Phần
chính của phương pháp tu tập
Mở
đầu sự quán tưởng
Trên
khoảng không, cách đỉnh đầu khoảng 6”, xuất hiện chủng
tử PAM, sẽ biến hóa vào đóa sen ngàn cánh. Trên đỉnh đóa
sen này xuất hiện chủng tử AH, sẽ biến hóa vào vầng nguyệt
trắng. Trong trung tâm của vầng trăng có chủng tử HUM. Đột
nhiên, chủng tử này biến hóa thành chày kim cang trắng ở
giữa có chủng tử HUM. Aùnh sáng từ chày kim cang và chủng
tử Hum tỏa sáng khắp mười phương để hoàn thành hai mục
đích. Cả vũ trụ chan hòa vào ánh sáng. Rồi ánh sáng thu
hồi vào chủng tử HUM trong chày kim cang. Chủng tử HUM và
chày kim cang tan hòa vào ánh sáng rồi chuyển hóa thành Ngài
Kim Cang Tát Đỏa.
Thân
Ngài màu trắng, một mặt và hai tay. Ngài cầm chày kim cang
ở tay phải, tay trái ngài cầm chiếc linh (chuông nhỏ). Ngài
ngồi trong tư thế kiết già, tay bắt ấn. Nữ phật tính của
Ngài, Dorje Nyem-ma, ôm choàng thân Ngài. Nữ phật tính màu trắng,
một mặt và hai tay; tay phải cầm dao hình cong, tay trái cầm
ly hình sọ người.
Cảø
hai mặc thiên y và đeo nữ trang, chủng tử OM trên luân xa
đỉnh đầu, chủng tử AH ở luân xa cổ, chủng tử HUM ở
luân xa trái tim. Ánh sáng từ chủng tử HUM ở trái tim Kim
Cang Tát Đỏa tỏa sáng, thỉnh cầu nguồn đại lạc của
các chư Phật trong mười phương.
Trên
đỉnh đầu, xuất hiện chủng tử PAM mầu trắng rồi được
biến hóa trong hoa sen trắng ngàn cánh. Trên hoa sen, xuất hiện
chủng tử AH, rồi được biến hóa vào vầng trăng sáng. Vầng
trăng này không giống như vầng trăng đã được khám phá
bởi các khoa học gia mà là ánh sáng tuyệt đối. Trên vầng
trăng, ngay ở giữa, xuất hiện chủng tử HUM, sẽ được
chuyển hóa vào chày kim cang trắng, ở giữa chày có chủng
tử HUM. Chày kim cang tượng trưng cho sự bền chắc không thể
hủy diệt.
Từ
chày kim cang, đặc biệt từ chủng tử HUM ở giữa chày, ánh
sáng tỏa ra khắp mười phương, bao trùm cả vũ trụ. Ánh
sáng được tỏa ra để hoàn thành hai nhiệm vụ: cúng dường
Chư Phật và Chư Bồ Tát, đồng thời ban phước lành cho tất
cả chúng sinh để thanh tẩy thân khẩu và ý. Tất cả muôn
loài chúng sinh hữu tình và vô tình tan hòa vào ánh sáng, rồi
lại kết tụ vào chủng tử HUM ở trung tâm chày kim cang.
Chày
kim cang cũng tan hòa trong ánh sáng, rồi đột nhiên Ngài Kim
Cang Tát Đỏa xuất hiện. Ngài có thân hình màu trắng, một
mặt và hai tay. Ngài cầm chày kim cang ở tay phải, tay trái
ngài cầm chiếc linh. Ngài ngồi trong tư thế kiết già, hai
bàn tay bắt ấn quyết.
Ngài
ôm choàng nữ phật tính Dorje Nyem-ma (Tạng ngữ, có nơi gọi
là Phật Bà, Phật mẫu, consort, phối ngẫu tính, dù gọi là
gì, dịch thế nào đi nữa cũng không diễn tả hết được
ý nghĩa BẤT NHỊ của PHẬT TÍNH, đây chỉ là hình ảnh,
một biểu tượng của bất nhị - Dg), nữ phật tính cũng
màu trắng và ngồi trong tư thế ôm choàng Ngài Kim Cang Tát
Đỏa. Nữ phật tính một mặt và hai tay, tay phải cầm dao,
tay trái cầm ly rượu thần hình sọ người. Con dao tượng
trưng cho trí tuệ, mục đích để cắt đứt những tạp niệm
và những bám víu vào những thú vui vật chất. Ly rượu thần
tượng trưng cho sự an lạc mà ngài đạt được trong giác
ngộ, đây không phải là người đàn bà say sưa của thế
gian. Mặc dù đây chỉ là một hình ảnh tượng trưng nhưng
nó tạo cho chúng ta một ấn tượng rất sâu đậm.
Nếu
chúng ta đi ngược dòng lịch sử, chúng ta sẽ biết người
đàn bà trong quá khứ bị coi như không có giá trị nào cả,
mà chỉ là một người phục vụ cho đàn ông. Nhưng thực
ra không phải vậy. Truyền thống tâm lý học Phật giáo, nhất
là mật tông, chỉ cho chúng ta biết một cách vô cùng rõ ràng
rằng đàn ông và đàn bà như nhau, cả hai đều có khả năng
khám phá phật tính nằm trong tâm mình. Xa hơn nữa, đàn bà
còn có một tiềm lực mãnh liệt để phát triển nguồn sức
mạnh của trí tuệ và có thể chia sẻ nguồn an lạc đó cho
những yogi (nam). Cùng lúc đó, yogini (nữ) cũng nhận lại nguồn
an lạc từ yogi. Do đó, nếu chúng ta có những kinh nghiệm
nội tâm về sự tượng trưng của nữ phâït tính, thì mỗi
khi chúng ta nhìn thấy tranh ảnh của Đại thừa chúng ta sẽ
cảm nhận được những nguồn an lạc, chiều sâu của những
cảm nghiệm này tùy theo tâm của mỗi người. Thực ra, những
bức tranh này cho chúng ta một sự cảm thông ở bên ngoài
ngôn ngữ.
