Kết
thúc sự Thực Tập
OM
VAJRASATTVA ARGHAM...SHABDA PRATICCHA HUM SVAHA
OM
VAJRASATTVA OM AH HUM
Từ
Trí Bất Nhị... con kính lạy Thầy.
Vì
vô minh và vọng tưởng con đã hủy hoại lời nguyện hứa
của con. Hỡi Thầy, Ngài có sức mạnh giải thoát con, Ngài
nắm giữ sự bất hoại, bản tính của lòng đại bi, Ngài
là Chúa Tể của muôn loài chúng sinh, con xin qui y Thầy.
Vajrasattva
nói, “ Ôi con yêu quý, tất cả ô trược ám chướng, tất
cả tính tiêu cực và sự thất hứa của con đã được thanh
tẩy hoàn toàn.” Rồi Ngài hòa nhập vào tôi. Ba cửa thân,
khẩu và ý của tôi trở thành một với thân, khẩu và ý
của Vajrasattva.
Tiếp
theo sau sự tụng niệm chúng ta lại dâng lên Vajrasattva những
phẩm vật bên ngoài và bên trong cùng những lời cầu khẩn
của chúng ta như lúc đầu.
Ta
đã thưa với Heruka Vajrasattva rằng vì vô minh nên ta không
tỉnh thức, ta không biết những gì ta đã làm nên đã hành
động ngược lại những gì ta đã nguyện hứa. Đúng vậy,
khi chúng ta vào sống trong một tu viện hay một thiền viện,
chúng ta không thể xác định chúng ta đã tinh tấn như thế
nào. Nhưng khi về nhà hay về thành phố chúng ta sẽ nhận
ra ngay. Khi đang thực tập với một nhóm người, chúng ta cảm
thấy chúng ta mạnh, đầy năng lực nên chúng ta cho rằng ta
có thể thực hành mỗi ngày một cách dễ dàng, sẽ thiền
mỗi buổi sáng sớm, sẽ tụng niệm đầy đủ...vân vân....
Nhưng
khi về nhà, chúng ta đi ngủ trễ, thức dậy trễ, uể oải,
nói chuyện, tính chuyện đi chơi với bạn, ăn sáng... ôi,
9 giờ rồi! không còn giờ để thiền, vội vàng đi làm. Rồi,
đến giờ ăn trưa, đi uống trà, ăn tối và cuối cùng tới
giờ đi ngủ – trễ rồi, không thiền nữa. Cuộc đời cứ
kéo dài như vậy. Thực sự chúng ta muốn thiền nhưng chẳng
bao giờ chúng ta sửa soạn, xếp đặt thì giờ cho thiền.
Chúng ta dành hết thì giờ để kiếm tiền. Chúng ta không
cho đời sống tâm linh một cơ hội. Hãy phân tích đời sống
hàng ngày, hãy nhìn thẳng vào những sinh hoạt thường ngày,
chúng ta sẽ thấy ngay, sẽ hiểu đời sống trần tục của
chúng ta như thế nào.
Thực
ra chúng ta không muốn phá hủy đời sống của chúng ta, chúng
ta cũng không vô minh tới độ từ chối đời sống tâm linh,
tìm kiếm an lạc. Nhưng chúng ta đã tạo ra một đời sống
bên ngoài quá hấp dẫn đến nỗi phải dành cả đời đễ
chăm sóc nó. Vì thế, chúng ta không bao giờ cho đời sống
tâm linh một cơ hội, ngồi xuống, thiền định với thế
giới nội tâm. Thế giới bên ngoài chạy tới chạy lui, hết
ngày đến đêm không bao giờ ngừng. Mặc dầu chúng ta không
muốn như vậy nhưng trí tuệ của chúng ta đang suy tàn, Đạo
pháp đang sa sút.
Giống
như những gì đã xẩy ra tại tu viện Kopan của chúng tôi
ở Nepal. Khi mùa mưa đến, vì mưa nhiều nên nước cũng quá
nhiều, rồi khi nắng lên, nước dần dần hết, đất khô,
gió thổi bụi mù. Đời sống Đạo của chúng ta cũng như
nước: nó bốc hơi tới lúc để lại trong tâm ta đầy bụi
bặm, ô nhiễm. Lúc đó chúng ta mới ngạc nhiên, “Tôi nghĩ
tôi có, nhưng tôi chẳng thấy gì, tại sao lại như vậy?”
Chúng ta cảm thấy trống rỗng ở nội tâm. Trí tuệ ở đó
nhưng chúng ta đã không cho nó một cơ hội nào để hé mở,
phát triển. Trí tuệ không thể đến trong một ngày. Trước
tiên chúng ta phải cởi bỏ, phải tẩy rửa những ý niệm
cũ đi rồi từ từ, từ từ những làn sóng, những tác động
trí tuệ mới lớn dần để hướng dẫn chúng ta.
Chuyện
này đã xẩy ra khi những người Tây phương qua Đông phương
sống một thời gian để học Đạo. Họ tiếp nhận được
Đạo pháp nhưng rồi từ từ mất mà chẳng một chút quan
tâm. Họ cũng chẳng hiểu hoặc khó hiểu tại sao nó lại
xẩy ra như vậy. Rồi họ biện minh, “ Ồ những gì tôi học
được từ những Lạt ma là những đặc sản của Đông phương,
nó không áp dụng được ở Tây phương.” Cái gì không
áp dụng được? Nếu chúng ta không dùng nó thì làm sao áp
dụng được nó? Thực sự áp dụng được, nếu chúng ta dùng
trí tuệ của Phật; nếu chúng ta không dùng nó thì làm sao
mà áp dụng được nó; nó sẽ thành lạc hậu! Lại nữa,
rất khó mà nhận ra từng thay đổi nhỏ trong trí tuệ. Chúng
ta cần nhạy cảm và quan sát tinh tế. Lúc đó chúng ta mới
nhận ra được tâm ta lên xuống như thế nào.
