Phụ
Lục của người dịch
[Nam
mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Thầy đã dạy “ Con hãy
tự đốt đuốc lên mà đi.” và “Con đừng tin những gì
Ta nói mà hãy chứng nghiệm trong đời con những gì Ta nói
là đúng lúc đó con hãy tin.” Con đường tu tập của mỗi
người mỗi khác, nghiệp của mỗi người mỗi khác nên phương
pháp tu tập cũng khác, nhưng khi đã ngộ thì chỉ nếm có
một vị: Giải Thoát! Xin cho những gì con viết ở đây là
ngọn đuốc và sự chứng nghiệm cho con, khi con đã tin rồi,
con xin hồi hướng hết cho muôn vàn chúng sinh, mà không giữ
lại một chút gì cho riêng con. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu
Ni Phật.]
TU
TÂM
(Con
Đường Chuyển Hóa Tâm Thức)
(Con
Đường Thiền Định với Gia Đình Thiền Phật)
(Con
Đường Giải Thoát)
(Sự
Hòa Nhập Trong Đời Sống Hàng Ngày)
OM
AH HUM SHAKYAMUNI HUM
OM
AH HUM MANJUSHRI HUM
OM
AH HUM AVALOKITESHVARA HUM
OM
AH HUM VAJRADHARA HUM
OM
AH HUM MAITREYA HUM
OM
AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUM
Mục
đích của tu tập là giải thoát. Nhưng giải thoát cái gì?
Thế nào là giải thoát? Nếu không thấu hiểu và liễu ngộ
tuyệt cùng về sự giải thoát thì cũng chỉ là cảnh ra tù
vào khám mà thôi. Chẳng khác gì đưa hai tay lên lạy Phật
nhưng thực ra đưa tay để bị còng!!! Giải thoát là giải
thoát tâm, tâm của chính mình chứ không phải tâm của bất
cứ ai khác, không phải giải thoát cái thân xác tứ đại
này cho đẹp đẽ hơn, cho giầu có hơn. Nghĩ rằng tu để
được khỏi bệnh, được phước, được giầu, được vào
niết bàn, được-được, đắc-đắc... là chỉ tìm thêm ràng
buộc, là vào một cái nhà tù khác cái nhà tù mà ta đang ở.
Cái sợi giây đang trói buộc mình chưa cởi bỏ được thì
lại trói thêm một sợi giây khác nữa, khác nữa, khác nữa...
và cứ thế mà trói liên tu bất tận không bao giờ ngừng,
không ai trói ta cả, chính ta tự trói ta! Không hiểu rõ vấn
đề thì tu tập, thiền định là một sự ràng buộc, là vào
một nhà tù vĩ đại! Một nhà tù chung thân muôn vàn kiếp!
Nhà tù tâm linh!
Đạo
Phật là đạo thực hành những điều Phật dạy trong cuộc
sống hàng ngày chứ không phải đạo cầu xin để được
cái này cái kia (thật sự thực hành, thật sự thực tập
trong cuộc sống, chứ không phải chỉ ngồi thiền mà chứng
ngộ được, nếu chỉ ngồi mà ngộ được thì những thiền
sinh không phải điên đầu vì những công án của thầy cho,
không phải khổ sở để xây nhà cho thầy như Milarepa!) Phật
chưa từng cho, Phật chưa từng nhận, Phật là Như Thị, Như
Lai !!! Tu tâm thế nào để không còn có cái gì gọi là tâm,
không còn có cái gì gọi là tu, tu mà chẳng phải là tu mới
chính là tu, tập mà chẳng phải là tập mới chính là tập.
Tu để cái không tự nhiên thành tự nhiên, tập để cái gò
bó trong cuộc đời thành thoải mái an nhiên. Quán tới độ
không còn có cái gì gọi là Tâm Bát Nhã thì mới “ Phật
và chúng sinh tính thường rỗng lặng !” Ngày nào cũng
đi trên con đường sỏi đá gồ ghề với một niềm tin với
một nụ cười thì dầu con đường có gồ ghề sỏi đá đến
đâu cũng trở thành thân thương (nhiều người hỏi rằng,
nghĩ rằng đi đường sỏi đá gồ ghề thì làm sao mà cười
được, cuộc đời tràn đầy khổ cực vất vả thì làm sao
mà cười được, câu trả lời là không cười mà cứ hỏi
cứ nghĩ thì đời thực sự khổ thật.) Vì thế cái ý nghĩa
tối thắng của Tâm Kinh Bát Nhã là “ Bồ tát quán tự
tại, hành thâm Bát Nhã Ba La Mật” và “Yết Đế, Yết Đế,
Ba la Yết Đế, Ba La Tăng Yết Đế, Bồ Đề Tát Bà Ha.”
Trên con đường tu tập, hành gỉa quán cho thấu suốt, cho
kỳ cùng những hiện tượng đang xẩy ra hàng ngày ở ngay
trong cuộc đời, ở ngay từng giây phút hiện tại và thực
hành thâm sâu, thâm sâu, thực hành rất thâm sâu những lời
Phật dậy để rồi “Chuyển hóa, chuyển hóa, chuyển
hóa đi, chuyển hóa nữa đi, thì sẽ ngộ được niết bàn
là ở đó.” “Đạo Phật không xuất thế và cũng
không nhập thế: đạo Phật vẫn liên tục chuyển thế trong
từng giây phút trôi qua trên mặt đất và trong toàn thể vũ
trụ với hàng trăm tỷ thiên hà bao la.” (1) Hạnh phúc ở
ngay chỗ chuyển dịch của dòng sông, ở giữa dòng sông chứ
không phải ở bờ bên đây hay ở bờ bên kia, giả thử có
đến được bờ bên kia thì đó cũng chính là bờ bên đây
mà thôi. Hạnh phúc ở chỗ trung đạo chứ không phải ở
đầu cực này hay đầu cực kia. Hạnh phúc ở đây, ngay bây
giờ chứ không phải ở ngày hôm qua hay chờ đến ngày mai
hay chờ đến khi nào đắc đạo. Cốt tủy của đạo giải
thoát là không có một cái gì để đắc, không có cái gì
để đạt, không có cái gì để giải thoát, vì căn bản của
nó là buông xả, là từ bỏ, là buông bỏ ngay cả sự giải
thoát tối hậu. Thực tại cuối cùng của sự giải thoát
cũng là không. Hạnh phúc đang hiện diện trong từng hơi thở
của đời sống, trong từng sinh hoạt của cuộc đời, ngay
trong sự tỉnh thức bây giờ, bây giờø. Đạo Tỉnh Thức
của Đức Phật là Trí Huệ (đang
biết và đang hiểu thấu suốt mọi hiện tượng trong từng
giây phút, từng sát na ngay bây giờ)
và lòng Từ Bi (khi đã hiểu thấu
suốt rồi thì chỉ còn tình yêu thương rộng mở bao la hoà
nhập trong mọi hiện tượng, mọi chúng sinh. Lúc đó Trí Huệ
và Từ Bi chính là một, KHÔNG TÍNH!)