Tâm
vô minh và tâm giới hạn của chúng ta luôn luôn nghĩ rằng:
“ Tôi không thể làm được bất cứ việc gì ... tôi không
thể làm cái này, tôi không thể làm cái kia...,” điều này
hoàn toàn sai lầm. Chúng ta có thể làm bất cứ điều gì
chúng ta muốn !!! Khi sinh ra chúng ta đã mang sẵn nhiều khả
năng: chúng ta có thể suy nghĩ, chúng ta có thể truyền đạt
những tư tưởng của chúng ta cho những người khác và chúng
ta có thể phát triển một cách không giới hạn những tài
năng của chúng ta. Nếu chúng ta nghĩ chúng ta lười biếng,
chúng ta sẽ lười biếng. Chúng ta sẽ phung phí cuộc đời
và sẽ chẳng làm gì cả. Nghĩ như vậy chúng ta sẽ tiếp
tục nhận chìm chúng ta xuống. Thực sự, chúng ta không như
vậy, chúng ta có khả năng làm được nhiều thứ !
Phương
pháp mật tông sẽ chỉ cho chúng ta những khả năng tiềm ẩn
sẵn có trong chúng ta và giúp chúng ta ngăn cản những tư tưởng
tiêu cực, những tư tưởng này chỉ làm cho chúng ta buồn
nản mà không thực hiện được điều gì tốt đẹp trong
cuộc đời. Chúng ta đã có nhiều cơ hội để gặp gỡ và
học hỏi những lời dạy bảo cũng như những sự hướng
dẫn thực hành. Chúng ta hãy tận dụng những cơ hội và những
hoàn cảnh thuận tiện này.
Nếu
một người bình thường nhìn bức tranh Dorje Nyem-ma cầm ly
rượu thần hình sọ người, tượng trưng cho suối nguồn
an lạc, biểu tượng cho sự chứng đắc chân tính, họ sẽ
nghĩ rằng đây là một ma nữ uống máu. Họ sẽ kinh tởm
và sợ hãi, họ sẽ nghĩ rằng đây là một chiếc sọ đầy
máu người và cho rằng Đại thừa Phật giáo tin vào sự hiến
tế nhân mạng. Họ còn sợ bị chúng ta cắt cổ ! Nếu họ
nhìn bức tranh Yamantaka mang bộ xương người, có lẽ họ sẽ
sợ đến mang bệnh; chính lòng mê tín của họ tố cáo Yamantaka
giết người. Tuy nhiên, ngược lại với lòng mê tín đó,
đây là những biểu tượng cho chúng ta một ý nghĩa vô cùng
thâm sâu mà nó phản ảnh một sự thực chứng cao độ.
Trong
diệu pháp Heruka Vajrasattva hay trong 6 bước tu tập của một
đạo sĩ, có một phần mà chúng ta phải quán tưởng chúng
ta là Kim Cang Tát Đỏa đang ôm choàng nữ/nam phật tính (phối
ngẫu tính). Hiện tại trong các tu viện, các vị sư nam và
sư nữ đã thề nguyền không có vấn đề đụng chạm thân
xác và có thể hiểu rằng họ không bao giờ thực hành phương
pháp này với nhau. Tuy nhiên, nữ phật tính ở đây không phải
là một người đàn bà bằng xương bằng thịt mà là một
âm tính (năng lượng âm) trong tam ma địa (đại định), và
do đó, họ được phép hoà nhập trong lúc thiền định. Phái
nữ có thể quán tưởng mình là Kim Cang Tát Đỏa hay là người
đang ôm Vajrasattva là Dorje Nyem-ma, một người sẽ trở nên
làm một với Heruka Vajrasattva và hoà tan trong đại trí tuệ
an lạc của Ngài. Như vậy là chúng ta chuyển hoá những nguồn
năng lượng xấu thành Trí Bát Nhã của Vajrasattva.(từ đây
sẽ không dịch là Kim Cang Tát Đỏa nữa mà sẽ giữ nguyên
âm Vajrasattva cho phù hợp khi tụng mật chú – Dg)
Mục
đích của việc thực tập này là để phát triển Trí Bát
Nhã Tánh không. Điều này hoàn toàn khác với sự ôm ấp bình
thường của đôi trai gái. Để có thể hòa nhập trong sự
tỉnh thức của an lạc, một điều vô cùng quan trọng là
phải từ từ phát triển tâm tỉnh thức. Do đó, điều trước
tiên là những người tu sĩ nam nữ nên cắt đứt tất cả
những liên hệ thể xác mà chỉ thực tập phương pháp này
với âm/dương tính tam-ma-địa cho đến khi nào đạt được
những thực chứng cao hơn. Chỉ khi nào họ đã phát triển
tâm thức ở mức độ cao họ mới có thể có những liên
hệ bình thường, nhưng cũng không phải là những sự thỏa
mãn phàm tục. Phải một thời gian thật lâu chúng ta mới
có thể đạt đến đó, mà cũng không cần thiết cho chúng
ta phải thực tập như vậy. Vì thế, chúng ta không cần giải
thích thêm chi tiết ở đây.
Điểm
cần phải nhấn mạnh ở đây là biểu tượng ôm choàng đó
giúp người thực tập phát triển Trí Bát Nhã. Nếu phái nữ
có thể làm như vậy, không sao, nhưng nếu nó ảnh hưởng
đến phái nam như là một sự khêu gợi, ngã lòng, chán nản
thì tất cả những tâm trạng đó là tâm trạng phàm tục.
Dĩ nhiên nó cũng ảnh hưởng đến phái nữ khi quán tưởng
hình ảnh nam.
Heruka
Vajrasattva và nữ phật tính của Ngài mặc thiên y và đeo những
bảo châu tuyệt đẹp. Dĩ nhiên, “tuyệt đẹp” ở đây
có tính cách tương đối. Cái gì làm cho một người ở nước
này gọi là đẹp thì lại xấu ở nước kia và ngược lại.
Đối với triết lý nhà Phật thì đẹp, xấu, tốt, dở tùy
theo tâm của chúng sinh. Cái gì là nữ trang và cái gì không
phải là nữ trang đều bắt nguồn từ tâm.
