cho chúng
ta nếu có một vài kẻ vô minh bảo chúng ta là cục cứt?
hay gọi Lạt ma của chúng ta là đồ quỉ sứ? Chúng ta không
thể dễ dàng trở nên một cục phân hay đồ quỷ sứ khi
bị gọi như vậy. Do đó, chúng ta hãy thâïn trọng! Nếu chúng
ta tức giận khi một vài kẻ nhục mạ sự thực hành Phật
Pháp của chúng ta, vô tình chúng ta đã mang Phật xuống thành
một sự vật. Điều này chẳng những áp dụng cho đạo Phật
mà còn cho tất cả những tôn giáo khác nữa. Nếu tín đồ
của một tôn giáo nào mà tức giận gọi tôn giáo khác là
không tốt rồi đi đốt chùa, đốt nhà thờ của họ, là
những hành động điên rồ, cuồng tín và hoàn toàn sai lầm.
Hãy kiểm chứng xem chúng ta phản ứng như thế nào khi đối
diện với những hành vi này? Một khi tức giận thì đã quá
muộn để kiểm soát!
Việc
quán tưởng muôn loài chúng sinh ở chung quanh chúng ta khi chúng
ta làm lễ qui y là một việc làm đầy sức mạnh hầu che
chở và lôi kéo chúng ta ra khỏi những vấn đề khó khăn
trong cuộc sống. Rất nhiều người trong chúng ta luôn luôn
bị ám ảnh bởi những hành động xấu. Ta không thể quên
nó được và không bao giờ dám nghĩ đến những kinh nghiệm
của họ. Cuối cùng, ta phải thành thật mà nhìn nhận rằng
ta cũng giống y hệt những người khác. Chúng ta bắt đầu
tự nhủ “ Ít ra, tôi không phải là người xấu nhất trần
gian, tôi không cô đơn trong sự buồn khổ, có nhiều người
giống tôi, tôi nên có những hành động từ bi hỉ xả với
họ cũng như cho chính tôi.”
Làm
thế nào Phật, Pháp, Tăng cứu chúng ta ra khỏi biển luân
hồi sinh tử ? Tất cả đều tùy thuộc vào thái độ tinh
thần của chúng ta! Chúng ta phải hiểu thấu đáo bản tính
hiện hữu của luân hồi và nguồn sức mạnh vô biên của
Phật, Pháp và Tăng sẽ dẫn chúng ta ra khỏi cái vòng
luẩn quẩn này. “ Tôi không thể cứu nổi tôi. Mặc dầu
tôi có đủ thông minh để làm cho cuộc sống đầy đủ hơn,
sung túc hơn, nhưng tôi không đủ trí tuệ để lôi kéo tôi
ra khỏi sức thu hút, sự bám viú vào những thú vui vật
chất, chúng trói buộc tôi vào kiếp sống luân hồi. Tôi không
có cách nào giải thoát tôi ra khỏi cái vòng luân hồi này.
Nhưng chư vị Phật có thể hướng dẫn tôi. Các Ngài có những
phương pháp, có ánh sáng siêu việt để phá tan bức màn vô
minh đang bao phủ tôi, các Ngài có chìa khóa mở cửa tâm hồn
tôi, như vậy cây trí tuệ trong tôi sẽ lớn mạnh. Tôi qúa
mệt mỏi vì những vấn đề không thể kiểm soát được
mà cứ kéo dài mãi mãi chẳng bao giờ ngừng. Chư vị Phật
sẽ chỉ cho tôi con đường thích hợp nhất để đem tôi từ
chỗ tối tăm ra ánh sáng. Chư Tăng sẽ hướng dẫn tôi và
các chúng sinh ra khỏi vòng u mê. Và Phật Pháp là giáo lý
tối thượng, là con đường chân thật, là sự chấm dứt
mọi khổ đau của chúng sinh.”
