Nội
Qui Y và Thiền Định trong Tính Không
Tìm
hiểu Tính Không
Tại
sao thực hành phương pháp nội qui y của mật tông quá khó?
Tại vì nó được hoàn thành bởi tâm, ở trong tâm. Để bắt
đầu công việc này, qui y phải được thực hiện bằng tất
cả trái tim, trọn vẹn cả tâm hồn. Qui y không phải là lặp
đi lặp lại một vài câu nói trong khi tâm không có một chút
rung động nào. Có nhiều người qui y vì tập tục, xã giao.
Miệng thì tụng: “ Namo Thầy, namo Phật, namo Pháp, namo Tăng
” mà không hiểu một chút ý nghĩa gì và tâm không một chút
rung cảm nào. Một số người khác thì lặp đi lặp lại theo
những người chung quanh như một con vẹt. Đó không phải là
qui y, nó giống như dùng một bữa ăn sáng, như đi nhà thờ
theo thói quen hoặc vì bắt buộc, mà không có một chút thay
đổi gì, không có một chút cảm nhận nào, là chúng ta đang
đặt chân lên con đường giải thoát.
Như
tôi đã nhấn mạnh ở trên, khi chúng ta dùng phương pháp nội
qui y thì tâm của ta trở nên làm một với Phật tính,
làm một với Đại lạc, làm một với Trí tuệ và chúng ta
chuyển tất cả vào cảnh giới thánh thiện thanh tịnh của
Heruka. Đừng kiếm tìm những đối tượng nào khác ở bên
ngoài để qui y! Tôi biết rằng qúy vị đang nghĩ nó ở đâu
đó trước mặt qúy vị. Tâm nhị nguyên của chúng ta nghĩ,
“Tôi đang qui y.” Chúng ta đang ngồi đây, nhưng làm một
vài việc ở ngoài kia. Tâm nhị nguyên của chúng ta phân biệt
chủ thể và đối tượng (nhị nguyên: tôi/qui y, chúng ta/đây....--Dg).
Ngay khi chúng ta nghĩ chúng ta đang làm một việc gì thì lập
tức, một cách rất tự nhiên, chúng ta nghĩ đến một hành
động ở bên ngoài. Điều này xẩy ra bởi vì chúng ta đã
có quá nhiều dấu vết nhị nguyên, dấu vết hay phân tích
và so sánh trong tâm khảm của chúng ta (đây chính là những
tiền ý niệm đã có sẵn ở trong đầu chúng ta, đã huân
tập do tập quán, thói quen, kinh nghiệm... từ muôn vàn kiếp
trước --Dg).
Vì
thế, khi áp dụng phương pháp nội qui y thì chính tâm ta trở
nên niềm an lạc cho chính tâm ta. Khi ta phát khởi lòng tin
mãnh liệt vào chân tính thì ngay lập tức nó biến chuyển
và xuất hiện trong ta như là Heruka. Ta hoàn toàn cảm nhận
ta và Heruka là một. Trong tinh thần đó ta qui y. Phương pháp
này cực kỳ hữu hiệu và ơn ích. Có thể rất khó hiểu
nhưng chúng ta nên làm thử.
Để
hiểu phương pháp qui y này, bắt buộc chúng ta phải hiểu
Tính Không. Nếu không, công việc chuyển hóa của tâm ta vào
đại lạc, vào sự vĩnh cửu của trí tuệ sẽ khô cằn như
một ý niệm bình thường, thay vì đó chính là sự sung mãn
của một kinh nghiệm nội tại. Nếu ta đã hiểu rõ ràng về
tâm bản nhiên, nếu tâm ta đã từng có những kinh nghiệm
về tính không thì đó là mối liên hệ thật dễ dàng cho
tâm ta trở nên làm một với trí tuệ, để chuyển hóa và
hòa nhập ta là một với Heruka. Với phương pháp này tâm ta
hòa nhập trong nguồn năng lượng đại lạc của Heruka thay
vì những ganh ghét, những tham lam và những bám víu thông thường.
Nếu
thực sự tâm ta đã hòa nhập trong niềm an lạc đó thì ta
không cần phải cầu nguyện, không cần phải tụng những
câu: “ Namo Phật... vân vân...” Lời nói không qui y! Những
kẻ yếu hèn thường cần ngôn từ để truyền thông nhưng
ngôn từ chỉ có ý nghĩa, giá trị của ngôn từ. Nếu ta đã
thực sự kết hợp với nguồn đại lạc thì ta đâu cần
qui y bằng những lời thốt ra từ môi miệng. Như vậy, dù
ở bất cứ đâu, làm bất cứ gì, trong bất cứ thời điểm
nào, ta vẫn có thể qui y trong từng giây từng phút, vì ta
đã là một với những sự việc này rồi. Chúng ta biết rằng
sự vĩnh cửu, niềm an lạc của trí tuệ thì vô cùng sâu
thẳm và trong sáng. Qui y không phải là ngồi bắt chéo chân
như trong lúc thiền định. Sự thành tựu của con đường
này là một sự tiềm ẩn tự nhiên không tùy thuộc vào những
hành vi bên ngoài. Như vậy qua phương pháp tu tập thanh tẩy
này chúng ta có thể đạt giác ngộ một cách nhanh chóng và
dễ dàng.
Sự
đạt ngộ tính không có một giá trị hạnh phúc vĩnh cửu
thường hằng. Ngược lại, niềm vui của thế gian thì ngắn
ngủi và thường để lại đớn đau khi nó biến mất. Nếu
chúng ta không bám víu vào những thú vui vật chất thì chúng
ta sẽ không đau khổ khi nó ra đi.