Tất
cả kinh sách đều là phương tiện. Tiểu thừa, Đại thừa
và Mật thừa đều là Phật thừa, đều là những cỗ xe chở
đến nhà Phật, xe là xe, đi như thế nào tùy người lái xe,
khi chưa thấu hiểu thì lăng xăng chấp chước đủ điều,
khi ngộ rồi thì: “Ồ, hoá ra mình đang ngồi trong nhà Phật,
mình đang hạnh phúc mà cứ bảo mình đang lái xe đến nhà
Phật hoặc đang chạy đi tìm hạnh phúc!!!” Phương tiện
chính là cứu cánh, con đường chính là nhà, cuộc đời chính
là niết bàn, chướng ngại tức bồ đề, nghiệp chính là
đạo! Nghiệp chính là con đường dẫn đến giải thoát. Nghiệp
chính là mặt bên kia của hạnh phúc mà cũng chính là hạnh
phúc. Ta đang hạnh phúc, ta đang là Phật, chỉ vì ta vọng
tưởng có một cái hạnh phúc ở đâu đó ngoài kia nên ta
mải miết đi tìm; ta cho là (chấp) Phật phải như thế này
thế kia nên ta không nhìn ra được Phật tính đang hiện diện
trong ta và trong mỗi một chúng sinh, nên ta cứ mãi hoài đi
tìm ở bên ngoài kia. Tất cả cũng chỉ tại cái tâm điên
đảo vô minh mà ra, tất cả chỉ vì cái tâm vọng tưởng
mà ra, tất cả chỉ vì cái tâm nhị nguyên mà ra. Tâm là gì?
Tâm!
Tâm có hai phần, có hai mặt (hai mặt của cùng một thực
tại Tâm): Chân tâm và Vọng tâm; Thanh tịnh và Ô nhiễm; Chân
như tuyệt đối và phần kia là tương đối, bất tịnh; Rỗng
lặng và đầy ắp, ồn ào. Tâm giống như bầu trời trước
mặt, thanh tịnh mà cũng đầy ô nhiễm; trống rỗng, lặng
thinh mà cũng đầy ắp, ồn ào!
Chân
tâm (còn gọi là Bản thể, Tuyệt đối thể, Phật tính, Chân
như, Siêu việt tính, Tâm bản nhiên, Diệu tâm, Tâm rỗng lặng,
Tâm thanh tịnh...) không thể dùng lời nói để luận bàn,
người tu tập phải tự chứng ngộ lấy, khi ngộ thì biết
liền, không có một phương tiện nào ở hiện tượng giới
này có thể diễn tả được, dù có diễn tả đến đâu đi
nữa thì nó cũng chỉ là sản phẩm của tâm ô nhiễm, của
tâm vọng tưởng, hơn nữa hiện tượng giới chính là thế
giới của ô nhiễm, thế giới của những hiện tượng, là
nơi để những năng lượng thị hiện, từ vi tế ra thô kệch
rồi thô kệch lại tạo ra vi tế, chuyển biến không ngừng
nghỉ... Khởi Tín Luận diễn tả về Chân tâm: “Tất cả
các pháp từ vô thủy tới nay, xa lìa tướng nói năng, xa lìa
tướng danh tự, xa lìa tướng tâm duyên, rốt ráo là bình
đẳng; không có thay đổi biến dị, không thể phá hoại;
chỉ là nhất tâm cho nên gọi là Chân Như.” Thực tướng
thì vô tướng. Thực thể thì vô thể. Thực dụng thì vô
dụng. Ngôn ngữ có khuynh hướng vật chất hóa các sự kiện,
ngôn ngữ chỉ là phương tiện chuyển đạt, diễn đạt, chỉ
là phương tiện để cụ thể hóa bản thể thành sự thể,
vi tế thành thô kệch để cho cái tâm bình thường có thể
hiểu được (2).
Hốt
nhiên đạt ngộ có nghĩa hốt nhiên là-bản-thể. Ngày xưa,
Tsong Khapa, người sáng lập ra truyền thống Geluk mà Đức
Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 xuất thân từ đây, đang nghiên
cứu và phân tích không tính (tính không, tánh không, shunyata,
emptiness) theo sự dạy bảo của phái Madhyamaka (Trung Đạo),
thì Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát xuất hiện trước mặt ngài và
nói: “ Không có một người nào trên quả đất này có thể
dạy con tính không!” Chân tính vượt ra ngoài ý niệm thông
thường, bất khả tư nghì, chỉ có thể chứng nghiệm bằng
thực hành đạo pháp, bằng tu tập, bằng thiền định, bằng
hành thâm Bát Nhã Ba La Mật.
Hành
thâm Bát Nhã Ba La Mật để tẩy vọng (tưởng), khi tẩy được
vọng thì chân hiện ra. Sóng yên thì nước phẳng lặng. Chất
“trong” đã có sẵn trong ly nước đục, dù vô cùng đục,
đục lắng thì “trong” hiện ra, chỉ có vậy thôi ! Khi “trong”
thì tự biết là “trong” và nhìn thấu suốt được tất
cả, chưa “trong” thì dù có bàn luận, dù có nói năng diễn
đạt đến thế nào đi nữa cũng chỉ là “nói về cái trong”
mà thôi. “ Trong trược (ô) thì có thanh (tịnh, thanh khiết)
nhưng trong thanh thì không có trược”. Chưa là mặt trăng
thì dù có chỉ thế nào đi nữa cũng chỉ là ngón tay chỉ
mặt trăng mà thôi. Khi chưa ngộ thì thích xây nhiều chùa,
thích thuyết pháp khắp nơi, muốn cứu độ tất cả mọi
người, thấy ai cũng cho là họ khổ, cũng cho là họ chẳng
hiểu gì... khi ngộ rồi thì thõng tay đi vào chợ, đi vào
cuộc đời, đi vào hang cùng ngõ hẻm của đời sống với
trí huệ, với lòng từ bi, vui vẻ, hòa nhã, chia sẻ, an nhiên
và khuyến khích mọi người tự tu, tự độ, Đức Phật Thích
Ca nói: “ Con hãy là ngọn đuốc cho chính con”, “ Con
hãy tự đốt đuốc lên mà đi.” Hình ảnh của vị Phật
tương lai là Đức Di Lặc, mỗi chúng sinh là một vị phật
tương lai, vì thế chúng ta đừng ngồi đó mà chờ đợi đức
Di Lặc đến để đưa chúng ta vào niết bàn, chúng ta hãy
hành thâm Bát Nhã Ba La Mật để là Di Lặc trong tương lai
! Phật từ đâu mà có? Từ chúng sinh! (Vì thế, không thể
sống, không thể tu tập nếu không vì chúng sinh.)
Vọng
tâm (tâm thức, tâm giả, tâm lừa đảo, tâm vọng tưởng,
tâm ô nhiễm, tâm nhị nguyên, tâm mà con người thường nói)
có thể nghĩ bàn được. Chúng ta hãy nói về vọng tâm, tất
cả có 8 cái biết, tám thức, tám loại vọng tâm, tám ông
vua cai quản 8 vùng, thường được gọi là Tám Tâm Vương.
TÂM
VƯƠNG:
*
Thức 1 đến thức 5: nhãn thức (mắt, thị giác, màu
sắc) nhĩ thức (tai, thính giác, âm thanh) tỷ thức (mũi, khứu
giác, mùi hương) thiệt thức (lưỡi, vị giác, mùi vị) và
thân thức (thân xác, xúc giác) đây là cái biết của
năm giác quan. Nhờ 5 giác quan mà chúng ta biết được những
gì ở chung quanh chúng ta, chúng ta đối thoại, chúng ta tiếp
xúc được với trần cảnh, với ngoại cảnh ở hiện tượng
giới này. Những cái “nhận” biết của 5 giác quan hoàn
toàn không có một chút phê bình, tính toán phân biệt nào,
năm giác quan như năm cánh cửa mở sẵn để tiếp nhận ngoại
cảnh, để cảnh đi vào. Vì trong cảnh giới hiện tượng
thô kệch vật chất này, năm thức trên không có đủ tự
tại lực để nhận thức, nên chúng không nhận xét được
điều gì, có nhận xét được chăng nữa thì cũng chỉ biết
được những cái rất thô sơ như nhìn một bông hoa thì chỉ
biết bông hoa có mầu hay không có mầu, có hương hay không
có hương..... rồi phải nhờ tới Ý thức (thức thứ 6 sẽ
bàn ở dưới) mới phân biệt được rõ rệt hơn đẹp xấu,
hoa loại gì, để làm gì, để tặng ai ...vân vân...