Có
rất nhiều ý nghĩa và cấp độ của danh từ Phật Pháp, tùy
theo sự hiểu biết và trình độ của mỗi chúng sinh, và tôi
chắc chắn rằng qúy vị đã từng học hỏi trong kinh sách
của Phật giáo. Khi chúng ta qui y Phật Pháp, đối tượng qui
y chính là Trí Huệ Bát Nhã, qua trí huệ đó, chúng ta sẽ
hiểu thấu được chân tính và hòa nhập làm một với tánh
không, hoàn toàn vượt ra khỏi ý thức nhị nguyên. Chúng ta
luôn luôn nói về Phật Pháp, nhưng Phật Pháp là gì? Phật
Pháp chính là Trí huệ, Trí Huệ Bát Nhã. Tuy nhiên, chúng ta
phải mất một thời gian rất lâu và cần tích lũy rất nhiều
chứng nghiệm thì mới đạt đến Trí Huệ Siêu Việt này.
Bây giờ, chúng ta hãy cùng nhau thảo luận vấn đề này. Một
cái xe hơi, muốn chạy tốt, nó phải tùy thuộc vào rất nhiều
bộ phận, rất nhiều thành phần. Mỗi bộ phận đều không
phải là cái xe. Cũng giống như vậy, trí tuệ là một sự
tổng hợp của rất nhiều nguồn hiểu biết, mỗi một nguồn
là một thành phần trong toàn bộ của con đường trí tuệ.
Vì
thế, chúng ta có thể hiểu rằng có một sự khác biệt giữa
công việc mà chúng ta qui y -Trí Huệ Bát Nhã, một sự hiểu
biết toàn diện bản thể tuyệt đối, Tánh Không- và
Phật Pháp mà chúng ta thảo luận ở đây -trí tuệ để giải
quyết những vấn đề thuộc tinh thần- Trí Huệ Bát Nhã là
một đối tượng toàn tri mà chúng ta qui y. Có rất nhiều
học trò khiếu nại họ đã chờ đợi quá lâu để được
học Tánh Không. Nhưng như chúng ta đã thấy, tôi đã giảng
dạy Tánh Không ở đây! Có điều tôi không tuyên bố và đánh
lừa qúy vị bằng một lời lẽ đơn giản: “ Hãy lại đây!
Tôi sẽ chỉ cho qúy vị Tánh Không, ngày mai qúy vị sẽ giác
ngộ!!!”
Chư
Phật dậy chúng ta Phật Pháp và cho chúng ta biết nó tác động
ở nội tâm ta như thế nào để thực sự chấm dứt khổ
đau. Qua việc thực hành liên tục chúng ta sẽ trở thành Phật.
Tăng sĩ giúp chúng ta thành lập những điều kiện tốt cho
việc thực hành để chắc chắn chúng ta sẽ thanh tẩy được
nghiệp chướng mà chấm dứt khổ đau. Như tôi đã trình bày
trên kia, chư vị Bồ Tát thị hiện bằng vô vàn cách khác
nhau với một mục đích duy nhất là giúp chúng ta trên con
đường thực hành Phật Pháp. Khi các ngài thị hiện ra trong
hình thù hung dữ, chúng ta đừng sợ hãi, đừng tức giận
mà nghĩ rằng các ngài không còn yêu thương chúng ta nữa.
Thay vì thế, chúng ta nên suy nghĩ : “ Vị Bồ Tát này đang
cho tôi biết tôi xấu như thế nào khi tôi tức giận. Nếu
Ngài không làm như vậy thì không bao giờ tôi biết được
chính tôi, tôi nên cám ơn Ngài về lòng tốt của Ngài.”
Bất cứ lúc nào, bất cứ ai giận chúng ta, chúng ta cũng nên
nghĩ rằng ông đó, bà đó... là sự thị hiện của Bồ Tát
để dạy chúng ta về sự nóng giận. Giống như thế, khi nào
chung quanh chúng ta có những người dễ thương, chúng ta nên
nghĩ đến những sự an vui và đó chính là Bồ Tát đang chỉ
cho chúng ta cách trở nên một người an lạc.
