|
c
Phật
Lịch 2531 - 1987
CON ÐƯỜNG
TU TẮT - PHÁP MÔN TỊNH ÐỘ
Trích
trong Tây-Qui Trực-Chỉ và Lão-Nhơn Đắc-Ngộ
Đôi Liễn
Ấn-Quang Pháp-Sư
Soạn
Giả: Cư Sĩ Thiện-Tâm
Bỏ
Đường Tắt Tây Phương Chín Cõi Chúng Sanh Khó Thể Được
Tròn Nên Quả Giác
Rời
Cửa Mầu Tịnh Độ Mười Phương Chư Phật Không Vẹn Toàn
Độ Khắp Hàng Mê
Lời
Phi Lộ
Tôi được
một đạo hữu mến mộ pháp môn Tịnh Độ cho xem cuốn Con
Đường Tu Tắt và yêu cầu sửa chữa để tái bản, ấn tống.
Tôi đã đọc
và xén bỏ những đoạn rườm rà, trùng phức nhưng cuốn
sách vẫn chưa phải đã hoàn bị, nhất là về phương diện
chính tả và ngôn từ. Song, nếu sửa sẽ phải đánh máy lại
tất cả. đó là việc vượt quá sức đảm đương của ngườI
ấn tống, mặc dù họ rất muốn thế.
Tuy vậy,
bên cạnh các khuyết điểm vừa kể, cuốn Con Đường Tu Tắt
đã nói lên được đôi phần ách yếu của pháp môn Tịnh
Độ. Hơn thế, cái tinh thần chí thành chí thiết được lồng
vào trong lời văn chất phác, mộc mạc của soạn giả và
điều đáng kể nhất là niềm tin son sắt vào cảnh Cực Lạc
được thể hiện qua hành động tích cực, vô vị lợi, bằng
cách chỉ muốn truyền rao pháp môn Tịnh Độ khắp nơi nơi
của hai Phật tử ấn tống đã khiến tôi vô cùng cảm động,
nên viết mấy dòng này để tỏ tình tùy hỉ, tán dương.
Nguyện đem
công đức này
Hướng về
khắp tất cả
Đệ tử
và chúng sanh
Đều trọn
thành Phật đạo
Los Angeles,
mùa Phật Đản 2531 - 1987
Giám đốc
Nhà Xuất Bản Phú Lâu Na
Tiến
sĩ Thích Chánh Lạc
Tiểu
Tựa
Đức Phật
Thích-Ca vì một sự đại nhân duyên mà ra đời, tức là ngài
muốn cho tất cả chúng-sinh thành Phật như ngài. Nhưng vì
căn-cơ trình-độ của chúng-sinh trong buổi đầu tiên học
đạo còn non kém nên ngài quyền-biến tạm lập ra ba thừa;
Thinh-Văn, Duyên-Giác, và Bồ-Tát. Đến lúc các vị Tỳ-kheo
kham lãnh đạo vô-thượng bồ-đề, Ngài bèn gom ba thừa qui
vào Phật-thừa.
Đối với
các pháp-môn tu-trì, hàng nhị thừa phải trải qua mười kiếp
A-tăng-kỳ mới thành Phật. Còn đối với Đại-thừa, ít
nhất cũng phải ba kiếp A-tăng-kỳ. Như vậy vấn đề thành
Phật không pháp môn nào tu lẹ cho bằng pháp môn niệm Phật.
Người được vãng sanh không cần phải trải qua nhiều kiếp
A-tăng-kỳ. Tại sao vậy? Bởi vì chúng sanh tại nước Cực-lạc,
do nguyện lực của Đức Phật A-Di-Đà, ai ai cũng có sáu phép
thần thông. Chúng-sinh tại đây dùng phép thần thông đi khắp
mười phương Phật để cúng dường, nghe Pháp, thành ra người
nào cũng mau thành Phật. Hơn nữa tại Tây-phương Cực-lạc
quốc, chúng-sinh không cần bận tâm đến vấn đề ăn, mặc
ở. Cái gì cũng do thần thông của Đức Phật A-Di-Đà hóa
hiện. Muốn ăn cái chi, tự nhiên đồ ăn hóa hiện ra trong
chén dĩa bằng thất-bảo. Sau khi ăn, không cần dọn rửa,
tự nhiên chén dĩa biến mất.