Nếu
chúng ta không hiểu thấu đáo tính không bằng những thực
chứng thì ít ra chúng ta cũng phải có một ý niệm rõ ràng
về nó, để chúng ta có thể vượt qua được những ý niệm
sai lầm trên con đường chúng ta đi, đó là những vết hằn
đã in sâu trong tâm khảm chúng ta. Thông thường, những ý
niệm mà chúng ta đã có về chúng ta thì rất tự nhiên. Tôi
nghĩ, “Tôi là Thubten Yeshe” nên trong tâm tôi đã có một
hình ảnh rõ rệt nào đó về cái đầu, tay chân cùng những
giác quan của tôi. Cho tới khi nào chúng ta còn nhìn chúng ta
theo kiểu này thì chúng ta không thể nào hòa hợp tâm thức
của chúng ta với sự bất diệt, với niềm an lạc. Khi có
sự hiểu biết về tính không thì chính sự hiểu biết này
sẽ là nguyên nhân để phá vỡ những hành động xấu xẩy
ra hàng ngày, đây là luật liên đới của dòng tư tưởng,
nó làm việc một cách tự nhiên, tự động trong tâm của
chúng ta.
Nếu
chúng ta có một trí thông minh bén nhậy, thì không khó lắm
để hiểu tính không. Chúng ta không cần phải học những
bài triết phức tạp, cũng không cần phải nghiên cứu những
bài tập của các vị Lạt ma. Dĩ nhiên, chúng ta có thể học
trong sách hoặc qua một vị thầy, nhưng nếu chúng ta có khả
năng, chúng ta có thể học qua phương pháp vô cùng đơn giản
này: đừng tin những gì do ngũ quan đem lại. Không cần phải
nghiên cứu sâu xa hơn cũng không cần phải khôn ngoan hơn nữa
để biết rằng cái gì đã ngăn che không cho chúng ta nhìn
ra được tính không. Hãy nhận xét đơn giản rằng tất cả
những gì chúng ta cảm nhận được hàng ngày trong cuộc sống
qua thế giới cảm giác thì hoàn toàn sai lầm. Đó là những
nhận thức sai lầm của cái tôi. Ngay khi chúng ta phát giác
ra điều này thì những quan điểm sai lầm tự nó sẽ biến
mất. Điều cốt tủy mà phương pháp tu tập tuyệt diệu này
mang lại là nó sẽ giúp chúng ta nhìn ra ngay được những
phóng chiếu sai lầm của cái tôi để rồi cắt đứt nó hoàn
toàn.
Chúng
ta luôn luôn cảm thấy bất an, lo lắng. Trên đường đến
gặp một người, ta thường nghĩ, “ có thể cô ta không thích
tôi, không biết anh ta có thiện cảm với tôi không? ước
gì tôi là người dễ thương” hoặc “ có thể cô ta không
thích giọng nói của tôi,” ...vân...vân... Những tư tưởng
đa nghi như vậy thường đến từ những ý niệm sai lầm,
từ những lối diễn dịch sai lạc của một tâm vô minh. Chúng
ta nên sớm nhận ra rằng tất cả sự vật đều bị sơn một
lớp bởi tâm vô minh của chúng ta, những quan niệm hão huyền,
những tư tưởng và những cảm xúc của chúng ta đều không
có một liên hệ thực tế nào. Chúng hoàn toàn cá biệt, ta
nên chấm dứt ngay những cảm nghĩ bất tịnh này. Ngay cả
khi người khác khinh thường ta, gọi ta là kẻ trộm cắp,
ta cũng nên kiểm soát lại và không nên buồn khổ. Đó là
những ơn ích thực tế mà sự hiểu biết này mang lại.
Vì
đang sống trong thế giới cảm giác nên ta cho rằng những
ý niệm sai lầm và những phóng chiếu của tâm vô minh là
thật. Chúng ta thường nghĩ nhìn được là tin được: “Tôi
đã nhìn thấy cái đó thì nó phải thật chứ!” Lại có
những người tin một cách say mê, mù quáng rằng triết thuyết
của họ mới thực là lý tưởng cho xã hội, cộng sản hay
tư bản, đều sai lầm hết, đều là ảo tưởng hết! Nếu
chúng ta cứ tin theo kiểu này, chúng ta sẽ không bao giờ khám
phá được tính không, nó sẽ ở xa mãi tận đâu đâu. Khi
chúng ta nhận ra được quan điểm của chúng ta về thế giới
này hoàn toàn là huyễn ảo, quan điểm của chúng ta về thực
tại thì lờ mờ như một tấm màn hư ảo dầy đặc thì cái
quan niệm sai lầm đó sẽ tự biến mất, cái còn lại là
những nghịch lý của nó, đó là quan niệm đúng về tính
không. Ở ngay giây phút vượt thoát ra ngoài tâm nhị nguyên,
là lúc chúng ta kinh nghiệm tính không.
Vì
thế, chúng ta có thể học được tính không trong từng giây
phút, trong từng ngày. Ngũ quan của ta không thể rời khỏi
những bám víu vào thế giới cảm giác, chính vì thế mà ta
vẫn thường tin rằng bất cứ cái gì ta thấy được đều
thật như nó xuất hiện. Nhưng nếu chúng ta cứ tiếp tục
nghiên cứu những nhận thức và những điều mà chúng ta tin
thì chúng ta sẽ biết được rằng không có lúc nào mà chúng
ta không học tính không, tiếp cận tính không. Đôi khi sách
vở và triết học còn làm chúng ta rối mù hơn là giúp chúng
ta hiểu được tính không; vì nếu chúng ta không biết làm
cách nào để phối hợp chữ nghĩa với kinh nghiệm thì chữ
nghĩa sẽ gây ra rất nhiều trở ngại, phiền toái cho tâm
ta. Nếu ta ý thức được công việc này thì ngay một chữ
cũng đủ cho ta hiểu trọn cả vấn đề.