Chúng
ta biết rằng có những người khi chúng ta gặp, chúng ta cảm
thấy vui vẻ, an lành, nhưng có những người khi gặp, chúng
ta lại cảm thấy khó chịu, không một chút tình cảm nào.
Nghiệp đấy, nghiệp nó tác động đấy! Trong nội tâm của
chúng ta có những nguồn năng lực gây ra tình trạng này, chúng
ta hoàn toàn không kiểm soát được nó. Một anh đẹp trai,
một cô duyên dáng tự nhiên nó đã như vậy dù ở bất cứ
đâu, một người xấu tự nhiên nó xuất hiện như vậy. Đó
là nghiệp của họ, mặc dầu họ không muốn, rất khó mà
thay đổi được nó. Người Tây phương giải thích bằng khoa
học vấn đề này như thế nào? Nghiệp làm cho đời sống
của chúng ta khó hơn, bực bội hơn, nghiệp cũng làm cho đời
sống của chúng ta dễ hơn, thoải mái hơn.
Tuy
nhiên, không thể nói rằng nghiệp luôn luôn như vậy, nghiệp
không thể thay đổi. Thực ra nghiệp là một hiện tượng
có thể thay đổi được. Khi một nghiệp lực xuất hiện,
thì ngay lúc đó một lực khác cũng xuất hiện để cân bằng.
Hãy
lấy một thí dụ, Gomchen, một con chó nhỏ ở tu viện; tất
cả mọi người yêu thương nó, Phật yêu thương nó, Chúa
Jesus cũng yêu thương nó. Nếu không như vậy, thì không một
ai có thể nói chuyện hoặc đến gần nó được; đến khi
nào họ thay đổi một hình dạng thích hợp hơn thì sẽ lại
gần nó được. Đó là nghiệp của họ. Tất cả chúng sinh
trong cõi luân hồi đều phải chấp nhận những sự việc
xẩy ra cho tới khi nào có một sức mạnh ở phía sau của
kinh nghiệm này, của nghiệp lực này làm cho nó tan biến đi.
Tất cả đời sống của chúng ta đều tùy thuộc vào nguồn
năng lượng này. Khi nguyên động lực của một hành động
đã tan biến, nó sẽ không còn mang lại hậu quả. Hãy quan
sát cuộc đời của ta, ta sẽ hiểu được luật nhân quả.
Đời sống của mỗi chúng sinh tùy thuộc vào đường lối
suy nghĩ riêng, cấp độ ý thức riêng, thái độ riêng và
hoàn cảnh sống chung quanh họ. Đó là nghiệp. Tôi dùng danh
từ nghiệp ở đây hơi nhiều, mong rằng qúy vị hiểu thấu
đáo.
Để
kết luận, chư Phật chỉ cho ta con đường chân thật và sự
chấm dứt tối hậu, Phật Pháp giải thoát ta ra khỏi luân
hồi sinh tử. Các Ngài chỉ cho chúng ta biết nhận định ra
đâu là sự hướng dẫn đúng và đâu là hành động đúng
để phù hợp với con đường tu tập của chúng ta. Điều
này có nghĩa là cho chúng ta, không phải cho Phật, ta phải
thực sự có trách nhiệm trên con đường giải thoát của
chính ta. Chúng ta phải hiểu rõ vấn đề này.
Chư
Tăng trong ba thừa, gồm cả chư vị hộ pháp như Mahakala và
Kalarupa đều là những người bạn của chúng ta; họ có thể
giúp chúng ta bất cứ khi nào, bất cứ ở đâu. Do đó chúng
ta nên hiểu ý nghĩa thật của danh từ Tăng. Phần đông chúng
ta hiểu Tăng là những người mặc tăng bào, nhưng không có
một sách vở nào nói đến điều này. Vì thế, chúng ta có
thể nói rằng tất cả những ai đã hiến mình cho Phật Pháp
qua một nghi lễ đều là Tăng. Những vị Tăng tối cao là
những người đã chứng nghiệm được chân tính, Tánh Không;
bất kể loại áo nào họ mặc, bất kể màu da nào họ có,
bất kể quốc gia nào họ ở...vân vân..., họ đều thực
sự là Tăng sĩ, là những người bạn quí nhất của chúng
ta.