Sở dĩ chúng
sinh tại Tây phương mau thành Phật là vì muôn sự muôn vật
cần dùng không phải lo nghĩ. Tâm trí rảnh rang, lại thêm
được làm bạn với các vị Đại-Bồ-Tát để tu học, do
đó mà quả Phật chóng thành hơn các thế giới khác.
Theo các pháp
môn, người tu hành phải dứt hết phiền não, nhiễm ô, dứt
hết nghiệp quả tộI chướng mới được giải thoát, chứng
quả Niết-bàn. Trái lại, pháp môn niệm Phật còn nghiệp
quả mà cũng được vãng sinh. Trong kinh Phật gọi là ỏđới
nghiệp vãng sinhõ. Đới nghiệp vãng sinh nghĩa là người tu
hành còn mang nghiệp quả chưa dứt khoát trọn vẹn mà cũng
được vãng sinh. Chẳng khác nào như hòn đá tự nó lướt
qua bể cả không được, nhưng nếu có thuyền bè chở qua
biển, dù bao nhiêu hòn đá cũng vượt bể khơi được như
thường.
Cái hay của
pháp môn niệm Phật là bất luận già, trẻ, bé, lớn, kẻ
ngu người trí gì cũng đều tu được cả. Bởi pháp môn niệm
Phật rất dễ tu, dễ chứng, dễ thành nên mười người niệm
Phật được vãng sinh hết chín, còn các pháp môn khác mười
người tu chỉ chứng được một hai người mà thôi.
Pháp môn
niệm Phật sở dĩ mệnh danh là pháp môn tu tắt vì pháp môn
này mau thành công hơn các pháp môn khác. Đời mạt pháp nếu
chúng ta không tu theo pháp môn niệm Phật thì không có pháp
môn nào tu cho kịp hội Long Hoa. Vậy chúng ta còn chần chờ
gì nữa mà không mau mau tu theo pháp môn niệm Phật. Nếu bỏ
lỡ dịp này, sợ e thân này sau khi tan rã, chừng đó có muốn
tu hành cũng không còn kịp để mà tu. Sách Phật có nói rằng:
nhơn thân nan đắc, nghĩa là thân này khó được, đã được
thân này mà không lo liệu tu hành cho sớm, có phải là uổng
một kiếp sanh ra làm người chăng?
Nguyên
Nhân Nào
Phật
Giảng Pháp Môn Niệm Phật
Trong kinh
Đại Bổn Di Đà có nói : Một ngày kia, nơi pháp tọa, dung
nhan của Đức Thế Tôn hiên ra nhan sắc một cách phi thường.
A-Nan là thị giả của Phật thấy vậy mới thưa rằng:
Bạch Đức
Thế Tôn: Đệ tử đã từng theo hầu Phật lâu năm, đệ tử
chưa lần nào thấy dung nhan của Đức Thế Tôn khác lạ như
ngày hôm nay. Chẳng biết nguyên nhân nào sắc mặt của Đức
Thế Tôn hiện ra như vậy, xin Đức Thế Tôn vì chúng đệ
tử mà khai thị để hiểu rõ lý do.
Này A-Nan!
Hay thay, quí hóa thay lời hỏi của ngươi. Dù cho có người
nào đó đem hết năng lực ra cúng dường tất cả các bậc
Thinh-Văn, Duyên-Giác trong một cõi thiên hạ và bố thí cho
hết thảy cõi Trời, cõi người cùng các loài bò, bay, máy,
cựa, trải đến kiếp nọ sang kiếp kia, cũng không thể nào
bì kịp cái công đức cái câu hỏi của ngươi xấp đến
trăm ngàn vạn ức phần. Bởi vì do câu hỏi của ngươi, tất
cả chư Thiên và vua chúa trong nhân gian cho đến những loài
bò, bay, máy, cựa cũng nhờ câu hỏi của ngươi mà được
độ cho thoát vòng luân hồi sanh tử khổ ải.