Những
người nào nghĩ rằng để hiểu được tính không, cần phải
nghiên cứu hàng ngàn vạn tài liệu, phải nhớ từng chữ
của những bài tập, thì họ sẽ bị nhàm chán và điên đầu.
Rồi họ cho rằng, cố gắng hiểu tính không trong cuộc đời
của họ là một điều không tưởng. Nhưng chúng ta có thể
hiểu tính không một cách dễ dàng khi chúng ta nhìn nhận bất
cứ điều gì, bất cứ quan niệm nào được nhận xét bởi
một tâm vô minh thì đều huyễn ảo, đều không có thật,
ngay cả những gì liên hệ đến nó. Mặc dù, trong vô lượng
kiếp cái tôi của chúng ta đã thâu thập, đã bám víu vào
những sự kiện mà bây giờ nó bắt chúng ta phải tin rằng
“cái này thật, cái kia thật,” đó là nguyên nhân của đau
khổ. Cho tới khi nào tâm ta còn vô minh thì ta sẽ nhìn thấy
bất cứ một đối tượng nào cũng đều nằm trong vòng nhị
nguyên, trong vòng phân biệt. Bất cứ đối tượng nào được
cảm nhận theo kiểu này cũng đều là những cảm nhận không
có thật.
Tuy
nhiên, chúng ta cũng không thể nói rằng chẳng cái gì có thực:
“ Mũi tôi, lưỡi tôi, miệng tôi -- không có cái gì của
tôi là thực.” Làm thế nào chúng ta có thể nói rằng không
có ánh sáng, không có cái bàn? Cái kiểu lý luận phủ nhận
này hoàn toàn sai. Tốt hơn, chúng ta hãy nhận xét: dù có hay
không có quan niệm của tôi về cái bàn thì cái bàn vẫn có
thực, lúc đó ta sẽ thấy rằng cái nhận xét của ta hoàn
toàn không có thực. Hãy nhận xét, tất cả những quan niệm
của chúng ta về bất cứ sự việc gì, chúng ta cũng đều
nhận thấy rằng không có một cái nào tồn tại (thực có)
như nó xuất hiện. Chúng ta luôn luôn nói về sự vật theo
kiểu này: “ Nước Nepal như thế này, nước Mỹ như thế
này, Aâu châu giống như thế này...vân...vân...” Chúng ta
đang nói một điều vô nghĩa lý. Nước Nepal, nước Mỹ và
Aâu châu mà chúng ta đang nói đều không có thật như vậy,
rồi chúng ta lại nghĩ: “ Ồ, cái lớp thiền này khó quá!”
hay “ tu tập theo kiểu này cũng mang lại đau khổ thôi! ”
Chúng ta đang sống trong một thế giới mộng tưởng của những
đối tượng huyễn ảo. Cái tâm mộng mị của chúng ta đang
làm chúng ta đau khổ,
Quan
điểm này không có nghĩa là chúng ta hãy từ chối sự hiện
diện của thế giới cảm quan. Điều này hoàn toàn không hợp
lý. Chúng ta không nên quan tâm về một nước Nepal có hay không
có; công việc của chúng ta là hãy kiểm chứng xem sự
diễn giải của tâm ta về một nước Nepal như thế nào? có
thực hay là không? Vấn đề ở đây là, những ý niệm sai
lầm của chúng ta đã xây dựng lên một quan điểm về một
nước Nepal mà nó hoàn toàn không giống một chút nào với
một nước Nepal thực ở ngoài thiên nhiên, ngay cả những
vấn đề liên quan đến nó, chúng ta đã hoàn toàn bám víu
vào nó. Cái tâm vô minh của tôi xây dựng về tôi như thế
này: “ Thubten Yeshe như thế này, thế này, thế này....”
-- nhưng điều này hoàn toàn không đúng một chút nào so với
bản tính chân thật của tôi -- tôi đã bám víu vào những
điều không có thực này, thật là tội nghiệp cho những phóng
tưởng này! Chúng ta đã phát triển những bám víu qua muôn
vàn kiếp sống, vì tin rằng nếu không có cái gì để bám
vào thì sẽ bị mất mát, bị hụt hẫng. Khi chúng ta tin vào
sự vật vô thường thì chúng ta sẽ bị mất, thí dụ, trong
tiến trình của sự chết, ta thực sự sợ hãi vì ta cảm
thấy mất tất cả.
Để
chứng nghiệm được chân tính, tính không, trước nhất chúng
ta phải tìm kiếm và khám phá ra nó đang ở trong tâm của
chúng ta. Nếu chúng ta tìm kiếm chân tính ở những hiện tượng
bên ngoài như cây cối, cái bàn hoặc ở một người nào khác
thì chúng ta sẽ không bao giờ tìm được. Theo kinh nghiệm
của các hành giả Aán độ và các vị Lạt ma Tây Tạng, tính
không không bao giờ được chứng nghiệm theo kiểu này.
Chúng
sinh trong luân hồi tự nhiên là thích nhìn ra bên ngoài. Chúng
ta thường nghĩ rằng, chúng ta có thể hiểu được thực tại
bằng cách nhìn vào những gì người khác làm. Chúng ta cố
gắng có được những tiến bộ bằng cách dòm ngó những
người hàng xóm. Họ có cái gì? Làm sao họ có được những
thứ đó? Chính những xu hướng này đã nói lên chúng ta không
thể tìm được thực thể. Nếu đây là những thái độ của
chúng ta thì chúng ta sẽ không bao giờ chứng nghiệm được
tính không, mặc dù có học hỏi cả một đời.
Để
khám phá nội tâm, để có được những chứng nghiệm nội
tại của tính không, chúng ta phải bắt đầu bằng cách tìm
kiếm bản lai diện mục của chúng ta. Khi đã khám phá được
thực thể nội tại đó, chúng ta sẽ dễ dàng khám phá ra
thực thể của thế giới hiện tượng này. Nguyên lý căn
bản của tính không không đến từ trí thông minh, như việc
nghiên cứu những lời dạy bảo của các vị thầy hay từ
những buổi thảo luận tâm linh. Nếu chỉ qua những phương
tiện đó, chúng ta không thể chứng nghiệm được tính không.