Ở
cảnh giới này 5 giác quan thường thích đuổi theo ngoại cảnh
và thường bị ngoại cảnh lôi cuốn quyến rũ, đây đúng
là cảnh ta bà mê ảo, trùng trùng điệp điệp sự kiện,
trùng trùng điệp điệp sự vật. Chúng trôi lăn không ngừng
nghỉ trong dòng hiện tượng theo thói quen của ái dục, theo
thói quen của ô nhiễm như tập tục, giáo dục, truyền thống,
ý niệm...vân vân... Nhờ tu tập, nhờ thanh tẩy, nhờ thực
hành thâm sâu và nhờ thiền định mà chúng ta dần dần biết
được, dần dần nhận ra được, dần dần thực nghiệm được
hoặc chứng ngộ được 5 “cái-biết-giả” này, 5 cái vọng
tưởng này, khi đó sự hiểu biết thô kệch được chuyển
hóa thành “Cái Biết” mà sách nhà Phật gọi tên là “
Thành-Sở-Tác-Trí ”.
Vì
trôi lăn theo ngoại cảnh nên dĩ nhiên là chấp “có” đến
cùng cực, coi các sự vật, các sự kiện, các hiện tượng
nhất định là có thật. Chủ thể để đối tượng lôi cuốn!
Để cho đóa hoa hồng quyến rũ. Vì thế khi đã ngộ, khi đã
phát hiện ra sự gỉa dối này, khi đã hiểu tường tận tâm
vọng tưởng này thì trí tuệ hiểu biết này được tượng
trưng là Đức Phật Amoghasidhi - Bất-Không-Thành-Tựu Như Lai.
Aán của Ngài là Vô Uùy Aán. Trong Mandala (Đàn tràng, Đạo
tràng, môi trường sống...) Ngài ngự ở phương Bắc, mang
mầu xanh lá cây xẫm, chủng tử AH. Bất-Không nhưng mà là
Bất-Không-Thành-Tựu Như Lai, thành tựu được cái bất-không
ấy, nhìn nhận ra được 5 “cái-biết-gỉa” ấy mà không
bị chướng ngại ngăn che gì. Lúc đó đi vào cõi ta bà, đi
vào cái không cùng gỉa dối, đi vào cõi trùng trùng điệp
điệp huyễn ảo của đời sống mà chẳng hề bị dính mắc
gì cả, không chấp gì cả, không hề sợ hãi điều gì cả,
vì biết rằng đó chỉ là trò như lai, chúng đến như vậy!
Sự kiện, sự vật xuất hiện như vậy, chúng đến như vậy,
như nó là! (do luật nghiệp lực, luật duyên khởi, sự kiện
này là sự tự nhiên của năng lượng trong vũ trụ) Diệu
dụng của trí này không có biên giới, nó có thể thực hiện
những phép mầu để giúp người giác ngộ đi độ sinh, độ
sinh một cách tự nhiên như nhiên. Tuệ giác của họ không
còn là cái biết thường tình, họ vào đời chỉ có trí tuệ
và từ bi, vào đời một cách tự nhiên an nhiên, vào đời
mà không rời Phật Tính. Vào đời cùng với Phật Tính ! Có
nghĩa là: Phật Tính vào đời! Phật Tính thị hiện!
*
Thức thứ 6 - Ý thức: khi không tiếp xúc với trần
cảnh (ngoại cảnh, đối tượng) mà tư tưởng vẫn phân biệt
tính toán, vẫn biết những sự kiện đang xẩy ra, như khi
ngồi thiền mắt nhắm mà vẫn biết mọi sự việc đang diễn
ra trong đầu, cái biết đó gọi là ý thức. Thức này vô
cùng lanh lợi, cái biết này phân biệt, suy tính đủ thứ.
Ý thức không phải là những thực thể thường hằng bất
biến, mà chỉ là những dòng-lưu-chuyển biến đổi từng
giây phút, từng sát na (nói một cách rõ hơn, đây chính là
sự liên tục không ngừng của dòng năng lượng tinh thần.)
Sự biến chuyển này là định luật chung của mọi hiện tượng,
nghĩa là những hiện tượng được thành lập, tồn tại và
phân tán theo nguyên lý nhân qủa, duyên khởi, chúng chịu điều
kiện hóa bởi những hiện tượng liên hệ, cái này có thì
cái kia có, cái này không có thì cái kia không có, cái này
diệt thì cái kia diệt. Đây là luật tự nhiên, sự tự nhiên
của vũ trụ, không do ai sáng tạo ra.
Ý
thức phát sinh do căn (của cả thô kệch và vi tế) và cảnh,
do nhân và duyên, nó nương tựa trên căn cứ mà phát sinh (căn)
và đối tượng của căn cứ đó (cảnh) để tồn tại. Năm
thức trên có những căn và cảnh vật chất của chúng; căn
ở đây là sinh lý và cảnh ở đây là vật lý. Ý Thức lấy
Ý Căn (Mạt na thức, căn thức, thức thứ 7 sẽ nói sau) làm
căn bản. Ý Căn lấy Tàng Thức (A Lại Da thức, vô thức,
thức thứ 8 sẽ nói sau) làm căn bản.
Trên
con đường tu tập ý thức đóng một vai trò quan trọng, nó
phải đi từ địa (đất, land, stage, bhùmi) này đến địa
khác, từ cảnh giới này đến cảnh giới khác, từ giai đoạn
này đến giai đoạn khác, từ tình trạng này đến tình trạng
khác (3). Có thể gọi đây chính là tiến trình tu tập, tiến
trình chuyển hóa của tâm thức theo từng trạng thái, theo
từng giai đoạn. Với sự kiên trì tu sửa thực tập, với
sự hành thâm Đạo Pháp cùng với thiền định, dần dần
Ý thức có thể quán chiếu được tính không của ngã và
pháp, của chính chủ thể và đối tượng, biết được thực
tại cuối cùng của tất cả mọi hiện tượng là không. Khi
đó nó có khả năng ngăn cản được 4 loại phiền não, không
cho những phiền não này hiện hành hoạt động và nhất là
không được hợp tác với Ý Căn nữa. Bốn loại phiền não
này là 4 khuynh hướng nhận thức sai lạc về ngã (cái tôi,
chủ thể): ngã si (vô minh), ngã kiến (chấp), ngã mạn (ngạo
mạn) và ngã aí (tham, dục). Kết quả của sự quán chiếu
này là Căn thức mất dần sức mạnh và do đó mất dần tính
cách ô nhiễm, mất dần tính cách ảnh hưởng đến ý thức.