Chúng
ta thường cảm thấy cô đơn, nhưng chúng ta không cô đơn.
Bởi vì, chư Tăng bất diệt luôn luôn đang ở với chúng ta,
đó là chư vị thần tiên, chư vị bồ tát trong mọi hình
dáng và chư vị tăng sĩ trong cả ba truyền thừa. Họ có thể
hướng dẫn chúng ta thoát khỏi những biến động, những
lầm lẫn trong cuộc sống. Một khi chúng ta nhận thức được
điều này là chúng ta không bao giờ thiếu bạn, không bao giờ
cô đơn. Hãy thiền định, hãy đi vào bên trong: người bạn
chân thật không bao giờ bỏ chúng ta đang ở đó.
Đối
tượng quán tưởng khi qui y
Phương
pháp thực hành quán tưởng Ngài Kim Cang Tát Đỏa khác với
phương pháp mà chúng ta thường quán tưởng trên con đường
tiệm tu đến giác ngộ, trong phương pháp tiệm tu đối tượng
chính để quán tưởng là Đức Phật Thích Ca. Nhưng Đức
Phật mà chúng ta quán tưởng ở đây là Heruka Vajrasattva (Kim
Cang Tát Đỏa) hay Vajradhara (Kim Cang Thủ), tùy theo vị nào
dễ cho chúng ta quán tưởng.
Hãy
quán tưởng Ngài Kim Cang Tát Đỏa màu xanh, đứng, đang ôm
choàng nữ Phật tính của Ngài, Vajra Varahi màu đỏ (có nơi
dịch là Phật Mẫu --Dg). Chung quanh Ngài là chư tiên nam và
nữ, 62 vị thần trong mạn đà la Heruka, cùng vô lượng Phật,
vô lượng Bồ Tát và các vị A la hán đã chứng ngộ cảnh
giới an lạc bất diệt.
Nếu
chúng ta chọn Vajradhara để quán tưởng thì Ngài ngồi trên
tòa sen ôm choàng nữ Phật tính của Ngài, Vajradhatu Ishvari.
Ngài mang màu xanh, nữ Phật tính màu đỏ, chung quanh Ngài cũng
giống như sự thị hiện ở trên, ngoại trừ không có 62 vị
thần của Heruka mạn đà la. Tuy nhiên, dù quán tưởng Heruka
hay Vajradhara, hãy nhớ kỹ một điều là vị thầy của chúng
ta cũng xuất hiện y như vậy. Vị thần này là đối tượng
chính để chúng ta quán tưởng khi qui y và chúng ta sẽ trở
nên làm một với Ngài (thầy của chúng ta.) Như vậy, Vajrasattva
hay Vajradhara chính là Phật; chư vị thần tiên, chư tăng
của ba dòng truyền thừa chính là Tăng và Phật Pháp chính
là Trí Huệ của các Ngài.
Ơn
phước của sự quán tưởng Heruka trong tư thế đứng sẽ
được ban phát, sẽ được thấm vào hệ thần kinh của chúng
ta và nó sẽ đánh thức nguồn năng lực nội tại (kundalini,
tâm hỏa) của chúng ta. Công việc này giúp chúng ta trong việc
thực hành maha-anuttara yoga mật tông. (maha là vĩ đại, to lớn;
anuttara là không gì sánh bằng, tối thượng, Trung hoa dịch
là A Nậu Đa La. Trong Kim Cang Thừa có tất cả 6 thừa, bậc
hạ: Kriyayoga, Upayoga và yoga. Bậc thượng: Mahayoga, Anuyoga và
Atiyoga. Anuttara yoga là sự tổng hợp của ba tầng yoga bậc
hạ -- Dg).