Chúng ta cũng phải kiểm soát tâm để xác định được những
ý niệm sai lầm, những quan điểm mù quáng và nên thực hành
phương pháp thanh tẩy.
Chân
tính, tính không, nằm ngay ở tâm mà tại sao chúng ta chưa
khám phá ra được, mặc dầu chúng ta đã học hỏi cả nhiều
năm trời? Tại vì những rung cảm xấu xa, tội lỗi đang che
kín, đang ngăn cản chúng ta làm việc này. Do đó, để cho
chân tính được hiển lộ trong tâm, một điều vô cùng quan
trọng khi học hỏi những lời dạy bảo về tính không và
kiểm soát tâm là chúng ta nên tẩy rửa những chướng ngại
bằng phương pháp thanh tẩy, như phương pháp thờ lạy tôn
kính và phương pháp hợp nhất với Phật Kim Cang Tát Đỏa.
Nói cách khác, để tinh tiến trong việc nghiên cứu tính không
và thực chứng, chúng ta cần thực hành hai điểm: phát triển
sự hiểu biết về tính không và thanh tẩy những căn bệnh
tâm thần, như những ý niệm sai lầm, những quan điểm mù
quáng mà chúng ta đã khám phá ra chúng khi chúng ta phân tích
tâm. Sức mạnh của sự phối hợp này sẽ dẫn chúng ta trên
con đường chứng ngộ tính không một cách dễ dàng hơn.
Ngày
xưa, khi đại lạt ma Tây tạng Tsong Khapa đang nghiên cứu và
phân tích tính không theo sự dạy bảo của phái Madhyamaka (Trung
đạo), thì Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát xuất hiện trước mặt
ngài và nói: “ Không có ai trên quả đất này có thể dạy
con tính không.” Vì thế,Lạt ma Tsong Khapa đã đi vào những
hang cốc cô tịch, thực hành phương pháp thanh tẩy và thiền
định, sau cùng ngài đã trực ngộ tính không, nó vượt hẳn
ra ngoài những ý niệm về tính không theo quan điểm Trung đạo
của Long Thọ. Như vậy, phương pháp Heruka Vajrasattva chẳng
những vô cùng tuyệt diệu trong lãnh vực thanh tẩy mà còn
giúp chúng ta khám phá chân tính một cách dễ dàng, nội tâm
của chúng ta có một mãnh lực tự phá hủy những ý niệm
sai lầm.
Sở
dĩ chúng ta phải bàn thảo dài dòng về tính không là để
cắt nghĩa vấn đề nội qui y. Để thực hiện nghi lễ nội
qui y một cách đúng đắn, chúng ta phải hiểu được tính
không và thanh tẩy những quan niệm sai lầm của chúng ta về
những phóng chiếu, về những vọng tưởng của bản ngã.
Khi chúng ta nghĩ “ Tôi như thế này, thế khác, sinh ở đây,
mang những đặc tính này... vân...vân...” là những trở ngại
bắt đầu kéo đến. Những phóng chiếu của bản ngã là nguyên
nhân của những vấn đề. Thí dụ, một người sinh ra trong
một gia đình Do thái, ngay khi họ xác nhận họ thuộc chủng
tộc Do thái là ngàn năm lịch sử đến với họ. Cho tới
khi nào cái tôi còn đó, là những vấn đề, những trở ngại
tự động xẩy ra.
Gía
trị tuyệt vời của tâm lý học Phật giáo là nó có thể
diệt trừ tận gốc rễ mọi vấn đề, chấm dứt hoàn toàn
và mãi mãi tất cả những nguyên nhân của vấn đề. Như
vậy, gía trị này hoàn toàn khác biệt với giá trị tâm lý
học của Tây phương, tâm lý học Tây phương chỉ làm giảm
bớt những triệu chứng của khổ đau, nhưng gốc rễ của
khổ đau vẫn còn đó, khi thay đổi một sự kiện nhỏ trong
một toàn thể rộng lớn lại là nguyên nhân cho một vấn
đề khác nổi dậy. Chúng ta nên hiểu thấu vấn đề này
và hãy biết ơn Đức Phật đã chỉ dạy cho chúng ta một
phương pháp tâm lý học tuyệt vời để điều trị tận gốc
những vấn đề của con người.
Khi
chúng ta thành tâm thực hành phương pháp tu tập này là chúng
ta tự chuyển hoá chúng ta trong thần tính của Heruka, chúng
ta nên hiểu rằng tất cả tiến trình chuyển hoá này đều
được tự thể hiện qua sức mạnh của tính không trong chính
tâm của chúng ta. Nó tuyệt đối không là gì cả nếu đem
so sánh với sự kiện trở nên một cái gì, thí dụ, trở
nên một cây nến. Hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Chúng ta
phải tuyệt đối hiểu thấu vấn đề này. Rất nguy hiểm
nếu chúng ta không sáng tỏ vấn đề. Tôi nghĩ rằng những
người Tây phương phải mất một thời gian rất dài mới
hiểu được. Chúng ta bắt buộc phải nhìn ra được sự khác
biệt này.