Này A-Nan!
Ta có một pháp môn tu tắt, khó mà nói ra quá, bởi vì pháp
môn này đòi hỏi người nghe phải có đức tin một cách quả
quyết mới có thể tu trì được. Trái lại, nếu thiếu đức
tin, long còn do dự thì khó mà thành công đối với pháp môn
này.
Trên đây
là lý do khởi nguyên Đức Thế Tôn giảng nói pháp môn niệm
Phật. Thực vậy, dù là pháp môn nào đi nữa cũng phải đòi
hỏi hành giả phải có đức tin thật kiên cố mới mong thành
công được. Theo lời Đức Thế Tôn nói với A-Nan, thì pháp
môn này có thể độ được loài côn trùng nữa nhưng vì chúng
ta là thai phàm mắt thịt, không thấy được loài côn trùng
được độ bằng cách nào. Riêng đối với loài chim, loài
sấu, ai có xem sự tích vãng sanh đều thấy rõ. Loài sấu
khi tu hành, chúng không còn lội đi chỗ này chỗ nọ để
săn thịt mà sống, chúng nó trầm sâu dưới đáy sông, nhiều
khi chỗ đó thành cồn thành bãi mà chúng vẫn kiên trì nằm
mãi một chỗ. Còn như loài chim nhờ chủ nhà dạy cho niệm
Phật, chúng nhái theo, đến khi chết chủ đem chôn, một ít
lâu chỗ chôn xác chim mọc lên một đóa hoa sen. Chủ nhà thấy
vậy đào lên thấy hoa sen từ trong mỏ con chim mọc ra. Chủ
nhà biết rằng con chim đã được vãng sanh tịnh độ. Hoa
sen là tượng trưng cho pháp môn niệm Phật, người vãng sanh
được hóa thân trong liên hoa, vì vậy Tịnh độ tông cũng
gọi là Liên tông. Hoa sen là biểu hiện của pháp môn niệm
Phật vì đó mà chủ nhà quyết đoán rằng: ỏõ Con chim của
ông ta nuôi, được vãng sanh tịnh độ.õõ
Nhiều sự
tích vãng sanh rất ly kỳ, xin xem phía sau sẽ thấy. Nhứt là
các sự tích vãng sanh, trong đó có kể sự tích đời nay để
làm bằng cớ, chẳng phải hoàn toàn kể chuyện đời xưa,
nên không có gì mà khó tin.
Sự
Tích Đức Phật A-Di-Đà
Kinh Đại
Bổn Di-Đà nói: Không biết bao nhiêu kiếp trước, có ông
Phật ban sơ ra đời là Thế Tự Tại Vương Phật đi dạy
độ người hướng Tây nhằm nước Đại Quốc, ông vua Đại
Quốc cũng đến nghe giảng, tỉnh ngộ mộ đạo. Vua giao ngôi
cho đông cung cai trị, theo thầy tu hành. Thầy đặt pháp danh
là Pháp Tạng. Khi ấy ông Pháp Tạng bạch với thầy mình
nguyện bốn mươi tám điều độ tận chúng sanh mà đền ơn
thầy. Ngài tu hành tấn tới thành bậc Bồ Tát. Trong thời
kỳ tu luyện ngài làm phước, thông hiểu nghe thấy biết hết
việc thế gian. Ngài nhập vô thai theo các loài người, loài
vật độ chúng nó tu luyện cho thành mà rước hồn về Tây
phương cho trọn lời thề nguyện cao cả.