Nếu
chúng ta dừng lại ở đây mà không tiếp tục con đường
tu tập giải thoát nữa thì chúng ta cũng vẫn chỉ ở bờ
bên đây mà thôi, chưa ra được giữa dòng hoặc chưa sang
tới bờ bên kia. Vì thế, chúng ta lại phải tiếp tục vượt
qua, lại phải tiếp tục chuyển hóa (yết đế trong kinh Bát
Nhã), lại tiếp tục đi đến một giai đoạn khác, một chặng
đường khác được gọi tên là viễn hành địa, ở đây
Ý thức mới bắt đầu an trú thường trực trong nhị không
chân như, tức là trong sự trong suốt về tính không của ngã
và pháp, của cả chủ thể lẫn đối tượng. Khi Ý thức
tiến tới địa này, khi ý thức chuyển hóa đến trạng thái
này thì Ý Căn liền bị tách rời ra khỏi Tàng thức, không
còn nhận Tàng Thức làm đối tượng, làm nơi nương tựa
nữa. Bao nhiêu tà kiến về sự tồn tại của ngã giờ đây
hoàn toàn bị tiêu tán, không còn bị vướng mắc, không còn
chấp vào cái tôi nữa. Một khi những tâm bệnh của chúng
ta đã được chuyển hóa, chúng ta sẽ có những sự nhận
xét chính xác và tỉnh thức nhạy bén. Cái ly nước đục
giờ đây đã trong, những năng lượng xấu (negative) đã được
biến đổi, đã được chuyển hóa. Lúc đó tất cả thế
giới hiện tượng sẽ được nhận biết qua bản tính như
thị của chúng, như chúng là. Chúng không còn là sản phẩm
của tâm vọng tưởng phân biệt nữa. Khi ý thức thực chứng
được “cái biết không thực” của chính nó, khi ý thức
hiểu thấu được thực tại cuối cùng của chính nó là không
thì “cái biết” này được gọi tên là Diệu Quan Sát Trí
(trí tuệ nhận biết nhiều khía cạnh, nhận biết toàn diện
pháp giới). Trong gia đình Thiền Phật Diệu-Quan-Sát-Trí được
tượng trưng là Đức Phật Amitabha, A-Di-Đà Phật, Vô-Lượng-Quang
Như Lai. Ấn của Ngài là Thiền Aán. Trong Mạn đà la, Ngài
ngự ở phương Tây, mang mầu đỏ chói, (Tây phương cực lạc,
Tây phương tịnh độ, ý thức đã đi vào định, đã đi vào
tịch nhiên vắng lặng, đã đi vào thanh tịnh tuyệt đối)
chủng tử của Ngài là AH hay HRIH. (4)
*
Thức thứ 7 - Ý căn : ý thức thường bị gián đoạn,
đứt quãng như khi ngủ mơ, khi bất tỉnh... lúc đó nó không
còn tính toán phân biệt gì nữa, nhưng nó không mất hẳn
mà nó trở về cái gốc của nó là Ý Căn (còn được gọi
là mạt na thức, căn thức, đệ thất thức, gốc của ý thức).
Công năng của thức này là chấp Ta, lúc nào cũng bảo thủ
cái ngã, lúc nào cũng qui về cái tôi, những hành động tự
nhiên tự động, những phản ứng tự nhiên là do thức này
điều khiển. Nó tượng trưng cho sự giầu sang, vừa ý, bành
trướng thế lực, nên trong phương diện tích cực, đặc tính
này vô cùng tự mãn, vô cùng viên mãn. Ta luôn luôn cảm thấy
và tự cho ta là cái rốn của vũ trụ, luôn luôn bao trùm tất
cả từ thế giới vật chất đến thế giới tâm linh, không
ai có thể qua mặt ta được. Khi Ý thức chuyển thành Diệu
Quan Sát Trí thì cũng là lúc Ý Căn chứng được cái-biết-không-thực
của chính nó, chứng được cái trống rỗng của chính nó.
Sự giác ngộ của “cái biết” này gọi là trí tuệ chấp
nhận - Bình-Đẳng-Tánh-Trí. Diệu dụng của tuệ giác này
là khả năng thấy được tính cách bình đẳng và đại hòa
của vạn pháp rộng mở bao la để có thể hóa hiện tự do
trong công tác độ sinh chia sẻ hòa đồng. Bình-Đẳng-Tánh-Trí
được tượng trưng là Đức Phật Ratnasambhava, Bảo-Sanh-Như
Lai. Trong tính cách giầu có, đầy đủ (vị có nhiều châu
báu, đây là nguyên nhân xuất hiện Tam bảo trong cõi đời
này: Phật, Pháp, Tăng) và nhìn mọi người, mọi vật bình
đẳng như nhau, Ngài chia sẻ và mời gọi muôn loài chúng sinh
cùng an hưởng. Trong mandala, Ngài ngự ở phương Nam, phương
Nam tượng trưng cho mặt trời giữa trưa, mặt trời mang màu
vàng chói đầy đủ sức nắng ấm chan hòa trên mọi cảnh
vật. Ấn của Ngài là Bố Thí Aán, trong tư thế thiền định
bàn tay phải của Ngài để trên đầu gối chân phải và chấm
xuống đất, lòng bàn tay quay ra ngoài, năm ngón tay mở xòe
ra để ban phát và chia sẻ. Chủng tử của Ngài là TRAM.
*
Thức thứ 8 - Tàng thức : là cái kho để chứa đựng những
“cái-chấp-ngã” muốn chứa, dưới dạng những chủng tử,
cũng gọi là A-Lại-Da thức, vô thức hay đệ bát thức.
Sự
chấp thủ chủ thể và đối tượng là những nhận thức
sai lạc về ngã và pháp. Những nhận thức sai lạc này hoạt
động như những pháp hiện hành, nhưng chúng có gốc rễ sâu
xa ở Tàng thức. Trong lúc hoạt động, chúng vẫn tiếp tục
được huân tập vào cái kho chứa này, vì vậy gốc rễ của
chúng càng ngày càng vững mạnh hơn. Chừng nào chấp ngã,
chấp pháp còn có tiềm lực ở Tàng thức chừng ấy chúng
vẫn còn cơ hội phát hiện để hành động. Khi chúng đã
bị tiêu diệt, chúng ta có thể thấy trong lúc thiền quán
của mình có một cái gì mầu nhiệm mà chúng ta tưởng là
chân như. Nhưng nếu cái gì đó mà còn được nhận thức
như là một vật sở đắc, không được tự nhiên thì chúng
ta vẫn còn chưa an trú trong chân như, vẫn còn đứng ở vòng
ngoài mà nhìn vào, chưa phải là chính chân như. Trong chân
như, không có chủ không có khách, không có sở đắc, không
có người chứng ngộ cũng như đối tượng được chứng
ngộ, không có Phật không có chúng sinh. Đó là “vô đắc,
dĩ vô sở đắc cố” (không đắc, bởi không có cái gì để
đắc) trong kinh Bát Nhã.
Vô
phân biệt trí chỉ có thể chứng nghiệm khi sự phân biệt
chủ thể và đối tượng không còn. Tuệ giác này không thể
nghĩ bàn, bất khả tư nghì, nó là kết quả của sự tu sửa
và thực tập, của sự dập tắt hoàn toàn chấp thủ, của
sự phá vỡ tất cả những cái chấp có ta và chấp cái bị
chấp. Được như vậy, chúng ta chứng được quả Chuyển
Y (không phải có một cái qủa tên là chuyển y để chúng
ta nhìn, nhưng tới đây chúng ta có thể hiểu và kinh nghiệm
được có một cái gì đang biến chuyển trong tâm thức và
trong cả cuộc sống của chúng ta, từ kinh nghiệm này chúng
ta có thể đem áp dụng vào chính cuộc đời của chúng ta
khi chúng ta đối diện với từng hoàn cảnh, chúng ta biết
cách chuyển biến được sự kiện và có thể chia sẻ được
với muôn loài chúng sinh). Chuyển có nghĩa là chuyển biến
mọi ô nhiễm, ô trược, mọi nghiệp lực thành thanh tịnh,
thành rỗng lặng. Y là những nguyên lý duyên sinh, căn cứ
trên nguyên lý này chúng ta phá trừ những chấp ngã, chấp
pháp và đạt đến sự thanh tịnh, đến chân như. Sự giải
phóng của Tàng thức là sự chuyển bất tịnh thành tịnh.