Khi
hiểu được tính không, chúng ta sẽ có một sức mạnh đem
tâm chúng ta kết hợp làm một với đại lạc của chân tính,
điều này hoàn toàn khác biệt với những phóng chiếu, với
những vọng tưởng của bản ngã. Đại lạc này được chuyển
hoá trong thần tính. Chúng ta có thể nhìn được sự khác
biệt to lớn giữa sự trở nên Heruka Vajrasattva và trở nên
một cây nến. Nếu chúng ta không có sự hiểu biết sâu thẳm
về sự tự phát triển của phương pháp này thì khi có người
phê bình sự thực hành của chúng ta “cái gì là sự khác
biệt khi trở nên một Heruka hay một cây nến? Tốt hơn hết
hãy trở nên một đoá hoa hồng, ít ra anh còn có mùi thơm!”,
chúng ta sẽ cứng họng mà không trả lời được. Rồi
chúng ta bắt đầu nghi ngờ việc tu tập: “ Đây là một
ý kiến hay. Tôi không trả lời được câu hỏi. Có lẽ toàn
thể công việc thực hành của tôi sẽ không mang lại ơn ích
gì mà chỉ cố gắng trở nên một cây nến.” Nếu đây là
trình độ hiểu biết của chúng ta trong vấn đề này thì
nó còn kém hơn cả cái chẳng có gì. Chúng ta nên hiểu sự
khác biệt này.
Hầu
như tất cả chúng ta khi thực hành những phương pháp thiền
định đều quán tưởng Đức Phật Thích Ca hay Quan Thế Aâm
Bồ Tát. Nếu chúng ta có một chút hiểu biết về tính không,
chúng ta sẽ quán tưởng được dễ dàng. Nếu không như vậy
thì với những ý niệm sai lầm và những vọng tưởng vật
chất sẽ là những trở ngại rất lớn cho chúng ta trong việc
quán tưởng về sự chuyển hoá của chân tính vào thần tính
Heruka. Nói một cách khác, nếu lúc nào chúng ta cũng ấp ủ,
cũng mang hình ảnh Phật đi khắp mọi nơi, thì chính niềm
tin tưởng này sẽ làm chúng ta dễ quán tưởng đến Ngài,
rồi một ngày nào đó bất chợt Ngài sẽ hiện diện ngay
trước mặt chúng ta. Như tôi đã từng giải thích ở trên,
toàn bộ sự quán tưởng sẽ xuất hiện cùng một lúc, chúng
ta không cần bắt đầu quán tưởng về một Đức Phật nhỏ
rồi từ từ lớn dần, lớn dần thành một Đức Phật lớn.
Như
vậy, con đường qui y theo phương pháp mật tông không dễ
dàng chút nào. Nó khó hơn nếu so sánh với phương pháp qui
y thông thường (bề ngoài) theo kinh sách mà chúng ta thường
đọc. Tuy nhiên, một khi tâm chúng ta đã đạt đến một trình
độ nào đó trong việc phát triển trí tuệ thì chúng ta có
thể thực hiện phương pháp nội qui y một cách dễ dàng hơn.
Chúng ta cũng nên hiểu rằng phương pháp nội qui y này không
có gì đi ngược lại Phật Pháp. Phương pháp mật tông không
phê bình phương pháp kinh điển là tốt hay xấu! Phương pháp
khác biệt này được mang ra dạy bảo là vì tâm của chúng
sinh có nhiều trình độ phát triển khác nhau. Đến đây tôi
thiết nghĩ không còn gì phải giải thích thêm về sự qui
y bí mật nữa.
PHÁT
TÂM BỒ ĐỀ
Tiếp
theo nghi lễ qui y, chúng ta phát nguyện Tâm Bồ Đề theo phương
pháp mật tông. Điều này có nghĩa là chúng ta cần phát khởi
lòng hăng say đạt quả vị Heruka càng nhanh càng hay, như thế
chúng ta mới có đủ khả năng hướng dẫn những chúng sinh
khác đến quả vị Heruka, cũng trong một thời gian rất ngắn.
Làm như vậy thì không bao giờ chúng ta còn lười biếng.
Thí dụ, chúng ta sẽ làm gì nếu một con nai mẹ đang bị
kẹt trong bụi lửa. Chúng ta không thể ngồi thoải mái mà
nói: “ Hãy để nó cháy đi, tôi không có thời giờ để
lôi nó ra bây giờ, tôi sẽ làm lát nữa.” Dĩ nhiên là chúng
ta phải ngưng ngay những công việc mà chúng ta đang làm, không
cần biết nó quan trọng đến thế nào, chúng ta phải vội
vàng cứu con nai ra khỏi đống lửa ngay. Cũng giống như vậy,
một khi chúng ta biết chúng sinh đang bị trói buộc và cháy
trong lửa dục vọng, trong lửa mê lầm thì chúng ta không thể
lười biếng được nữa. Chúng ta sẽ mau mau chuyển hóa tất
cả những sinh hoạt trong đời sống như ăn, ngủ, làm việc
vào Đạo Pháp. Ta sẽ không cho phép ta đắm chìm trong biển
trầm luân một giây phút nào nữa.
Nhưng
thực sự chúng ta vẫn lười biếng. Cái tâm xấu xa của chúng
ta vẫn đẩy chúng ta vào cuộc sống đầy hưởng thụ: “
Hãy để mẹ tôi cháy, tôi sẽ cứu bà ấy ra sau khi tôi hưởng
thụ xong.” Dĩ nhiên là chúng ta không nói những lời như
vậy, nhưng những thái độ của chúng ta trong đời sống phản
ảnh những cảm nghĩ ở nội tâm của chúng ta. Hãy thận trọng!
Chúng ta thường có những thái độ này. Hãy tưởng tượng
: Tôi đang ngồi thưởng thức những món cao lương mĩ vị
trong một nhà hàng sang trọng thì học trò của tôi hối hả
thông báo mẹ tôi đang bị cháy. Tôi vẫn ngồi thản nhiên
trả lời, “ khoan đã, tôi còn ăn tráng miệng nữa!” Có
phải qúy vị nghĩ ngay đến lòng ích kỷ của tôi phải không?
Dĩ nhiên, lời nói trên hơi quá đáng nhưng nó cho chúng ta
biết một chút về thái độ của chúng ta trong đời sống
thường ngày.