Tuy đã thành
Phật mà vẫn giữ hạnh Bồ Tát, chẳng hưởng thanh nhàn,
không nài cực khổ. Trải qua mười triệu kiếp, nhập thai
độ đủ các loài người và vật các nước khác, đem hồn
về Tây phương nhập vô bông sen (liên hoa hóa thân như Na Tra)
chúng sanh tại nước Cực lạc không đầu thai nữa và cũng
không chết mà cấp dưỡng vì biến hóa y phục phẩm thực
mà bảo dưỡng làm âm nhạc nghe cho vui. Hóa cung đền, đồ
cần dùng thượng hang cho người ở nước mình vừa ý, vui
lòng mà tu luyện cho lên chức Phật. Phụ nữ tu hành cũng
cho liên hoa hóa thân trai. Từ đấy đặt tên là nước Cực-lạc
nghĩa là rất vui. Sau rước nhiều hồn người và vật tu thành
đem về Cực lạc mà nuôi nên xưng một hiệu nữa là nước
An-dưỡng (nghĩa là nuôi cho an lòng). Đủ lời nguyện-y bốn
mươi tám điều, ngài mới chịu thành Phật ở cõi Cực lạc,
cứ lo tiếp dẫn chúng sanh niệm danh hiệu mà theo phép, thời
lâm chung đi tiếp dẫn về Cực lạc cho liên hoa hóa thân nuôi
dạy tu luyện tham thiền cho thành Phật. Vì cớ rước hồn
người tu, nên ngài xưng Tiếp Dẫn Đạo Sư.
Tại sao ngài
xưng hiệu A-Di-Đà? Kinh Đại Bổn và Tiểu Bổn giải: bởi
hào quang Phật chiếu khắp mười phương, sống lâu không biết
ngần nào, người trong nước cũng vậy và phước đức lớn
nên xưng hiệu A-Di-Đà. ỏAõ là sống lâu. ỏDiõ là sáng
lòa. ỏĐàõ là phước đức. Ngụ ý là Phật bất tử, hào
quang sáng lòa, phước đức đứng trên bực.
Thế
Giới Cực Lạc
Kinh Đại
Bổn và Tiểu Bổn Di Đà nói: Đức Phật Thích Ca nói với
ông Xá Lợi Phất rằng: ỏ Từ đây đi qua phương Tây cách
mười muôn ức cõi Phật, có nước Cực lạc, Đức Phật
nước ấy hiệu là A-Di-Đà đương giảng dạy cho chư Bồ
Tát, Duyên Giác và Thinh Văn tu theo tịnh độ.
Tại nước
Cực lạc, những nhà cửa đều dùng bảy món báu làm ra, tốt
hơn chỗ ở của Thiên Đế cõi trời gấp trăm lần. Dân nơi
đây muốn một món chi thì có món ấy hiện tới. Suốt ngày
nghe âm nhạc vang rền khắp đó đây. Duy khác một điều,
ai gắng công tu nhiều thì được lâu đài cao lớn, ai tu ít
thì nhà cửa không được cao lớn nhưng không thiếu tiện
nghi.
Khắp nơi
nơi có ao suối và có một hai món báu nơi ấy. Vàng thì nhiều
như cát, còn bạc thì ở dưới đáy nước lấp lánh trông
rất đẹp. Ao thủy tinh thì quanh ao là cát báu, dưới đáy
ao có lưu ly phản chiếu. Nước trong ao thì quí báu vô cùng;
uống vào được hưởng tám điều quí (bát công đức) 1.-
Trong sạch. 2.- Mát. 3.- Ngon ngọt. 4.- Thơm nhẹ. 5.- Thông trơn
cổ. 6.- Khỏe. 7.- Hết khát khỏi đói. 8.- Giúp cho lục căn
được thanh khiết. Nước này tánh chất cao quí chẳng khác
chi nước Cam lộ vậy.
Lại có hàng
trăm thứ kỳ hoa dị thảo, mỗi nhành có muôn ngàn hoa lá
đủ sắc thắm tươi xen nhau trổ tỏa mùi hương thơm làm
cho lòng người lâng lâng khỏe khoắn.