Nếu
không bén nhậy hoặc không quan sát tâm, chúng ta sẽ chẳng
bao giờ nhận ra được sự làm việc của tâm. Giống như
con chó, tâm của nó thay đổi cả ngàn lần trong một ngày,
nhưng đến buổi chiều nó không biết nó đã trải qua những
gì trong ngày. Nó không nhớ được. Nó không thể biết được
tâm của nó hoạt động như thế nào, ngay cả chúng ta. Chúng
ta không nên như vậy. Một khi tâm đã bị ám ảnh, đã bị
tràn ngập bởi những vọng tưởng của cái tôi thì đời
ta tan mất.
Trong
phần thứ hai của sự cầu nguyện, chúng ta qui y với vị
thầy (lạt ma) của chúng ta, người có năng lực hướng dẫn
chúng sinh trên con đường giải thoát. Người Ấn độ hay
người Nepal thường dùng danh từ lạt ma cho những vị sư
Tây tạng. Ở đây ý nghĩa thực sự của danh từ này là vị
thầy tâm linh, guru. Ngài nắm giữ nguồn đại lạc siêu việt
không thể hủy hoại trong tâm ngài, chính là lòng bi mẫn và
đại nguyện từ bi bao la, ngài cũng là vị lãnh đạo chúng
sinh.
Heruka
Vajrasattva trả lời chúng ta, “Hỡi con yêu dấu, tất cả
ô trược ám chướng, ô nhiễm xấu xa và sự thất hứa của
con đã được thanh tẩy hết.” Sau đó, Phật mẫu tan
thành ánh sáng rồi hòa nhập vào thánh tâm Ngài. Heruka Vajrasattva
cũng tan thành ánh sáng rồi tuôn vào kinh mạch chính của ta
và tràn ngập trái tim ta. Ba cửa (tam mật) thân khẩu và ý
của ta và của Heruka Vajrasatta trở thành một. Hãy ở yên
trong tâm thái bất nhị, hợp nhất, hưởng hỉ lạc của kinh
nghiệm tính không, hoàn toàn khác tâm thái nhị nguyên tôi
và người khác, chủ thể và đối tượng. Đây chính là trạng
thái an lạc cao nhất, tuyệt đỉnh.
Chúng
ta nên thiền trong khi cầu nguyện, niệm chú. Sau khi cầu nguyện,
vẫn tiếp tục thiền, chú tâm vào cảm giác hợp nhất, bất
nhị, tránh có những tư tưởng nhị nguyên như cái này cái
kia và “ tôi là.....” Chúng ta hay có những ý nghĩ đó trong
lúc cúng dường, sư Tây tạng tụng kinh rồi ngừng, sư Tây
tạng tụng kinh rồi ngừng... Có người cho rằng kỳ cục,
nhưng các ngài đang thiền trong trạng thái hợp nhất tối
cao, họ không vội vã tụng cho hết rồi ngừng để nghĩ.
Khi thực tập nghi quỹ Heruka Vajrasattva, ta cũng nên làm như
vậy. Rồi sau khi hồi hướng, chúng ta không nên vội vã chạy
ra khỏi phòng, nên đi ra một cách từ từ và giữ tâm trạng
vẫn đang hợp nhất với Heruka Vajrasattva, Ngài cũng đang hợp
nhất với thầy của ta.
Chúng
ta hãy hiểu một cách vững chắc đây chính là trí tuệ siêu
việt thân khẩu và ý của Heruka Vajrasatta, chứ không phải
phóng chiếu “tôi là.” Còn nữa, như tôi đã nhấn mạnh
trước đây, đừng vọng tưởng, đừng tin tưởng, như “
Ồ, hôm nay tôi sẽ gặp Heruka Vajrasattva.” Điều này
không cần thiết, chỉ tạo thêm mê tín dị đoan mà thôi.
Vì thế hãy bỏ đi những ý nghĩ như vậy. Thêm nữa, trong
lúc nhập thất hay trong thời tĩnh tâm, đừng lo sẽ bị bệnh,
chính sự lo sợ làm chúng ta bị bệnh. Hãy thoải mái, an nhiên,
hãy tin tưởng mãnh liệt vào Heruka Vajrasattva và nghiệp lực.
Hồi
hướng
Vì
ơn phước này, xin cho con mau chóng trở thành Heruka Vajrasattva
để hướng dẫn mỗi một và muôn loài chúng sinh vào con đường
giác ngộ.
LAMA
YESHE
___________________________________________________________________
Người
dịch xin chấm dứt sự trích dịch ở đây. Cuốn sách này
còn ba phần nữa:
Thời
tĩnh tâm
Thuyết
giảng
Giải
thích mật chú.
Con
Đường Thanh Tẩy theo Mật Tông
Nguyên
tác The Tantric Path of Purification
của
Lama Yeshe
Do
Wisdom Publications xuất bản
Vô
Huệ Nguyên trích dịch
Email:
vohuenguyen@yahoo.com
“
CON XIN HỒI HƯỚNG TẤT CẢ CÔNG ĐỨC NÀY ĐẾN MUÔN VÀN CHÚNG
SINH TRONG MƯỜI PHƯƠNG PHẬT VÀ MƯỜI PHƯƠNG BỒ TÁT, CON
KHÔNG GIỮ LẠI MỘT CHÚT GÌ CHO RIÊNG CON. ”