Dĩ
nhiên, chúng ta không nên tức giận, không nên quá xúc động
trong vấn đề này. Nếu tôi khích động qúy vị thật mạnh,
qúy vị sẽ chẳng muốn làm bất cứ điều gì mà chỉ muốn
từ bỏ hết để đi vào rừng núi sâu mà thiền định. Nếu
làm như vậy, chúng ta lại tạo thêm một vấn đề nữa rồi.
Tôi không muốn làm qúy vị qúa hăng say, tốt hơn hết chúng
ta nên từ tốn, thoải mái, nên tìm hiểu và giải quyết mọi
vấn đề bằng trí tuệ. Như tôi nói ở trên, thường thường
ở Tây tạng, sau những buổi học tập về phương pháp tu
tập, các thiền sinh trở nên qúa hăng say, họ vội vã muốn
rời lớp học, từ giã tu viện để đi vào những hang động
trong núi sâu để sống và thiền định như Milarepa. Thực
ra, có rất nhiều người đã ra đi và dĩ nhiên, hầu hết
đã quay trở về sau vài ngày.
Điều
này cho chúng ta biết sức mạnh của Đạo Pháp như thế nào.
Có nhiều người nghĩ rằng đây là quyền lực của Lạt ma
có thể thay đổi đời sống của con người. Nhưng đây chính
là sức mạnh của Đạo Pháp đã thay đổi tâm của con người.
Đạo Pháp tác động tâm thức của chúng ta làm thái độ
tâm linh của chúng ta thay đổi. Đó là sức mạnh của Đạo
Pháp, chẳng phải bùa phép của Lạt ma. Chúng tôi không biết
một chút huyền thuật nào!
Khi
chúng ta thực tập diệu pháp Heruka Vajrasattva, chúng ta lặp
lại lời tụng niệm 3 lần mỗi khi qui y và phát nguyện Tâm
Bồ Đề. Tại sao phải lập lại như vậy? Chúng ta làm
như vậy để khẳng định rằng chúng ta có thời giờ để
thiền và để thẩm thấu ý nghĩa của từng lời tụng vào
tâm chúng ta. Nếu không như vậy, chúng ta sẽ làm cho qua lệ
và tâm hồn sẽ trở nên khô cằn, không có một chút rung
cảm nào với những lời cầu nguyện.
Tuy
nhiên, như tôi đã từng nhắc và khuyên bảo nhiều lần, qui
y không phải đơn giản là lặp đi lặp lại những lời tụng
niệm. Chúng ta có thể tụng lên bằng tiếng Anh, tiếng Tây
tạng, tiếng Phạn...vân vân... hay chúng ta có thể im lặng.
Một điều vô cùng quan trọng là hãy ý thức cái gì đang
xẩy ra trong tâm của chúng ta. Nếu chúng ta có một niềm tin
mãnh liệt và có một trí hiểu biết liên tục lâu dài thì
đạt quả vị Phật chính là mục đích của chúng ta trên
con đường tu tập. Nếu không như vậy, dù có niệm “ Nam
mô Phật, nam mô Thầy ...” cả triệu lần cũng chẳng có
gì xẩy ra. Thật là phí giờ và tốn công sức!
Theo
truyền thống Phật giáo Đại thừa, chúng ta nên thực hiện
nghi lễ qui y cả ngàn lần, tiến dâng mạn đà la (đạo tràng)
cả ngàn lần, quì lạy cả trăm ngàn lần ...vân vân... Làm
như vậy có nghĩa là chúng ta tu tập, qui y bằng tất cả thân
khẩu và nhất là trọn vẹn cả tâm hồn của chúng ta. Nếu
miệng lẩm bẩm “ Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng ”
rồi nghĩ rằng chúng ta đã qui y xong thì rất có thể miệng
thì qui y mà tâm thì uống coca cola. Như vậy chúng ta sẽ được
những ơn ích gì khi tụng niệm những lời chú đó? Có thể
một vài câu chú có những mãnh lực riêng, nhưng dầu vậy,
chúng ta vẫn có quyền nghi ngờ nó không có ơn ích gì cả
nếu tâm chúng ta còn bận rộn, bám víu vào những vấn đề
khác mà không thực tâm chú ý vào lời tụng niệm.
Vì
thế, qui y không dễ chút nào. Khi qui y tập thể, mỗi người
lo chuyện riêng của mình, mỗi người để tâm một nơi khác
nhau. Tùy theo sự hiểu biết và tùy theo ý thức mà mỗi người
qui y khác nhau. Mặc dầu chúng ta tụng những câu chú giống
nhau, lặp đi lặp lại những lời cầu nguyện giống y hệt
nhau mà mỗi người có sự rung cảm, có những chứng nghiệm
khác nhau, điều này nói lên mỗi người trong chúng ta có những
kinh nghiệm, có những tâm cảm khác nhau.
Khi
bắt đầu thực hành Tâm Bồ Đề, chúng ta sẽ biết có rất
nhiều đường để cứu độ chúng sinh. Bổn phận của Bồ
Tát là thực thi sáu hạnh nguyện (bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ.) nhưng phải cần
một thời gian rất lâu để những hạnh nguyện này thực
sự thấm nhập vào tâm hồn chúng sinh. Nó không có kết quả
liền trong một ngày, một giờ. Khi thực hành những hạnh
nguyện, chúng ta sẽ cảm thấy chúng ta đã làm được một
công việc hữu ích trong cuộc đời chúng ta. Mỗi khi ta cảm
thấy ta đã không làm được công việc gì hữu ích, không
giúp gì được cho chúng sinh thì ta phải biết rằng ta đã
không từ bi chút nào. Một khi ta chỉ để ý đến những vấn
đề riêng tư thì ta càng trở nên ích kỷ hơn, hẹp hòi hơn,
cô đơn hơn. Chúng ta sẽ bị ám ảnh “ Tôi có quá nhiều
vấn đề... trở ngại này... khó khăn kia... vấn đề của
tôi... vấn đề của tôi...” và như vậy chúng ta sẽ không
còn để ý đến những vấn đề của người khác chung quanh
chúng ta nữa. Kết quả là ta không còn một chút từ bi nào
dành cho họ.