Cũng nên biết rằng tịnh và bất tịnh cùng trong một thực
thể.
Trên
đường đi tới giải thoát, Tàng thức thường bị Căn thức
ràng buộc. Chỉ khi nào Căn thức nhìn ra được sự bình đẳng
của sự vật thì Tàng thức mới ngưng đóng vai trò làm đối
tượng, làm chỗ dựa cho Căn thức, nhưng ảnh hưởng của
các ác nghiệp mà nó tàng chứa vẫn chưa hoàn toàn được
loại bỏ, chưa hoàn toàn được thanh tẩy, phải đợi đến
khi “cái-biết-chân-thực” được kết tụ và bền chắc
như Kim Cương bất hoại nó mới được giải thoát ra
khỏi hai loại chướng ngại : phiền não chướng và sở tri
chướng. Sở tri chướng là chướng ngại của tri thức, chướng
ngại của tri thức ở đây là chính tri thức, bởi vì nếu
chúng ta bị kẹt trong một tri thức và cho tri thức đó là
chân lý tuyệt đối (chấp pháp, cái-biết chấp cái-biết),
chúng ta sẽ không đi xa hơn được trên con đường giải thoát,
không yết đế được. Nếu tất cả các chủng tử đã được
chuyển từ bất tịnh sang tịnh rồi thì Tàng thức sẽ được
chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí, tịch tịnh rỗng lặng như
một tấm gương trong sáng tròn đầy, phản chiếu trọn vẹn
tất cả mà không dính mắc với một sự vật nào, cũng không
bị các sự vật ấy động chạm hay lay chuyển. Vì cái khả
năng có thể đứng lặng sáng ngời phản chiếu trọn vẹn
và vững bền đó nên được gọi tên như vậy. Trong gia đình
thiền Phật trí tuệ này được tượng trưng là Đức Phật
Asobya, Bất-Động-Quang Như Lai, Ngài ngự ở Phương Đông,
Aán của Ngài là Súc Địa Aán, chủng tử HUM. Để biểu thị
tính không nao núng của Ngài, Ngài ngồi trong tư thế kiết
già đại định bàn tay phải ở đầu gối phải chạm đất,
lòng bàn tay quay vào trong, diệu sắc thân của Ngài mang mầu
trắng chói lọi, nổi bật trên nền trời xanh lơ thăm thẳm
của diệu tâm - màu xanh lơ là mầu của Đức Đại Nhật
Như Lai, Maha Vairocana - (sau 49 ngày nhập định ở gốc bồ
đề, Phật Thích Ca ngộ đạo cũng ngồi trong tư thế này).
Trong
8 thức chỉ có thức thứ 7 (Căn thức) và 8 (Tàng thức) là
tiếp nối không gián đoạn, còn các thức khác đều có thể
gián đoạn - trong trường hợp ngủ, năm thức đầu không
hoạt động và có thể cả ý thức nữa, nếu người ngủ
không nằm mộng. Tàng thức vì vừa biến chuyển vừa liên
tục nên được gọi là hằng chuyển (hằng là liên tục,
chuyển là biến đổi). Hình bóng của Tàng thức là hình bóng
của dòng sông, nước trong sông thay đổi luôn nhưng con sông
vẫn liên tục.
Trong
8 thức, 5 thức đầu giống như 5 anh làm công ở ngoài
cửa tiệm chuyên tiếp xúc với khách (5 trần cảnh của 5
giác quan) , anh thứ 6 khôn lanh suy tính, kiểm soát, phân biệt,
phân loại, lựa chọn ...vv... anh thứ 7 là ngã si, ngã ái,
chỉ biết chấp, chấp ngã, chấp cái bị chấp, chấp pháp...vv...
anh này đem cất tất cả vào kho tàng thức, dưới dạng chủng
tử, rồi từ cái kho tinh thần vô hình, vô tận đó, đưa
chủng tử các pháp ra khởi hiện hành, hoạt động. Chúng
sinh bị trầm luân không thoát ra khỏi biển sinh tử luân hồi
được hoặc bị bế tắc trên con đường tu tập, là cứ
luẩn quẩn trong thức thứ 6 và thức thứ 7. Tu tập là cũng
dùng hai thức này, lấy gậy ông đập lưng ông, tu sửa thói
hư tật xấu, thực tập những hạnh nguyện tốt và thiền
định chính là tạo ra những nguồn năng lượng tốt, tích
cực (positive), những chủng tử tốt để biến chuyển, để
thay thế những nguồn năng lượng xấu, tiêu cực (negative),
những chủng tử xấu đang nằm trong căn thức và tàng thức,
cũng như ngăn ngừa những chủng tử xấu sắp đến. Thiền
quán, như phương pháp thanh tẩy quán Ngài Kim Cang Tát Đỏa
(Vajrasattva) của mật tông là để chuyển hóa những chủng
tử xấu trong căn thức và tàng thức thành thanh tịnh, trong
sáng. Quán nhân-vô-ngã để phá trừ si mê chấp ngã, dứt
phiền não chướng; quán pháp-vô-ngã để trừ pháp chấp,
dứt sở tri chướng (thực tại cuối cùng của nhân và pháp
cũng là không, không ở đây không phải là không của nhị
nguyên -không đối với có- mà là bản lai diện mục, chân
tính, không tính của nhân và pháp.)
Niết
bàn là sự dập tắt mọi vọng tưởng phân biệt. Niết bàn
là tự thân thực tại, an nhiên tự tại, là chân như. Con
đường tu tập là con đường tự chiến thắng chính mình,
là con đường hủy diệt gốc rễ của sự chấp thủ vào
chủ thể và đối tượng. Một người mà không phá hủy được
tận gốc rễ của cái “tôi”, của tham sân si và ngã mạn
thì làm sao có thể tiếp cận hòa nhập được với vĩnh cửu
thường hằng. Buông xả là một tiến trình phá hủy, tiêu
hủy tam độc tham sân si và ngã chấp. Sống cởi mở, vị
tha, sống yêu thương muôn loài muôn vật là một tiến trình
phá hủy tận cùng ngã aí. Càng hủy diệt cái tôi bao nhiêu
thì tâm từ bi càng hiển lộ bấy nhiêu, cho đến khi Asanga
(Vô Trước, một thánh tăng của Aán Độ sống vào thế kỷ
thứ tư) biểu lộ tình thương đến cùng độ là cúi xuống
ôm hôn con chó ghẻ thì con chó ghẻ liền biến thành Đức
Di Lặc; khi bắt tay ôm hôn kẻ thù với một tấm lòng chân
thành yêu thương tha thứ thì chính kẻ thù biến thành người
bạn thân thiết! Phá chấp cho tới kỳ cùng thì sẽ hiểu
được tính không. Nhưng hiểu là một chuyện mà sống trong
tính không lại là chuyện khác, giống như cái hiểu của Naropa
về Phật pháp trước khi gặp Tilopa và sau khi gặp Tilopa thật
khác xa nhau. Milarepa, một bậc thầy về thiền định, nói
rằng: “ Khi thiền định con hãy nhìn thấu suốt vào không
gian,” nhìn thấu suốt là nhìn phá bỏ, nhìn gạt bỏ những
gì có ở trong không gian, những gì không phải là không gian
thì không-gian-thật sẽ hiện ra (một ý nghĩa huyền diệu
khác của buông xả.)