Chúng
ta có thể hiểu cái điều đơn giản này khi nhìn vào sự
phát triển văn hóa của người Tây phương và vào những thời
điểm mà người ta cho là đẹp hay xấu. Qúy vị có thể hiểu
điều này rõ hơn tôi. Tôi chỉ có thể biết được những
điều này qua sự học hỏi triết lý Phâït giáo; còn qúy
vị đã trực tiếp biết và quan sát chúng. Chúng ta chỉ cần
quan sát những người làm ở những cửa hàng, họ thay đổi
cách trang trí, cách trưng bày hàng hóa mỗi ngày. Cái gì đẹp
của ngày hôm qua, hôm nay đã xấu rồi! Qúy vị thật may mắn!
Vì qúy vị chứng nghiệm được lời dạy bảo của Phật
ngay ở đó, nó luôn luôn xảy ra chung quanh qúy vị. Qúy vị
vừa được hưởng đời vừa được hiểu chân lý.
Như
vậy, người từ những quốc gia khác nhau sẽ có những quan
niệm về cái đẹp khác nhau; có thể qúy vị không đồng
ý với tôi về lối diễn tả vẻ đẹp của Vajrasattva và
nữ phật tính cuả Ngài. Tuy nhiên, qúy vị có thể quán tưởng
vẻ đẹp và đồ trang sức của các Ngài tùy theo ý kiến
riêng của qúy vị. Nhưng những biểu tượng trang sức là
những quán tưởng nội tại và do đó nên quán tưởng theo
sự diễn tả trong bài thực tập này. Điều quan trọng là
chúng ta không nên bỏ nó và không quán tưởng đến nó, vì
chúng ta thường nghĩ rằng nó qúa phức tạp cho việc quán
tưởng.
Heruka
Vajrasattva có tất cả 6 loại trang sức khác nhau, nữ phật
tính của ngài có 5 loại. Vật trang sức thứ 6, màu sáng trắng,
chính là thân thể của Ngài, nó nói lên Ngài đã đạt nguồn
chân hỏa (kundalini). Nguồn năng lượng chân hỏa này không
lem luốc đầy người như chúng ta thường thấy ở những
ông đạo sĩ Aán độ có một lớp tro trắng trên thân thể
họ. Có những ông trông yếu xìu chẳng có một chút năng
lực nào, dương tính của họ không hoạt động. Nguồn năng
lượng nội hỏa của Vajrasattva hoạt động mãnh liệt nên
thân thể Ngài sáng, điều này chứng tỏ Ngài đã đạt nguồn
chân hỏa (kundalini), cũng là nguồn đại lạc. (Tôi nói “nguồn
năng lượng nội hỏa” thay vì chỉ nói “ nội hỏa” để
qúy vị đừng hiểu lầm đây là sức lực bình thường của
phái nam).
Cả
Heruka Vajrasattva và nữ phật tính của Ngài đều có chủng
tử OM trên đỉnh đầu (luân xa 7), chủng tử AH ở cổ họng
(luân xa 5), và chủng tử HUM ở trái tim (luân xa 4). Chủng
tử HUM ở trung tâm của vầng trăng. Vầng trăng rất tròn
và là biểu tượng của niềm đại lạc, của Trí Tuệ. Trong
những đêm trời nóng, chúng ta ra ngắm vầng trăng tròn đầy
tự nhiên chúng ta cảm thấy khoan khoái dễ chịu. Đó là một
trong những lý do tại sao vầng trăng lại được chọn làm
biểu tượng cho sự an lạc. Chung quanh vầng trăng là những
mật tự của Heruka Vajrasattva, được đọc theo ngược chiều
kim đồng hồ. Thường thường trong những phương pháp mật
tông, mật tự được đọc theo chiều kim đồng hồ, từ trái
qua phải; nhưng ở đây lại đọc ngược chiều kim đồng
hồ, từ phải qua trái, điều này nói lên Heruka Vajrasattva
đặc biệt để ý đến nguồn năng lượng âm hơn là dương.
Lý do này nói lên phái nữ dùng năng lượng bên trái của
cơ thể hơn là bên phải, trong khi đó phái nam lại dùng năng
lượng ở bên phải của cơ thể nhiều hơn là bên trái.
Khi
Phật tử đi vòng quanh một ngôi tháp, họ thường đi theo
chiều kim đồng hồ, nên ngôi tháp bao giờ cũng ở bên tay
phải của họ. Là một người thực hành phương pháp tính
âm của mật tông, chúng ta nên sáng suốt trong từng sự việc
chúng ta làm, chúng ta có thể đi theo hướng ngược lại. Những
người không có một sự hiểu biết sâu rộng sẽ cho là chúng
ta làm sai và thường thường họ làm khác đi; nhưng những
người có một tâm cởi mở, hiểu biết rộng rãi, họ sẽ
thông cảm những sự hiểu biết của chúng ta về mật chú.
Tuy nhiên, chúng ta không nên khoe khoang, mà nên khiêm tốn, đơn
sơ và hành động đúng theo nghi thức được dạy bảo.
Từ
chủng tử HUM ở tim của Heruka Vajrasattva, có rất nhiều tia
sáng chiếu ra muôn phương để thỉnh cầu phước tuệ từ
các Chư Phật rồi những tia sáng này lại trở về tim và
hòa tan trong chủng tử HUM.
Lễ
cúng dường Heruka Vajrasattva
OM
KHANDA ROHI HUM HUM PHAT
OM
SVABHAVA SHUDDAH SARVA DHARMA SVABHAVA SHUDDHO HAM
Tất
cả đều vắng lặng. Chủng tử AH xuất hiện trong Tánh Không
rồi biến thành một ly hình sọ người rất lớn đựng 5
loại thịt và 5 loại rượu thần. Chúng hòa tan vào nhau thành
một biển trí lực siêu việt.
OM
AH HUM HA HO HRI
Tiếp
theo chúng ta niệm mật chú để thanh tẩy và cúng dường,
đồng thời nguyện cho những vật cúng dường không mất đi
những phẩm chất của nó (OM KHANDA...) , giống như sự cúng
dường từ nội tâm. Nhớ rằng chúng ta đang là hình ảnh
của Heruka Vajrasattva nên chúng ta ban phước và độ trì cho
những hiến vật này.