Sự
quán tưởng không phải là công việc của đôi mắt, chúng
ta không thể nhìn đăm đăm vào hình ảnh của Ngài để ở
trước mặt chúng ta. Thần xác của Heruka là sự thị hiện
chân bản thể của Ngài trong hình tướng thần linh trước
mặt chúng ta. Do đó, sự quán tưởng là một sự biến đổi,
là một sự chuyển hóa để trở nên làm một với tâm bản
nhiên an lạc, đó là chân tính. Chúng ta không thể cảm
nhận chân tính bằng con mắt trần hay bằng giác quan của
chúng ta. Vì thế, để cảm thông với chúng ta, nguồn năng
lượng siêu việt mới thị hiện thành hình dáng này, trong
suốt như ánh sáng. Sự thị hiện không xuất hiện thường
xuyên nhưng đột khởi như một hình ảnh trên màn ảnh hoặc
như một người đột nhiên thoáng đi qua cửa sổ. Qua sự
quán tưởng này, chúng ta sẽ dễ dàng liên lạc được với
Pháp Thân Phật (Dharmakaya).
Sau
khi qui y, chư Phật và Tăng trong ba thừa -- Thần Tiên,
chư Bồ Tát trong hình thể an lạc hoặc hung dữ cùng các vị
Hộ Pháp...vân...vân -- sẽ hòa tan trong ánh sáng và hòa nhập
trong vị thần chính Heruka. Vajra Varahi cũng trở nên ánh sáng
rồi hòa nhập trong Heruka. Cuối cùng, chính Heruka cũng hòa
tan trong ánh sáng rồi kết tụ lại ở trái tim của Ngài thành
một qủa cầu sáng. Quả cầu sáng này sẽ đến trên đỉnh
đầu (luân xa 7) của ta và tuôn chảy vào đường kinh mạch
chính, đi qua luân xa cổ họng (luân xa 5) để hòa tan vào luân
xa trái tim (luân xa 4) của ta. Như thế là toàn thể con người
của ta trở nên làm một với ánh sáng, đó là vị thầy nguyên
thủy Heruka của chính ta. Tiếp tục tập trung vào đó càng
lâu càng tốt, đừng để những tư tưởng nhị nguyên, cái
này cái kia, quấy phá ta.
Khi
thực hành, chúng ta có thể tập trung vào một điểm như vậy
khoảng nửa giờ. Khi những ý niệm xấu bắt đầu xuất hiện,
hãy ngưng thiền và phát nguyện Tâm Bồ Đề:
Con
muốn trở nên Heruka để hướng dẫn muôn loài chúng sinh đến
cảnh giới an lạc của Heruka.
Ba
phương pháp qui y
Có
ba phương pháp qui y: bên ngoài, bên trong và bí mật. Thông
thường, phần đông chúng ta nghĩ rằng kinh điển hay Ba la
mật, là phương pháp duy nhất để qui y. Đó là phương pháp
mà chúng ta gọi là qui y bên ngoài, hiện nay phương pháp này
thường được giảng dậy. Theo cách này, qui y Phật là một
vị Phật ở bên ngoài chúng ta: một người đạt quả vị
Phật, như Phật Thích Ca. Qui y Pháp là những lời dạy bảo
của vị đó. Qui y Tăng là qui y các vị đã được chỉ định
hay các vị đã chứng ngộ được pháp tánh trong sự dạy
bảo, như tôi đã giải thích ở trên. Phật, Pháp và
Tăng đã hiện diện như vậy thì sẽ có đầy đủ quyền
lực để hướng dẫn chúng ta là những kẻ sợ hãi luân hồi
sinh tử, chúng ta nên qui y các Ngài.