Trong
Mật tông có những phương pháp quán chủng tử, quán các vị
Phật và chủng tử của các Ngài, những phương pháp này rất
hữu hiệu, diệu dụng trong vấn đề chuyển hóa các nguồn
năng lượng để hòa nhập vào Phật tính. Cũng có một phương
pháp thiền định khác vô cùng hữu hiệu để nhận biết,
để khám phá ra cái-biết-giả của các thức trình bày ở
trên, đó là khi ngồi thiền chúng ta cứ ngồi yên mà không
làm gì cả, thiền chỉ có một ý nghĩa đơn giản là hãy
để tâm đi vào tình trạng an nhiên tự nhiên của chính nó.
Chogyam Trungpa Rinpoche, một bậc thầy của Mật tông, nói: “
Trong lúc ngồi thiền, chúng ta có thể ngồi yên mà không làm
gì cả, chỉ ngồi yên mà không làm gì cả. Chúng ta hãy ngưng
tất cả mọi hoạt động, hãy ngưng vội vã, bồn chồn mà
cứ ngồi yên. Hãy ngồi xuống và yên lặng! Chúng ta nên hãnh
diện là chúng ta đã làm một công việc tuyệt vời trong cuộc
sống là không làm gì cả.” Không nghĩ, không quán tưởng,
không tham gia, không theo dõi, không không...vv...Hãy để tâm
rỗng lặng như vậy, một thời gian sau chúng ta sẽ hiểu được
cái diệu dụng tuyệt vời của nó và sẽ thấu hiểu được
những thức nói ở trên đang diễn kịch trong sân khấu diệu
tâm, như những đám mây đang lơ lửng trong bầu trời xanh
(không gian trước mặt dầy đặc ô nhiễm mà cũng vắng lặng,
thanh tịnh, trống không) cũng như sẽ hiểu được sự rộng
mở trong sáng của Trí Huệ và Từ Bi. Lúc đó chúng ta mới
thực sự cảm nghiệm được: đời là một trò chơi, tất
cả đều là tuồng ảo hóa và chúng ta mỉm cười với chính
chúng ta: vậy mà mình cứ tưởng là thật, vô duyên!!! (rất
nhiều giai thoại kể rằng các vị thiền sư phá lên cười
khi ngộ đạo, rất tự nhiên.)
Bản
chất của cái-biết là trung tính (neutral) nên chúng có thể
biến chuyển được cả hai chiều xấu thành tốt, tốt thành
xấu, có nghĩa là chúng sinh có thể giải thoát khỏi vòng
sinh tử luân hồi mà cũng có thể bị trầm luân trong đó
hoặc trở lại đó (tu nửa chừng, chưa bền chắc như kim
cương, bất hoại.) Như vậy, có phải đi chùa thật nhiều,
tụng kinh thật nhiều, cúng dường thật nhiều là sẽ được
giải thoát? hay là ngồi thiền một thời gian thấy đời nhẹ
tâng thoải mái rồi nghĩ rằng ta đã được giải thoát? Nếu
nghĩ như vậy là ta bị mắc lừa rồi đó! Ai lừa ai? Chính
tâm của ta lừa tâm ta, ta cần có sự tỉnh thức trong từng
giây phút. Ngày xưa, Bồ Đề Đạt Ma gặp Lương Võ Đế,
vua hỏi:
- Trẫm
xây chùa thật nhiều, in kinh độ tăng rất nhiều, như vậy
có công đức gì không ? Bồ Đề Đạt Ma trả lời:
-
Không! Đều không có công đức gì.
-
Thế nào mới là công đức?
-
Trí hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh. Bản thể phải tự nhiên
trống vắng, như thế mới là công đức. Công đức là ở
nơi bản tính chứ không phải do nơi công nghiệp thế gian
(xây chùa, in kinh, đúc tượng...) mà cầu được.
Tu
tâm, con đường thiền định với gia đình Thiền Phật, nếu
chỉ học hỏi, nếu chỉ nghiên cứu, nếu chỉ tìm hiểu mà
không thực hành thì đây chính là Duy Thức Học, cũng chỉ
là một thứ chấp, duy, chấp pháp (sở tri chướng nói ở
trên), cái chấp này vô cùng nguy hiểm, cái chấp này là vua
trong các loại chấp, cái chấp này làm tiêu tan đi tất cả
tiến trình tu tập và tiến trình hành thâm Đạo Pháp, nó
ngăn cản sự chuyển hoá, nó ngăn cản sự giải thoát, nó
ngăn cản tâm bồ đề, nó ngăn cản sự rộng mở, nó ngăn
cản sự hòa hợp các tôn giáo, các giáo lý, các triết thuyết.
Phật không có tông phái, không có bất cứ một thứ “duy”
nào cả, phải hiểu rõ, tại sao lại có tông phái, tại sao
lại có “duy”? (Không tính là nền tảng triết học của
Trung quán, Tàng thức là tâm điểm triết học của Duy thức,
hai nền triết học này bổ xung lẫn cho nhau, giải thích duyên
sinh tính và vô ngã tính của hiện hữu, kỳ cùng của vấn
đề cũng chỉ để hiểu Vô Tự Tính của vạn pháp).Từ bồ
tát đến hàng chúng sinh thì có tông phái, có duy, có cứu
độ, bồ tát phải hóa thân mới cứu độ được. Phật là
Rỗng Lặng, Pháp Thân Phật là sự cứu độ tự nhiên, tự
nhiên đã là cứu độ, đã là giải thoát. Cái tâm nhị nguyên,
cái tâm bệnh hoạn ô nhiễm muốn được giải thoát, muốn
được cứu độ chứ tâm bản nhiên đã chính là sự giải
thoát miên viễn rồi.
Nếu
thực sự hành thâm Đạo Pháp thì sẽ nhận ra được gia đình
Thiền Phật cũng giống như gia đình của chúng ta, có cha mẹ
anh em, họ hàng, bạn bè và xã hội mà chúng ta sinh hoạt chung
với nhau mỗi ngày, mỗi người mang một sắc thái khác nhau,
cá tính khác nhau mà chúng ta phải đối diện với, phải sinh
hoạt với. Mỗi người chúng ta cũng phải đối diện với
chính mình là cá tính, tính tình của chính mình (mandala -đạo
tràng- bên ngoài và mandala nội tâm).
Sự
liên hệ của Đức Đại Nhật Như Lai (Maha Vairocana) và đàn
tràng bí mật của Ngài, trong gia đình Phật, Ngài ngồi ở
trung tâm và 4 vị Phật ở 4 phương chính:
Đông
(Asobya/A Súc Bệ Phật)
Tây
(Amitabha/A Di Đà Phật)
Nam
(Ratnasambhava/Bảo Vương Phật)
Bắc
(Amoghasiddhi/Bất-Không Phật)
và
4 phương phụ là 4 góc với 4 vị Đại Bồ Tát:
Đông
Nam (Vajradhara/ Chấp Kim Cang hoặc Samantabhadra/Phổ Hiền/Dũng)
Tây
Nam (Avalokiteshvara/Quan Thế Aâm/Bi)
Tây
Bắc (Manjushri/Văn Thù Sư Lợi/Trí)
Đông
Bắc (Maitreya/Di Lặc, Từ Thị /đang thực hành thâm sâu
đạo pháp để trở thành vị phật trong tương lai)
cũng
chính là sự liên hệ của mỗi người chúng ta với cái đàn
tràng bí mật cá tính riêng biệt của mỗi người. Trong đời
sống tu tập, hành giả phải sống với từng khía cạnh nhỏ
nhất của ông ta qua chính cái bản tính bẩm sinh của ông
ta. Đàn tràng bí mật của một hành giả là phải đối diện
trong từng giây từng phút ở cuộc sống với chính những
cá tính riêng biệt của hành giả: tham lam, sân hận ganh ghét,
ngu si đần độn, ngã mạn kiêu ngạo, yêu thương, sợ hãi...