Rồi
hãy tụng chú Tánh Không (OM SVABHAVA ...). Tất cả trở thành
Tánh Không. Với mật chú này và với một quan niệm đúng
đắn về Tánh Không, chúng ta chuyển hóa tất cả những vật
được dâng hiến và toàn thể các hiện tượng trong vũ trụ
thành trí tuệ và an lạc. Trong tinh thần bất nhị, xuất hiện
chủng tử AH trắng sáng, rồi biến thành một ly hình sọ
vĩ đại. Bên trong chứa đựng 5 loại thịt và 5 loại rượu
thần. Chúng hòa tan vào nhau rồi biến thành một đại dương
của an lạc và trí tuệ.
Sau
đó tụng OM AH HUM HA HO HRI ba lần. Ở đây chúng ta thanh tẩy
những năng lượng không thanh khiết của những phẩm vật
dâng hiến để trừ khử những mùi vị, màu sắc dơ bẩn
và để thăng tiến chúng.
Tôi
nghĩ rằng rất nhiều người trong chúng ta đã có một số
kinh nghiệm về Tánh Không trong khi thiền định, nhưng trí
phân biệt của chúng ta tự động nắm bắt vấn đề mỗi
khi có một ý niệm xuất hiện, để rồi chúng ta lại trở
về những thói quen của đời sống thường ngày. Nhưng khi
chúng ta đã đạt được niềm an lạc của thần trí thì nó
lại hoàn toàn khác, bất kể những gì chúng ta nhận được,
tâm của chúng ta vẫn không hề bị lay chuyển, vẫn không
bị vướng mắc và nắm giữ; ngược lại chúng ta hoàn toàn
an lạc, chúng ta nhận ra được tuyệt đối tính của tất
cả những hiện tượng trong vũ trụ và cảm nghiệm được
chúng trong niềm an lạc tự nhiên.
OM
VAJRASATTVA ARGHAM...SHABDA PRATICCHA HUM SHAVA
Như
vậy là chúng ta đã thực hiện 8 lần dâng cúng Heruka Vajrasattva.
Chúng ta cần có trí tuệ để biến chúng thành hoàn mỹ, tuyệt
diệu; chúng ta cần một sự hiểu biết thật sâu sắc để
hiểu thấu vấn đề.
Bình
thường những người du lịch khi nhìn thấy những ảnh tượng
trong chùa hay trong các tu viện tại Tây tạng, họ đều phê
bình bằng những cảm quan bề ngoài theo những thói quen sẵn
có. Họ thực sự tin rằng chúng ta dâng cúng thịt, giấy,
nước và quần áo cho những hồn ma. Đôi khi họ còn bực
mình khi thấy những ảnh tượng được xếp đặt chung với
những hình tượng kỳ quái khác và họ không thế nào hiểu
được tại sao lại có những người đi dâng cúng cho những
hình tượng này. Hãy thận trọng: nếu đức tin của chúng
ta quá yếu, nếu trí tuệ của chúng ta quá mù mờ thì chúng
ta cũng sẽ nghĩ như vậy.
Do
đó, dâng cúng phẩm vật là một cách thực hành mang lại
nhiều ơn ích. Đây là cách để đối trị những sự lười
biếng, đạo đức giả và đầu óc duy lý: “ôi, đạo tại
tâm mà”, rồi chẳng bao giờ dám bỏ ra một xu để mua phẩm
vật. Tôi mong rằng quý vị hiểu những điều tôi muốn nói.
Khi chúng ta dâng cúng phẩm vật, dù chỉ là một cây nến,
bằng tất cả tấm lòng chân thành, hiểu biết và cung kính
thì nó có giá trị như là dâng hiến trọn vẹn tất cả những
gì chúng ta có trong toàn thể vũ trụ này. Nhưng vì chúng ta
thường có những ý nghĩ nhỏ mọn nên không bao giờ chúng
ta có thể tưởng tượng được chúng ta dâng cúng cả vũ
trụ. Vì thế tám lần dâng cúng tạo cho chúng ta những điều
căn bản để dễ dàng chuyển hóa tâm thức hòa nhập vào
vũ trụ.
Chúng
ta không nên dâng cúng theo thói quen thông thường kiểu thế
gian; thay vì làm như vậy, chúng ta hãy chuyển hóa tất cả
những phẩm vật vào sự an lạc thanh tịnh mà chúng được
thị hiện như là nước, ánh sáng, âm thanh, mùi vị và cảm
giác. Qua sự thực hành này, chúng ta có thể chuyển hóa tất
cả mọi sự vật trên thế gian này thành niềm an lạc tuyệt
diệu, mặc dù chúng mang bất cứ hình thái, sắc tướng bên
ngòai nào. Khoa học đã chứng minh rằng tất cả năng lượng
đều là sự biến đổi trạng thái không ngừng nghỉ; một
năng lượng luôn luôn biến chuyển thành một năng lượng
khác. Thí dụ như năng lượng của mặt trời tác dụng hỗ
tương trên cây cối và những đóa hoa tươi đẹp. Tất cả
mọi sự vật trên vũ trụ đều có thể thay đổi !
Dù
chúng ta quán tưởng niềm an lạc dưới bất cứ hình thức
nào, hình dạng nào, tâm của chúng ta cũng tự động phản
ảnh nó; như thế, tất cả những năng lượng xấu, những
ô nhiễm của những ý niệm sai lạc đều được thay thế
bằng những năng lượng tốt; những nguồn năng lượng tươi
vui này sẽ tự nhiên phát khởi lên trong tâm của chúng ta,
chẳng phải vì có một cục kẹo hay một thỏi chocolate ở
trong tay. Nếu chúng ta làm một thử nghiệm, chúng ta sẽ rất
dễ dàng nhận ra được sự hiệu nghiệm của vấn đề tâm
lý này.
Nhiều
người muốn tự tử. Vấn đề của họ là do những gì họ
tưởng tượng ra, nghĩ ra. Họ chỉ thấy toàn là đau khổ,
trở ngại; họ không thể quên được những nỗi khắc khoải,
những phiền muộn, họ không thể ngủ được hoặc chẳng
bao giờ có được một giấc ngủ an lành. Tự tử không phải
là lối giải quyết những vấn đề trong cuộc sống. Họ
cắt tay, bắn vào đầu. Đây là một điều quan trọng mà
chúng ta phải thấu hiểu tâm lý sâu xa của vấn đề tự
tử.