Những
ám ảnh đó là những nguyên nhân đem đến sự tự hủy hoại
mình. Đừng bận tâm về họ vì ta nghĩ rằng cuối cùng họ
sẽ hiểu được những vấn đề của họ chăng? Những người
muốn tự tử không hiểu một chút gì về những vấn đề
của họ. Đó là lý do họ tự giết mình. Cái nhìn của họ
quá hẹp hòi, quá chật hẹp, quá nhỏ bé. Tự tử không bao
giờ là kết quả của thực tế.
Trong
thời cổ Aán độ, có một ông vua giết cha của mình, khi
ông trực nhận ra điều ông đã làm, ông bắt đầu hối hận,
bắt đầu hối tiếc, buồn đến độ ông không còn dám nghĩ
đến bất cứ điều gì khác. Cuối cùng, ông ta đến với
Phật, Phật hỏi ông “Giết cha của anh có đáng giá không.”
Tự nhiên, ông xúc động, tâm ông bắt đầu tỉnh lại. Oâng
suy nghĩ sâu xa về câu nói của Phật, và cuối cùng ông ngộ
ra rằng mục đích chính của lời Phật dạy là ông nên giết
đi cái tâm bám víu và cái tâm lường gạt, chính tâm vọng
tưởng đã đem ông vào cuộc sống luân hồi này. Qua sự thực
chứng đó, ông đã trở nên một la hán. Điểm quan trọng
ở đây là ông ta đã quá bận tâm, đã bị ám ảnh quá nhiều
bởi những vấn đề riêng, những cảm xúc vô minh này đã
tràn đầy tâm ông đến nỗi không còn một chỗ trống nào
cho sự bình an thanh thản. Nếu tâm chúng ta quá hẹp hòi, quá
nhỏ bé thì sẽ không còn một chỗ nào cho cả chính chúng
ta, còn nói chi dành cho người khác?
Chiếc-bình-thiền-định
: thực tập chín vòng hơi thở
Sau
khi qui y và đối tượng qui y đã chảy tan thành ánh sáng rồi
hòa tan vào ta, ta hãy tập trung thiền định vào một điểm
là Heruka Vajrasattva hay Vajradhara (tùy theo sự chọn lựa đối
tượng để quán tưởng và qui y của mỗi người --Dg) cho
đến khi nào ta trở nên làm một với Ngài. Nếu những ý
tưởng nhị nguyên bắt đầu phát khởi, hãy phát nguyện Tâm
Bồ Đề, như tôi đã giải thích ở trên.
Bắt
đầu từ điểm này của diệu pháp, ta không còn quán tưởng
như những hình thức thông thường; thay vì như vậy, vì đã
trở nên làm một với Heruka nên ta xuất hiện như Heruka hoặc
Vajradhara. Do đó, ta không còn nghĩ rằng “ tôi là thế này...thế
khác...” hay tưởng tượng đây là thể xác được tạo bởi
xương, thịt, máu nữa...-- nhưng cũng đừng bám víu vào những
hình tượng thần thánh này. Điều này có nghĩa là ta quán
tưởng ta là Heruka nhưng đừng phát triển lòng tin ta là Heruka
(nếu bám víu vào đối tượng, chấp vào đối tượng sẽ
tạo cho ta chấp vào cái tôi, kiêu căng ngã mạn - Dg). Sau này,
ta sẽ làm giống như vậy khi ta tụng niệm mật chú trong lúc
thực hành phương pháp sức mạnh của sự điều chỉnh.
Bây
giờ, trong lúc quán tưởng mình là thần linh, ta hãy thực
hiện phương pháp chiếc-bình-thiền-định. Theo phương pháp
này, hãy chỉ thở bằng mũi, miệng ngậm lại. Thở vào và
thở ra chậm chậm, tự nhiên, hoàn toàn không đứt quãng,
nhưng khúc giữa của hơi thở hơi mạnh hơn khúc đầu và
khúc cuối. Nó giống như hình dạng của hạt gạo, hai đầu
nhỏ lại, khúc giữa phình ra một chút. Đừng sử dụng cách
thở gò bó mà ta thường thấy trong một vài phương pháp của
Aán độ giáo.
Có
rất nhiều kênh thần lực (psychic energy channels) trong con người
chúng ta. Ở đây chúng ta chỉ để ý đến ba kênh chính (ba
đường kinh mạch chính -Dg). Kinh mạch trung tâm là một ống
sáng trong suốt to khoảng ngón tay út, chạy ở giữa cột xương
sống thẳng từ luân xa trên đỉnh đầu (luân xa 7, huyệt
bá hội-Dg) xuống luân xa dưới cùng (luân xa 1, huyệt trường
cường -Dg). Ở bên phải và bên trái của kinh trung tâm này
cũng có hai ống sáng nhưng nhỏ hơn ống giữa, chúng chạy
từ hai lỗ mũi lên luân xa đỉnh đầu, ở đây chúng uốn
vòng xuống như cái cán của cây dù, rồi chạy xuống dọc
theo hai bên của kinh trung tâm, đến một điểm cách phía dưới
rốn chừng 4 ngón tay chúng chạy vòng vào bên trong rồi nhập
vào kinh trung tâm.