Đường đi
dựa mé sông, hồ ao đều có cây Chiên đàn thơm ngát. Bông
và trái kiết tường thơm ngào ngạt. Trong hồ ao có bông sen
năm sắc khoe màu. Lại có cây có bảy thứ báu, mỗi cây đều
có một hay hai món báu. Cây nào toàn một món báu thời rễ
gốc, nhành lá, bông và trái đều một màu. Cây nào hai món
báu hiệp lại thì có hai sắc bông trái. Những cây ấy mọc
ngay hàng và giao cành cùng nhau, bông trái cùng đối diện nhau.
Khắp cùng cả nước đều một cảnh ấy xem đẹp vô ngần.
Dưới đất
nơi nào cũng có vàng, ngày đêm giờ nào cũng có bông Thiên
mạn, bông Đà la rơi xuống như mưa, mùi thơm không thể tả
mỗi lần mưa hoa, ngập đầy cả mặt đất, chân đi êm như
nệm gấm. Tuần tự trước sau hoa ấy héo dần rồi biến
mất, mặt đất trở lại sạch sẽ. Ngày đêm có sáu lần
cảnh tượng ấy. Người trong nước sáng ra lượm hai thứ
bông đó (Thiên mạn và Đà la) đem cho dân nghèo đói ở các
nước khác ăn thay cơm vì mùi thơm ngon và có hiệu lực làm
cho hết đói. Sau khi đi thí hoa rồi, về nước Cực lạc độ
cơm giờ ngọ.
Tới giờ
ăn cơm ai cũng dùng chén bát thường bằng đồ thất bảo.
Muốn ăn món chi đều hiện đủ cả. Sau khi dùng xong chén
bát tự nhiên biến mất khỏi rửa. Tới bữa khác muốn dùng
món chi cũng có y như hôm trước.
Cảnh sắc
của nước Cực lạc thực là thoát tục. Nơi đây mỗi khi
có gió thì bảy vòng cây rào ngoài (cây báu lưới báu) đều
khua nhau nghe như muôn ngàn tiếng nhạc hòa lẫn rất êm tai.
Vì thế mà khởi sanh tánh thiện thường vui hay nghĩ đến
niệm Phật, ham nghe pháp.
Ở Cực lạc
có riêng ao báu lớn để tắm. Ai xuống tắm muốn nước sâu,
cạn, nóng, lạnh độ nào tùy theo ý muốn. Tắm xong trên mình
tỏa ra hương thơm, nghe tiếng nhạc trỗi du dương, xem hoa
khoe màu trước gió. Nếu ai không muốn nghe, tiếng nhạc tự
nhiên không vào tai.
Tóm lại,
ai muốn điều gì cũng được toại nguyện cả.
Nước Cực
lạc có nhiều thứ chim sắc khác nhau; Hạc trắng, chim công,
Anh võ, Xá lợI, Ca lăng, Tăng già, Cọng mang. Bảy thứ ấy
thứ ấy nhiều vô kể. Ngày đêm kêu hót tiếng giống như
ngâm kệ, giảng kinh. Tiếng thanh lảnh lót, ai nghe cũng nhớ
mà niệm Phật. Các chim ấy do Phật A Di Đà dùng thần thông
hóa hiện để nhắc nhở người nước ấy tinh tấn, phát
tâm tu niệm chớ không phải là chim thật.