Tâm
lý sâu xa trong việc dâng cúng cũng vậy, phải hiểu rõ mục
đích chính của cúng dường là gì, nếu không hiểu được,
nếu không nhìn ra được phật tính của sự vật thì sự
vật cũng chỉ là sự vật vật chất mà thôi và sự dâng
cúng cũng chỉ là vật chất như vậy. Nhưng nếu chúng ta hiểu
được siêu việt tính này, chúng ta có thể giao cảm sâu xa
khi thực hành sự dâng cúng để công việc tu tập của chúng
ta đạt được thành qủa, tâm trở nên an lạc hơn, trí tuệ
phát triển hơn. Nếu chúng ta tu tập theo chiều hướng này
thì chúng ta sẽ không bao giờ còn buồn phiền, uất ức và
sẽ nhìn cuộc đời hoàn toàn đổi mới tươi đẹp hơn.
Đừng
bao giờ bi quan trong việc thực hành phương pháp chuyển hóa.
Uống một ngụm nước cam lồ sẽ tươi mát hơn một ly nước
bình thường rất nhiều. Một ly trà hay một ly cà phê chỉ
cho chúng ta một chút mùi vị khoan khoái ở miệng và bao tử.
Sự khoan khoái này chỉ nhất thời và chẳng bao lâu chúng
ta lại phải đi tiểu. Ngược lại, sự an lạc sẽ tác động
sâu xa vào toàn thể hệ thần kinh, làm thanh tịnh năm giác
quan và nguồn năng lượng này không có gì có thể so sánh
được. Đó là sự thật! Tôi không hề nói quá đáng.
Một
số người nghĩ rằng quý vị tăng ni đã không còn màng gì
tới âm nhạc, đã từ bỏ tấât cả. Chúng tôi không từ
bỏ gì cả!!! Chúng tôi thưởng thức, hưởng thụ và
chia sẻ tất cả mọi loại âm nhạc trong vũ trụ. Chúng tôi
vẫn ca hát và nhảy múa với nhau. Chúng tôi có thể ca hát
và nhảy múa khi nào chúng tôi thích, khi nào chúng tôi còn
ở trong tình trạng tỉnh thức, còn trên con đường giải
thoát và còn biết rằng chúng tôi không gây bực bội cho hệ
thần kinh của chúng tôi. Trong những tu viện nam cũng như nữ
ở Tây tạng, chúng tôi vẫn chơi những loại nhạc khí trong
những dịp hội hè và ngay cả trong những lễ nghi tôn giáo
nữa. Chúng tôi không thiếu sót gì trong đời sống, chúng
tôi thưởng thức và an hưởng tất cả!!!
Dĩ
nhiên, nếu chúng ta cứ mãi giải thích những điều này cho
người đời thì họ sẽ nghĩ rằng chúng ta điên hoặc mơ
mộng. Nhưng điều này chẳng điên khùng chút nào, đó là
sự thật. Nếu họ không đồng ý, hãy hỏi họ, “vậy thì
cái gì mới là sự thật?” Họ không trả lời được. Họ
nghĩ rằng họ rất thông minh và hãnh diện vì họ cho rằng
những gì họ đã làm đều là sự thật còn những gì chúng
ta làm đều là những điều kỳ dị, không tưởng. Đó là
một ý niệm sai lạc. Nếu chúng ta phân tích vấn đề bằng
trí tuệ, chúng ta sẽ thấy rằng cả hai bên đều làm cùng
một công việc: huyễn ảo, vọng tưởng; tất cả chúng ta
đều làm những việc hão huyền. Vì thế, cái gì đúng cho
người này thì cũng có cái đúng cho người khác.
Những
phẩm vật ta dâng cúng mang lại ba đặc tính: thứ nhất là
niềm an lạc, thứ hai là sự an lạc này được thể hiện
qua những hiến vật và mỗi hiến vật có những đặc tính
riêng vô tận của chính nó, thứ ba là nó không bao giờ chấm
dứt sự phúc lạc nơi ta.
Chúng
ta có thể tưởng tượng tám hiến vật được làm bởi tám
vị thần. Khi chúng ta bắt đầu bắt ấn quyết để dâng
cúng phẩm vật thì một vị thần tương ứng với phẩm vật
đó liền xuất hiện từ trái tim của chúng ta để làm việc
dâng cúng, rồi ngay sau khi chấm dứt ngài lại tan biến trở
lại trái tim của chúng ta. Vị thần chính là sự thị hiện
của trí siêu việt, khi các ngài tan biến trong tim của chúng
ta, các ngài thanh tẩy và làm cho trái tim của chúng ta trở
nên tốt đẹp, an lạc, những nguồn năng lượng này không
thể bị phá hủy. Mỗi vị đều có bốn tay: hai tay trên cầm
chày kim cang và chiếc linh (chuông nhỏ) còn hai tay kia dâng
cúng phẩm vật.
Tám
hiến vật và 8 vị thần tương ứng là:
argham
Nữ thần rượu tiên mang mầu trắng
padyam
Nữ thần chân sạch trắng
pushpe
Nữ thần hoa trắng
dhupe
Nữ thần nhang mầu khói
aloke
Nữ thần ánh sáng đỏ
gandhe
Nữ thần hương thơm xanh lục
naivedya
Nữ thần thực phẩm nhiều mầu
shabda
Nữ thần âm thanh xanh lam
JAH
HUM BAM HO. Trở nên làm một, trở thành bất nhị.
Trong
lúc dâng cúng hiến vật, chúng ta tụng mật chú JAH HUM BAM
HO. Với JAH, Trí Tuệ được kêu gọi; với HUM, Trí Tuệ đi
vào; với BAM, nó được hòa nhập làm một; và với HO, nó
trở nên phúc lạc không thể bị phá hủy.
Như
vậy, nguồn lực trí tuệ từ chư Phật mà chúng ta đã kêu
gọi được thu hút bởi những tia sáng từ chủng tử HUM ở
trái tim của Heruka Vajrasattva. Ngay lập tức và rất dễ dàng,
nó hòa tan vào trái tim của Ngài, nó liền trở nên niềm an
lạc của thần trí Ngài, như giọt nước hoà tan trong đại
dương, chẳng còn cách biệt và phân chia nữa.