vân vân...Hành giả phải chuyển hóa tất cả những nguồn
năng lượng này, những nguồn năng lượng này không ở đâu
xa mà ở ngay trong thân tâm của hành giả. Đây chính là những
nguồn năng lượng bất tịnh, bốn loại phiền não đầy ô
nhiễm cần phải thanh tẩy, cần phải chuyển hóa, càng chuyển
hóa bao nhiêu thì sân hận ganh ghét càng trở thành từ bi bấy
nhiêu, càng chuyển hóa bao nhiêu thì vô minh càng trở nên trong
sáng, trí tuệ bấy nhiêu, càng buông xả bao nhiêu thì tâm
ích kỷ, tâm kiêu căng càng trở nên cởi mở, bao la, rỗng
lặng bấy nhiêu. Vì thế cần phải thực tập, cần phải
chuyển hóa chính những năng lượng ô nhiễm đã tích tụ
từ muôn ngàn kiếp ở trong thân tâm, đây chính là cái bản
tính mang đầy nghiệp quả trong tâm thức của chúng ta. Trong
4 vị đại bồ tát thì Đức Di Lặc tượng trưng cho sự thực
hành thâm sâu Đạo Pháp, khắp thế giới loài người chỗ
nào cũng có bước chân của Ngài, tay cầm túi càn khôn, tay
lần mala (xâu chuỗi) mật chú, miệng luôn mỉm cười với
muôn loài chúng sinh và đặc biệt với lục tặc đang bám
chặt vào Ngài, lục tặc chính là những tâm thức trình bày
ở trên. Con đường tu tập, con đường thành phật, con đường
giải thoát không có gì khác hơn là con đường tự chiến
thắng chính mình, con đường thị hiện lòng từ bi, lòng Bồ
Đề, con đường thanh tẩy những ô nhiễm trong tâm thức của
chính mình, không phải của ai khác! Tiến trình, ba khía cạnh
của con đường tu tập đến giác ngộ là Buông xả, Tâm bồ
đề, Không tính. Phương pháp huyền diệu duy nhất cho cả
ba lãnh vực này, nhất là hai lãnh vực đầu, chính là: Yết
Đế, Yết Đế, Chuyển hóa tâm.
Đức
Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni là một tấm gương sáng chói
chiến thắng chính tâm thức của Ngài (Sakyamuni = kẻ chiến
thắng của dòng Sakya.) Tiểu sử tu tập của Ngài là chiếc
bản đồ vô cùng qúi gía để chúng ta thực hành theo: (chìa
khoá, điều kiện để thoát khổ)
1.
Nhận thức cuộc đời là đau khổ, nhận thức cuộc đời
đầy ô nhiễm, bất tịnh.
2.
Quyết tâm đi tìm hiểu nguyên nhân của đau khổ, cũng là
lúc bắt đầu bước chân vào cuộc đời buông xả.
3.
Phát Tâm Bồ Đề (khi rời bỏ cung điện, trước khi chia tay
với người đầy tớ dắt ngựa, Ngài nói: “Ta làm việc
này không phải vì ta mà vì chúng sinh.”)
4.
Tìm thầy học đạo, thiền định, tự chiến thắng chính
mình (thực hành đạo pháp)
5.
Tự mình quay vào bên trong của chính mình (Ngài không bằng
lòng với bất cứ một vị thầy bên ngoài nào, một pháp
môn ngoại tại nào) để tìm hiểu, tu tập. Kết qủa là trí
tuệ khởi phát, vô minh dần tan biến. Khổ là vì vô minh,
khi hết vô minh là lúc Ngài giác ngộ, là lúc toàn mãn, viên
mãn, là lúc hạnh phúc, thanh tịnh, hết khổ, là lúc chính
kiến bùng phát, nhìn mọi hiện tượng như thị, như lai, không
tính.
Milarepa,
con người siêu việt, một đại hành gỉa của Tây Tạng ở
thế kỷ 11, một đại phù thủy mang rất nhiều tội lỗi,
giết vô số người, đã biết hối hận, đã tự chiến thắng
chính mình để thành Phật. Hình ảnh Đức Di Lặc Bồ Tát,
vị Phật trong tương lai, đang thực hành Đạo Pháp để chiến
thắng chính mình, đang thị hiện lòng từ bi (Từ Thị, một
tên khác của Đức Di lặc) để hoà nhập trong cuộc sống
thường ngày của chính Ngài là một tấm gương để chúng
ta bắt chước mà thực hành.
Bài
viết Tu Tâm này (cái-biết-này) đến từ cái tâm rỗng lặng
(bản thể) được thị hiện ra trên những trang giấy này
(tướng thể), rồi sau khi đọc xong nó đem lại cho người
đọc một sự biến chuyển nào đó trong tâm thức (dụng thể).
Bài viết này nói nên sự làm việc của tâm, sự chuyển hóa,
sự vận hành không ngừng nghỉ của tâm thức chúng ta và
tiến trình chuyển hóa tâm thức của một hành gỉa trên con
đường giải thoát, dù không làm gì cả tâm thức tự nó
cũng luôn luôn chuyển dịch, duyên khởi tự chính nó theo nghiệp
lực. Cái-biết-này nếu không tiếp tục biến chuyển đi như
sự trôi chảy của dòng sông, mà dừng lại, mà cứng đọng
lại thì nó sẽ trở nên một chướng ngại, giống như thức
ăn không tiêu hóa thành máu huyết nuôi thân thì sẽ sình thối
trong bao tử mà bị chết. Hãy để nó trôi chảy, hãy để
nó trở về cái không rỗng lặng của nó, có nghĩa là phá
chấp đến kỳ cùng, có nghĩa là giải thoát ngay cả sự giải
thoát cuối cùng, có nghĩa là:
“Yết
Đế, Yết Đế, Ba La Yết Đế, Ba La Tăng Yết Đế, Bồ Đề
Tát Bà Ha.”
“Chuyển
hóa, Chuyển hoá, Hãy chuyển hoá, Hãy chuyển hoá nữa đi,
Niết bàn là ở đó.”
“Thực
hành, Thực hành, Hãy thực hành, Hãy thực hành nữa đi, Trí
huệ là ở đó.”
“Buông
xả, Buông xả, Hãy buông xả, Hãy buông xả nữa đi, Từ Bi
là ở đó, Tâm Bồ Đề là ở đó, Không Tính là ở đó.”
“TAYATHA
OM GATE GATE PARAGATE PARASUMGATE BODHI SVAHA.”
OM
AH HUM SHAKYAMUNI HUM
OM
AH HUM MANJUSHRI HUM
OM
AH HUM AVALOKITESHVARA HUM
OM
AH HUM VAJRADHARA HUM
OM
AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUM
OM
MANI PADME HUM
OM
AH HUM MAITREYA HUM
OM
AH HUM
Để
nói lên tính cách viên mãn của sự giác ngộ, hình ảnh thõng
tay đi vào chợ trong “Thập ngưu đồ” của thiền tông,
người viết xin lặp lại lời dậy bảo của Sahara, một thánh
sư của mật thừa, ngài nói:
“
Người nào không thưởng thức các giác quan đã thanh tịnh
mà chỉ thực hành Tính Không thì cũng giống như con chim bay
lên từ một chiếc tàu, cứ bay vòng vòng rồi lại đậu xuống
tàu.”