Còn
lại hai phương pháp qui y kia là của Mật tông. Qui y ở bên
trong là qui y đức Phật mà chính ta sẽ trở thành. Đối
tượng Trí Huệ, Phật Pháp tương lai, là chính Phật Pháp
nội tại. Khi ta chứng ngộ được cảnh giới đó, chính ta
sẽ trở thành Tăng: đó là đối tượng, vị Tăng nội tại.
Theo phương pháp qui y này thì ta không chỉ là một vị Tăng
mà thực ra ta đã hợp nhất với Tam Bảo và ta cũng không
cần phải qui y một cách riêng biệt nào bên ngoài nữa.
Khi
qui y theo phương pháp nội tại này, tâm của ta sẽ trở nên
làm một với chân tâm; tất cả đều chuyển thành cảnh trí
của Heruka hay của Vajradhara, cùng với chư Bồ Tát, Thần
Tiên như đã trình bày ở trên. Để theo phương pháp này,
ít nhất ta cần phải có một sự hiểu biết sâu rộng về
những ý niệm sai lạc và những phóng chiếu của bản ngã,
như thế ta mới có thể thanh tẩy được những vấn đề
khi ta qui y. Đây không phải là một điều dễ dàng.
Qui
y bí mật là phương pháp thứ ba. Phương pháp này là phương
pháp khó nhất. Ta phải biết rằng khi đã qui y hệ thần kinh
của ta đã được thấm nhập bởi những nguồn năng lượng
an lạc thay vì những nguồn năng lượng ô nhiễm của những
lôi kéo, của những bám víu vào cảm giác. Ở đây ta sử
dụng cái nguồn năng lượng đã sẵn có trong hệ thần kinh
của ta, để phát khởi cùng một lúc với niềm hỷ lạc và
hợp nhất với chân tính để tiến lên con đường giải thoát.
Kinh nghiệm này sẽ thực sự giải thoát ta khỏi những bất
mãn và trí phân biệt nhị nguyên. Phần đông chúng ta không
ai ý thức được cái nguồn năng lượng đã sẵn tiềm ẩn
ở bên trong chúng ta. Nhưng khi chúng ta đã tạo được một
trạng thái đúng qua việc thực hành, như phương pháp thiền
này hoặc phương pháp thiền Tum-mo (luyện tâm hỏa) là chúng
ta có thể kinh nghiệm được sự hoạt động của nguồn năng
lượng an lành này mà trước đây chúng ta không bao giờ nghĩ
đến nó. Tôi được nghe có nhiều người đã đạt được
những kinh nghiệm vĩ đại về nguồn năng lượng này ở bên
trong hệ thần kinh của họ khi họ thực tập phương pháp
tu dưỡng Chu-len của tôi.
Đây
là ba phương pháp qui y mà chúng ta không còn phải thảo luận
thêm gì nữa, nó đã được dạy bảo để cho những người
muốn thực hành Đạo pháp chọn lựa phương pháp nào thích
hợp nhất trên con đường phát triển tâm linh của họ. Phương
pháp qui y bên ngoài phổ thông nhất, phương pháp bí mật dành
cho những người có cơ duyên, cho những người có căn cơ.
Nếu
chúng ta hiểu được ý nghĩa chân thực của sự qui y, chúng
ta sẽ nhận được kết quả tốt đang xẩy ra trong tâm chúng
ta và sẽ kinh nghiệm được những ơn phước của nó. Như
vậy chúng ta sẽ thực sự hạnh phúc khi qui y và mỗi lần
chúng ta làm việc này, nguồn năng lượng hỷ lạc sẽ lớn
dần trong trái tim của chúng ta. Nếu chúng ta không biết qui
y thì dù thiền bất cứ cách nào đi nữa cũng chỉ như tuyết
rơi trên đường, nhìn thì hấp dẫn lắm, đẹp lắm nhưng
sẽ tan biến mau. Giống như vậy, sự thiền định của chúng
ta sẽ không có kết quả lâu dài. Với sự hiểu biết sâu
xa về qui y, chúng ta sẽ bắt đầu nếm mật ngọt của Phật
quả.