Thực
ra, Heruka Vajrasattva không cần phải hoà tan trong thần trí bởi
vì Ngài đã là một với các chư phật. Thực là sai lầm nếu
chúng ta nghĩ rằng Heruka Vajrasattva là một thực thể riêng
biệt đối với các chư phật. Chỉ vì tâm nhị nguyên của
chúng ta đã không hiểu nổi hình ảnh thần linh mà chúng ta
quán tưởng trên đỉnh đầu và sự thị hiện của thần
trí là một. Chính chúng ta đã phân biệt, đã chia rẽ sự
kiện này. Vì thế, chúng ta cần thay đổi tâm nhị nguyên
của chúng ta bằng phương cách quán tưởng này.
Nhưng
nếu nói: “ Ồ, chúng là một và hoàn toàn giống như nhau,”
thì cũng không được, vì sự hiểu biết này, lời nói này
hoàn toàn do trí thông minh mà ra. Nó không giúp gì cho tâm của
chúng ta. Nhưng, nếu chúng ta kinh nghiệm sự hợp nhất qua
sự thực tập phương pháp du gìa này thì sự nhận thức của
chúng ta sẽ hoàn toàn là trực giác. Heruka Vajrasattva là sự
hợp nhất giữa các nguồn năng lượng đang được thị hiện
của các chư Phật trong trạng thái thần thánh để nói chuyện
với chúng ta. Một khi chúng ta đã hoàn toàn thanh tẩy tâm
nhị nguyên thì chính chúng ta cũng sẽ trở nên làm một với
sự an lạc của thần trí.
Sự
quán đảnh
Lại
nữa, những tia sáng từ chủng tử HUM tại trái tim của Ngài
đang kêu gọi các vị thần quán đảnh của gia đình năm vị
thiền Phật.
OM
PANCHA KULA SAPARIVARA ARGHAM... SHABDA PRATICCHA HUM SVAHA
“Kính
lạy Đức Như Lai, xin ban phước cho sự quán đảnh của con
[Heruka Vajrasattva].” Theo lời cầu khẩn này, tất cả chư
Như Lai cầm bình nước cam lồ trên tay, bình nào cũng tràn
đầy tuệ lực sẵn sàng chảy ra. Mỗi khi câu mật chú OM
SARVA TATHAGATA ABHISHEKATA SAMAYA SHRIYE HUM được tụng lên là
sự quán đảnh được ban phát.
Thánh
thể toàn tri, Heruka Vajrasattva, được tràn ngập bởi nước
cam lồ, nguồn tuệ lực tiên thiên. Những giọt nào chảy
tràn ra ngoài liền thấm nhập lại vào Đức Phật A Súc Bệ
(Akshobhya), đang ngự trên đỉnh đầu Ngài.
Chủng
tử HUM ở tại trung tâm của vầng trăng trong trái tim Ngài,
vòng chung quanh là một trăm mật tự (đứng vòng chung quanh
vầng trăng theo ngược chiều kim đồng hồ).
Một
lần nữa, tại trái tim của Heruka Vajrasattva, chủng tử HUM
lan tỏa ánh sáng chiếu rạng khắp mười phương để kêu
gọi những vị thầy quán đảnh - năm vị thiền phật (xem
phần phụ lục về gia đình thiền Phật)- và các chư phật
trong cảnh giới bí mật riêng của các ngài chứng giám cho
sự quán đảnh. Được hướng dẫn bởi ánh sáng, các ngài
liền hiện diện ngay trên đỉnh đầu của Heruka Vajrasattva.
Bây
giờ, trước khi cầu xin các ngài chấp nhận sự quán đảnh,
chúng ta hãy dâng lên các ngài tám phẩm vật như đã trình
bày ở trên. Khi chúng ta tụng PRATICCHA HUM SVAHA là chúng ta
xin các ngài chấp nhận tất cả những phẩm vật này, mà
bản tính tự nhiên của chúng cũng là thần trí và những
cảm nghiệm tuệ lạc tiên thiên cũng hiện diện nơi thánh
tâm của các ngài.
Khi
dâng hiến những phẩm vật, chúng ta xin được quán đảnh.
Mỗi khi tụng mật chú OM SARVA TATHAGATA...., thì những vị thần
quán đảnh sẽ nhận lời cầu xin của chúng ta, các ngài nâng
những chiếc bình nước cam lồ lên rót nước thanh tịnh của
thần trí tiên thiên vào đường kinh mạch chính của Heruka
Vajrasattva và Dorje Nyem-ma qua luân xa đỉnh đầu của hai vị
này.
Thần
quán đảnh nhìn xuống chúng ta như chúng ta ở dưới này đang
quán tưởng Heruka Vajrasattva ở trên kia, nhận lễ quán đảnh
cho chúng ta. Nhắc lại, đây chỉ là dấu ấn phân biệt nhị
nguyên đã in sâu trong tâm khảm chúng ta: “Tôi là thế này,
ngài là thế kia.” Để phá tan những ý niệm thông thường
này và những vọng tưởng của tâm nhị nguyên, chúng ta cần
thanh tẩy sự quán tưởng như đang được dậy bảo.
Tất
cả sự dạy bảo thực tập phương pháp này là để thanh
tẩy tâm của chính chúng ta. Mặc dầu chúng ta quán tưởng
Heruka Vajrasattva trong sáng nhưng thực ra chúng ta đang thanh tẩy
chính chúng ta, ảnh hưởng tâm lý, chuyển hóa tự nhiên. Sự
quán tưởng của chúng ta về Heruka Vajrasattva là cái nhìn không
trong sáng của chính chúng ta. Bởi vì thanh tẩy ngài trong tầm
mức sâu thẳm, nguồn năng lực trong sáng của giác ngộ, nên
chúng ta sẽ tự trở nên trong sáng. Sự kiện này sẽ ghi lại
một dấu ấn thật sâu đậm trong tâm thức của chúng ta và
sẽ giải thoát chúng ta khỏi những nguồn năng lượng xấu
một cách rất tự nhiên.