Vô
Huệ Nguyên
Chú
thích:
(1)
Phạm Công Thiện, Nét đẹp tinh túy trong sáng của đạo lý
Phật giáo.
(2)
Ngôn ngữ là một trong ba cửa ngõ (tam mật) để đi từ hiện
tượng giới vào kim cang giới hay ngược lại; để đi từ
vô minh đến trí tuệ hay ngược lại; để tạo nghiệp hay
xóa nghiệp ...vv... Ba cửa ngõ là: thân, khẩu và ý.
*
Thân: thân xác hay tất cả những hành động từ thân xác,
của thân xác và thuộc về thân xác (đưa tay đánh một người
là tạo một hành động xấu từ thân xác, đưa tay vuốt ve
an ủi một người bị khổ đau là tạo một hành động tốt
từ thân xác.Chắp tay lạy Phật là hành động tốt, ngồi
thiền là để thanh tịnh thân tâm).
*
Khẩu: âm thanh, ngôn ngữ, văn chương, nhạc hay tất cả những
phương tiện thuộc về truyền thông (nói xấu một người
là tạo một nghiệp xấu, nói lời chân thành là tạo một
nghiệp tốt, viết một bài văn đả kích với ác ý, không
đúng sự thật là tạo nghiệp xấu, viết một bài văn xây
dựng có tính cách hướng thiện là tạo một nghiệp tốt.
Tụng kinh, niệm thần chú là để thanh tịnh khẩu...).
*
Ý: ý tưởng hay tất cả những gì phát khởi ra từ tâm thức
(ước cho người đó bị điều không tốt là tạo nghiệp
xấu qua ý; ước cho chúng sinh được an lạc là tạo nghiệp
tốt. Quán tưởng, tưởng tượng chủng tử, thầy, bồ tát,
phật trên đỉnh đầu là để thanh tịnh ý hoặc dùng ý để
hòa nhập vào đối tượng....). Nghiệp có nghiệp tốt và
nghiệp xấu, nghiệp nào cũng được ghi nhận vào tàng thức
dưới dạng chủng tử, nghiệp đã được tạo ra thì hậu
qủa của nó sẽ trở lại tùy theo nặng nhẹ, sâu đậm, ít
nhiều...vv... Đại nguyện (nguyện lực) của chư Bồ Tát cũng
chính là nghiệp lực cứu độ chúng sinh của các Ngài, sự
tái sinh của các lạt ma là sự thị hiện của nguyện lực,
nghiệp lực cứu độ của các Ngài.
Tu
tập bằng bất cứ phương tiện nào, dù tiểu thừa, đại
thừa hay mật thừa cũng phải đi qua 3 cửa ngõ này, nhất
là mật thừa lại càng dùng 3 cửa ngõ này nhiều hơn nữa.
Một người dù theo bất cứ một tôn giáo nào cũng phải đi
qua 3 cửa ngõ này để đạt cảnh thanh tịnh an lạc (thiên
đàng, niết bàn) hay cũng vì ba cửa này mà lâm vào cảnh trầm
luân đau khổ (hỏa ngục, địa ngục). Cũng thế, chúa, phật,
trời, thánh, thần, qủi ma... khi đến với con người cũng
đi qua ba cửa ngõ này, có một phép lạ nào mà không thị
hiện qua thân, khẩu hoặc ý? Vì thế thân khẩu ý vô cùng
quan trọng trong vấn đề tu tập, thiền định, chuyển hóa.
(3)
Thập địa là 10 trạng thái,10 cảnh giới (stages) mà một
người thiền định thường trải qua trên con đường tu tập,
có khi cả 10 trạng thái này đều xẩy ra trong một phút thiền,
trong một ngày, trong từng giai đoạn hay trong nhiều kiếp,
mười địa là:
1.
Hỉ địa (land of joy): người tu tập hoan hỉ bước chân vào
con đường tu tập dẫn đến quả vị phật
2.
Tinh khiết địa (land of purity): với ý chí, người tu tập
chuyên cần thực tập thanh tẩy thân tâm để đi
vào con đường tu tập và thiền định
3.
Phát quang địa (land of radiance): vì buông xả tam độc tham
sân si, trí huệ bắt đầu ló dạng, người
tu tập hiểu được lý vô thường.
4.
Hỏa thiêu địa (the blazing land): người tu tập thiêu hủy
đi tất cả ý niệm vô minh , phát huy trí huệ
5.
Cực nan thắng địa (the land extremely difficult to conquer): người
tu tập tiến sâu vào con đường thiền định để phá tan
tất cả nghi ngờ, thực sự thấu hiểu tứ diệu
đế và con đường giác ngộ
6.
Hiện tiền địa (the land in view of wisdom): trong giai đoạn này
người tu tập thực sự thấu hiểu được
sự hiện hành của các pháp, thế nào là pháp
như thị, như lai.
7.
Viễn hành địa (the far-reaching land): tới đây hành giả bắt
đầu an trú thường trực trong tánh không
8.
Bất động địa (the immovable land): tới đây người tu tập
không còn bị ảnh hưởng bởi bất cứ sự việc
gì , sống an nhiên, cảm nghiệm được con đường
giải thoát, thế nào là tự do
9.
Thiện huệ địa (the land of good thoughts): trí huệ được khai
mở toàn diện, người tu tập thấu hiểu bản
tính của các pháp và bắt đầu con đường
độ sinh, đi giúp người.
10.
Pháp vân địa (land of dharma clouds): người tu tập được ngồi
chung với các vị phật và chia sẻ toàn diện
pháp giới cùng các chư vị phật.
(4)
Trong 8 thức, thức này nguy hiểm nhất, rắc rối, lăng xăng
nhất và hiện tại nhất, nên cần an tịnh, cần tịnh độ,
con đường duy nhất để con người thoát khổ là quay vào
bên trong, an tịnh ở bên trong, khi yên tịnh rồi chúng ta thực
sự thấy được toàn diện của vấn đề, khi ý thức im bặt
thì gọi là tịnh, định. Phật A-Di-Đà cai quản thái dương
hệ của chúng ta, ý thức được coi như một quản lý viên
của các thức. Chỉ cần thức này yên là chúng ta đã tiến
một bước rất xa trên con đường giải thoát.
Sách
tham khảo:
1.
Journey without goal của Chogyam Trungpa Rinpoche
2.
Crazy wisdom của Chogyam Trungpa Rinpoche
3.
The myth of freedom của Chogyam Trungpa Rinpoche
4.
The Tantric Path of Purification của Lama Yeshe
5.
Introduction to Tantra của Lama Yeshe
6.
Foundation of Tibetan Mysticism của Lama A. Govinda
7.
Lamp of Mahamudra của Tsele Natsok Rangdrol
8.
Dzogchen, The self-perfected State của Chogyal Namkhai Norbu
9.
The Hundred Thousand Song of Milarepa của Garma C.C. Chang
10.
Mật tông Đại thừa của Nghiêm Xuân Hồng
11.
Cuốn sách quan trọng nhất : CUỘC ĐỜI CHƯ PHẬT, CHƯ BỒ
TÁT và CUỘC ĐỜI CHÍNH MÌNH của mỗi
hành giả
“
CON XIN HỒI HƯỚNG TẤT CẢ CÔNG ĐỨC NÀY ĐẾN MUÔN VÀN CHÚNG
SINH TRONG MƯỜI PHƯƠNG PHẬT VÀ MƯỜI PHƯƠNG BỒ TÁT, CON
KHÔNG GIỮ LẠI MỘT CHÚT GÌ CHO RIÊNG CON. ”