Hãy
quán tưởng những kênh thần lực này, hơi thở thứ nhất
khí vào qua lỗ mũi trái: chậm chậm, từ từ mạnh, rồi chậm
chậm. Quán tưởng khí đi vào kinh mạch bên trái, tràn đầy,
đi xuống rồi bắt vào kinh mạch bên phải, đi trở lên và
ra ở lỗ mũi phải. Hãy đẩy khí này ra bên ngoài hấp lực
của trái đất, bên ngoài thái dương hệ, ra đi mãi mãi, mang
theo tất cả những nguồn năng lượng tiêu cực như những
bám víu, những tham vọng, những nghiệp chướng của chúng
ta. Hãy làm như vậy 3 lần.
Hãy
tập trung và theo dõi sự chuyển động của khí trong đường
kinh mạch này, hãy để tâm trở nên làm một với sự di chuyển
của luồng khí lực này. Đừng nghĩ đến những vấn đề
nào khác. Đừng cho rằng những đường kinh mạch này là thể
chất được cấu tạo bằng xương thịt, mà hãy nhớ rằng
ta đang quán tưởng chính ta đang là thần linh và những kinh
mạch này là những đường thần lực. Nhưng ta cũng đừng
nắm giữ, đừng bám víu vào cái thể tinh thần này mà
hãy thanh lọc nó như đã trình bày ở trên. Hãy lặp lại
sự thực tập này 3 lần cho lỗ mũi bên phải, khí đi vào
lỗ mũi phải và đi ra bằng lỗ mũi trái. Khí đi xuống bằng
kinh mạch bên phải rồi chạy ngược lên bằng kinh mạch bên
trái, đẩy ra ngoài không gian vô tận tất cả những ám chướng,
tham lam, sân hận và ngu si, có nghĩa là tất cả những gì
ta không muốn có ở trong ta.
Rồi
bây giờ hít vào bằng cả hai lỗ mũi, khí đi vào cả hai
đường kinh mạch bên phải và bên trái tới cái điểm mà
nó nối với đường kinh mạch trung tâm (dưới rốn 4 ngón
tay). Để giúp ta theo dõi dễ dàng, ta có thể nuốt nước
miếng khi khí đi xuống. Khi khí đi đến chỗ kinh mạch trung
tâm, hãy hóp bắp thịt khu xương chậu lại rồi dẫn luồng
khí lực đi ngược lên, từ luân xa cuối cùng vào đường
kinh mạch trung tâm, lên luân xa hoả đại (luân xa 3, vùng đan
điền -Dg), ở đây nó sẽ gặp và hoà tan vào khí lực từ
trên xuống. Một luồng khí an lạc sẽ xuất hiện ở đây,
hãy giữ hơi thở và tập trung vào điểm này. Điều này rất
quan trọng. Cho tới khi nào không còn cảm thấy thoải mái
thì hãy thở ra một cách tự nhiên bằng mũi. Nhưng thay vì
thở ra ngay, khí mà ta đã giữ sẽ đi trở lên và hòa tan
trong đường kinh mạch ở trung tâm. Hãy làm như vậy 3 lần.
Việc
thực tập này rất hữu ích trong khi phát huy nguồn năng lượng
an lạc trong hệ thần kinh của chúng ta. Kinh nghiệm an lạc
là một phần quan trọng của phương pháp thực hành mật tông.
Do đó việc thực tập này vô cùng cần thiết và mang lại
nhiều ơn ích. Đây là suối nguồn an lạc, xẩy ra trong tâm
của chúng ta - chính tâm của chúng ta, không phải của ai khác
- nó được chuyển hoá vào tòa sen cùng với chủng tử HUM
khi chúng ta tiếp tục thực hành diệu pháp này.
Như
vậy, chắc chắn một điều là chúng ta sẽ được an lạc
và thanh thản khi đến đoạn cuối của việc thực tập chiếc-bình-thiền-định
này. Tâm của chúng ta sẽ không còn cơ hội để nghĩ đến
những hoạt động mờ ám hay trở về con đường xưa đau
khổ nữa. Chúng ta có thể kiểm soát được tâm của chúng
ta và chúng ta có thể chọn bất cứ đối tượng thiền định
nào mà chúng ta muốn. Chúng ta không thể thiền nếu tâm còn
bị quấy nhiễu, còn bị lay động. Ngòai ra còn một ơn ích
khác do công việc thực tập này mang lại là nó sẽ phá hủy
bản tính hung hăng, kiêu ngạo, thích khoe khoang của chúng ta;
nó sẽ giảm bớt những mê tín dị đoan và giúp chúng ta vững
mạnh trên con đường hoàn thành phương pháp tu tập này.
Do
đó, điều quan trọng để kinh nghiệm sự an lạc là chúng
ta nên giữ hơi thở và tập trung nó tại luân xa 3 (khí tụ
đan điền -Dg). Hãy chú ý thường xuyên đến niềm an lạc.
Niềm an lạc này đi ngược lại với những cảm giác thích
thú thường tình mà chúng ta thường kinh nghiệm trong đời
sống vô minh hàng ngày, chúng chỉ là những kinh nghiệm vô
ý thức. Tại sao hai kinh nghiệm này lại khác nhau? Tại vì
một đến từ trí tuệ, một đến từ vô minh. Một trở thành
con đường giải thoát, còn một đưa đến đau khổ, bám viú,
tham lam. Qua sự thực tập này, chúng ta có thể khám phá ra
chúng ta là ai, cũng không cần tôi phải nói, qúy vị sẽ tự
biết.
Quán
tưởng nguồn năng lực hòa tan trong kinh mạch trung tâm khi
chúng ta thở ra là hình ảnh của công việc thực hành phương
pháp luyện nguồn tâm hỏa kundalini. Vì thế, hãy thận trọng
khi làm việc này và đừng nghĩ rằng chúng ta sẽ tiêu phí
khí lực trong lúc thực hành. Sau khi đã thực tập xong 9 vòng
hơi thở của chiếc-bình-thiền-định, chúng ta có thể tiếp
tục bước vào con đường chính của phương pháp tu tập.