Sau
khi quán đảnh, Thánh thể Heruka Vajrasattva tràn đầy năng lượng
của thần trí, được vị thần quán đảnh đổ trên luân
xa đỉnh đầu đi vào kinh mạnh chính của ngài. Nếu chúng
ta đạt được nguồn đại trí qua mật điển du gìa, chúng
ta cũng sẽ có những kinh nghiệm giống như vậy.
Tuy
nhiên, chúng ta nên biết rằng toàn hệ thần kinh của chúng
ta đã tràn ngập nguồn an lạc này, đúng như vậy. Nhưng bởi
vì, chúng ta luôn nghĩ rằng chúng ta qúa nghèo nàn thấp kém,
đời sống chúng ta luôn luôn thiếu: “Tôi không có cái này,
tôi không có cái kia, tôi chẳng có gì cả.” Nên, chúng ta
nghĩ: “Nếu tôi có cái đó, tôi đã vui biết chừng nào.”
Tự chúng ta, chúng ta đã bất mãn, nên chúng ta luôn luôn đi
kiếm tìm bất cứ cái gì chúng ta cho là chúng ta đang thiếu,
đang không có.
Luân
xa dưới cùng của chúng ta đang bị tắc nghẽn, đen tối,
đau và không có nguồn an lạc. Luân xa rốn (luân xa số 3,
hoả đại --Dg) của chúng ta đang bị đóng, đen tối và bị
đè nén. Luân xa trái tim (luân xa số 4, phong đại --Dg)
đang tan vỡ vì máu bị ô nhiễm bởi những cảm xúc và tuyệt
vọng. Luân xa cổ họng (luân xa số 5, không đại --Dg) thì
tràn đầy ô nhiễm, không có điều gì chúng ta nói mà tốt
lành. Còn luân xa đỉnh đầu (luân xa số 7 --Dg) thì bị đông
đặc, cứng, lạnh ngắt, không cởi mở, không hòa tan trong
nội hỏa được. Toàn thân đắm chìm trong ô trược nên nguồn
đại lạc không thể đổ vào, không thể thấm vào chúng ta
và cho chúng sinh khác. Hoàn toàn đen tối, hoàn toàn bị tắc
nghẽn và dầy đặc nhiễm ô.
Vì
thế, qua phương pháp thực tập thanh tẩy này, chúng ta mới
có thể nhận được nguồn đại trí và đem nguồn đại lạc
miên viễn này vào sâu thẳm trong trái tim ta. Chúng ta có thể
dùng phương pháp thanh tẩy tuyệt diệu này từ bây giờ cho
đến khi qua đời. Ngay cả trong lúc chết chúng ta cũng vẫn
dùng được, bởi vì tự nó thường phát triển. Nếu ta không
phát triển, tâm ta luôn luôn thay đổi, lúc thế này lúc thế
khác, khi lên khi xuống, như thế chúng ta sẽ chẳng vui được.
Hãy nhìn thẳng vào chính ta: mặc dầu đã được học Đạo
pháp mà chúng ta vẫn còn chạy lòng vòng làm cái này làm cái
kia. Những sinh hoạt trong cõi luân hồi không bao giờ ngừng.
Ngay cả những người đang sống trong những tu viện hay trong
những thiền viện, những nơi đó đáng lẽ phải là những
nơi thanh tịnh, an lành mà cũng luôn luôn bận bịu, rộn ràng.
Cuộc sống chắc chắn sẽ chấm dứt một ngày nào đó. Thế
thôi.
Theo
nghi quỹ tu tập, Tây Tạng có từ ngữ ku; kaya theo Sanskrit
(Phạn ngữ). Chúng ta dịch sang Anh ngữ là “holy body”, Việt
ngữ là “thánh thể”, nhưng thực ra nên dịch là “hệ
thần kinh thanh khiết, hệ thần kinh trong sáng” thì đúng
hơn. Tôi không biết tự điển khoa học dịch thế nào cho
chính xác danh từ này của Tạng ngữ hay Phạn ngữ nhưng tôi
chắc chắn rằng chúng tôi đã có những kinh nghiệm, những
chứng nghiệm rõ ràng về ý nghĩa của nó. Ku ám chỉ hệ
thần kinh trong sáng của Heruka Vajrasattva đã thấm nhập, thẩm
thấu được đại lạc của nguồn tâm hỏa (kundalini).
Hệ
thần kinh của chúng ta cũng được thấm nhuần đại lạc
này, nhưng chúng ta đã không biết đến nó. Tuy nhiên, tất
cả chúng ta đều cảm nhận được niềm hạnh phúc trong tâm
và trong hệ thần kinh mỗi khi năng lượng xấu được chuyển
hóa thành an lạc và mỗi khi chúng ta không còn đeo dính, bám
víu vào đối tượng ở bên ngoài và mỗi khi còn tỉnh thức.
Nhưng mỗi khi chúng ta trở lại với những ảnh hưởng của
nghiệp lực hay của những ý niệm cũ là chúng ta lại tự
hủy hoại những kinh nghiệm an lạc này. Dĩ nhiên, vì biết
những ý niệm này rất mạnh, nên chúng ta phải cố gắng
vượt qua chúng càng mạnh hơn nữa càng tốt, tuỳ theo sự
hiểu biết thâm sâu của chúng ta về kinh nghiệm đại lạc
này như thế nào. Thật đáng nghi ngờ những lợi lạc này,
thật dễ thắc mắc về những cơ hội ơn ích này, phải không?
Chúng ta nên học hỏi, suy gẫm từ chính những kinh nghiệm
an lạc đơn giản trong chúng ta.
Thí
dụ, nếu có người hỏi ta nên chọn ăn trưa ở một nhà
hàng sang trọng 5 sao trong một khách sạn hay một cửa hàng
xập xệ trong khu bình dân Aán độ, chúng ta sẽ không ngần
ngại gì mà không chọn cửa hàng sang trọng kia. Cũng giống
như vậy, ở đây chúng ta có cơ hội để kinh nghiệm niềm
an lạc vô biên 5 sao trong hệ thần kinh của chúng ta, nhưng
chúng ta vẫn cứ chọn cái quán tồi tàn kia. Tại sao? Lý do
chính yếu là chúng ta còn bám víu vào tình cảm của chúng
ta, vào những thói quen và những ý niệm sai lầm đã tích
tụ trong chúng ta. Sự kiện này cho chúng ta biết chúng ta đã
vô minh u tối như thế nào và hệ thần kinh của chúng ta thực
sự ra sao. Hãy tìm hiểu xem sao, hãy thử suy nghĩ xem sao, quý
vị sẽ nhận ra, qúy vị sẽ nhìn thấy!
Và
giờ đây nước cam lồ không những chỉ tràn ngập trong hệ
thần kinh của Heruka Vajrasattva mà nó còn tràn ngập trong vị
Thiền Phật Akshobya (A súc bệ Phật) nữa, Ngài đang ngự trên
đỉnh đầu của Vajrasattva. Có nhiều cách để diễn tả trạng
thái này, nhưng ở đây chỉ nên hiểu rằng Heruka Vajrasattva
đang ở trong dòng đại lạc của A súc bệ Phật. Nên biết
rằng trong lễ quán đảnh sẽ có một lúc mà chúng ta sẽ
khám phá ra vị thiền Phật nào mà chúng ta cảm thấy gần
nhất, thích hợp nhất, có duyên nhất trong 5 vị thiền Phật,
rồi sau đó, chúng ta nên gìn giữ sự liên lạc với dòng
năng lượng của vị Phật này. Sự cảm nhận của chúng ta
có liên hệ đến điều đó.
Đã
chấp nhận sự quán đảnh, chư Phật đã hòa nhập vào thánh
tâm thanh tịnh của Heruka Vajrasattva, niềm đại lạc tiên thiên
của các ngài trở nên là một và không bao giờ xa rời Heruka
Vajrasattva. Lại nữa, linh ảnh của chư vị quán đảnh Phật
không bị phai nhòa đi mà sẽ hòa nhập vào trái tim của Heruka
Vajrasattva, tâm đang tràn đầy tuệ lực và ơn phước, rất
cần cho sự trưởng dưỡng, sự hòa nhập.
Tại
trung tâm của vầng trăng nơi thánh tâm thanh tịnh của Heruka
Vajrasattva có chủng tử HUM, chung quanh là 100 mật tự của
Ngài, đọc theo ngược chiều kim đồng hồ trên viền của
vầng trăng.
HIẾN
DÂNG VÀ CẦU NGUYỆN HERUKA VAJRASATTVA
OM
VAJRASATTVA ARGHAM... SHABDA PRATICCHA HUM SVAHA
OM
VAJRASATTVA OM AH HUM
Trong
thần trí bất nhị, trong cảnh huy hoàng rực rỡ nơi nội
tâm thanh tịnh của các bà mẹ của tất cả chúng sinh; trong
niềm tuyệt diệu không thể thay đổi, trong niềm đại lạc
viên mãn; cùng thần trí không thể huỷ hoại sẽ giải phóng
tất cả chúng sinh khỏi mọi sự xấu của thân khẩu và ý,
đặc biệt cho cả những lỗi lầm của lời nguyện ước
này, thưa Thầy con xin qui y Thầy.
Đạo
Tràng Bí Mật
Quan
điểm chính xác của tánh không là sự hợp nhất trong tuệ
lạc. Trí tuệ này chuyển biến vào núi Tu Di, mặt trời, mặt
trăng và vào tất cả những hiện tượng trong vũ trụ. Con
xin dâng tất cả những gì tốt đẹp nhất lên cho Thầy, đấng
tràn đầy lòng từ ái, đấng đã tự giải thoát và đang
cứu giải muôn loài.
Nội
Đạo tràng
Xin
Ngài hãy giải thoát con và muôn loài chúng sinh ra khỏi biển
trầm luân của tam độc ngay bây giờ, con xin dâng lên Ngài
không một chút sợ hãi và không một chút gì bám víu vào
tham lam, ganh ghét và vô minh; con xin dâng lên Ngài tất cả
bạn con, kẻ thù của con và những người xa lạ với con;
thân xác con đây cùng tất cả những gì con có. Kính xin Thầy
chấp nhận.
Hãy
hiến dâng tám phẩm vật như chúng ta đã làm ở trên. Tiếp
theo là sự hiến dâng trong nội tâm.
Tâm
trần tục, vọng tâm của chúng ta quan niệm tất cả các hiện
tượng có thanh tịnh hoặc không thanh tịnh, có tốt và xấu,
rồi chúng ta bám víu vào đó hoặc đeo đuổi chạy theo sự
nhị nguyên của đối tượng mà cấu tạo nên tính cách vô
thường của ngũ uẩn. Qua sự thực hành phương pháp du già
chúng ta chuyển hóa ngũ uẩn của chúng ta vào đại lạc của
trí siêu việt, trí này vượt ra ngoài nhị nguyên tính và
đây chính là bản tính uyên nguyên của năm vị thiền phật,
chúng ta hãy hiến dâng cho tuệ lạc này. Đó là lý do tại
sao gọi là sự hiến dâng trong nội tâm.
Tiếp
theo, chúng ta cầu nguyện trí siêu việt bất nhị, những bảo
châu tráng lệ nội tại của tất cả các bà mẹ của tất
cả chúng sinh, bản tính không thể thay đổi, đại lạc thường
hằng. Đây chính là Heruka Vajrasattva, Ngài với quyền năng
của tuệ lạc sẽ giải thoát tất cả các bà mẹ của tất
cả chúng sinh thoát khỏi những nguồn năng lượng xấu của
những hành động xấu của thân khẩu ý và ngay cả sự bất
toàn của lời nguyện hứa này. Chúng ta qui y và khấn lạy
trí thường hằng siêu việt .
Rồi
chúng ta dâng mạn đà la. Trong lễ hiến dâng mạn đà la bí
mật, chúng ta khấn nguyện rằng trí siêu việt, tánh không
là sự hợp nhất của tuệ lạc, trí tuệ tự hữu. Tuệ này
cũng chuyển hóa vào núi Tu Di, vào mặt trăng vào mặt trời
và vào tất cả những hiện tượng trong vũ trụ. Chúng ta
hiến dâng tất cả lên Heruka Vajrasattva, Ngài là biển nhân
ái, Ngài đã tự giải thoát, Ngài sẽ cứu độ và giải thoát
tất cả muôn loài chúng sinh.