Trong nước
mọi người đều hiền lành. Sống đời đời, kiếp kiếp
ở xa bao nhiêu cũng thấy, nói chuyện đều nghe. Mỗi người
đều không đau ốm bệnh hoạn. Có sắc diện xinh đẹp, không
xấu như hồi còn xác phàm. Người thì khỏe mạnh thông thái,
cả nước không ai ngu dốt. Trong lòng thường tưởng việc
đạo đức, nói ra những điều chánh lý nên dễ yêu thương
nhau, không ai ganh ghét, đều biết tiền căn muôn kiếp, lại
biết việc quá khứ, hiện tại và vị lai ở thế gian. Trong
lòng người nào tính chuyện chi ta đều biết trước. lại
biết kẻ bị đọa chừng nào đầu thai làm người. Người
chừng nào đắc quả vị Phật. Sở dĩ biết trước được
như vậy là vì người nước Cực lạc đều có lục thông
Niệm
Di Đà Không Xao Lãng,
Chắc
Chắn Được Vãng Sanh
Kinh Tiểu
Bổn có nói: ỏõ Nếu có trai lành gái tín nào nghe danh hiệu
Đức Phật A Di Đà tin tưởng mà niệm danh hiệu Ngài từ
một nhẫn đến bảy ngày đêm, lòng không xao lãng (tức là
không lo tính việc khác) thì Đức Phật A Di Đà sẽ hiển
ứng chứng minh. Lúc lâm chung vẫn niệm danh hiệu ngài không
mê muội, chắc chắn Phật cùng Thánh chúng đến tiếp độ
về Cực lạc chẳng sai (về nước ấy được liên hoa hóa
thân không còn sanh tử nữa).
Chúng tôi
xin dẫn chứng câu chuyện sau đây: Chàng Oánh-Khoa, một người
chỉ biết đến rượu thịt, không kể đến đạo đức, Phật
pháp là gì. Vậy mà sau khi xem truyện vãng sanh chỉ có một
lần liền ngộ, bỏ cả rượu thịt, phát tâm niệm Phật.
Chàng niệm rất chí thành. Vỏn vẹn được bảy ngày đêm,
tự nhiên thấy Phật hiện ra trước mặt nói rằng: ỏõ Ngươi
còn sống mười năm nữa phải tinh cần niệm Phật, ta sẽ
đến tiếp độ ngươiõõ. Nghe xong chàng nói: ỏõCõi ta bà
là cõi ác trược, dễ mất chánh niệm, con xin nguyện sớm
sanh tịnh độ giúp việc Thánh chúng.õõ Phật bảo: ỏõNgươi
chí thành, ba ngày nữa ta sẽ đến độ ngươi.õõQuả thật
ba ngày sau chàng được vãng sanh.
Đức
Thế Tôn Dặn Dò Các Môn Đồ Sau Cùng
Kinh Tiểu
Bổn Di Đà nói: ỏõĐức Phật Thích Ca nói với ông Xá Lợi
Phất rằng: ỏõNếu có ai đã phát nguyện rồi, hoặc mới
phát nguyện ngày nay, hay sẽ lập nguyện (tu Tịnh độ), khi
lâm chung đều được vãng sanh Cực lạc. Nếu có ai tu hành
tấn tới, về Cực lạc sẽ thành ba phẩm Phật nhỏ: Tôn
chứng, Thinh văn và Thượng thiện Nhơn. Này Xá Lợi Phất!
Các ngươi hãy tin lời ta mà tu Tịnh độ rất dễ thành Phật.
Các chư Phật khác cũng đều nói như ta vậy. Người tu tịnh
độ, bất cứ tại gia hay xuất gia gì cũng đều được về
nước Cực lạc cả.
Người ở
trong cõi trần như bị vây trong thành, mau kiếm ngõ ra mới
thoát khỏi, hầu về tới quê nhà. Người tu theo Tịnh độ
cũng vậy, cầu cho được giải thoát khỏi bể khổ luân hồi.
Chính vì
lòng từ bi thương xót chúng sanh nên Phật mới chỉ dạy pháp
tu Tịnh độ là con đường tắt duy nhứt mau đến chỗ giải
thoát, ngỏ hầu tiến đến quả vị Phật.
Sơ
Lược Các Sự Tích Vãng Sanh
Từ xưa tới
nay, muôn ngàn người ăn ở hiền lành, phần đông trước
khi chết đều bị mê muội, không ai biết trước ngày giờ
chết để tắm gội sạch sẽ, tỉnh táo niệm Phật hoặc
biết có mùi thơm hay nghe tiếng nhạc trên không. Duy chỉ có
những người tu Tịnh độ khi mãn phần có những điều dị
thường như trên thì biết chắc hồn về Cực lạc.
Nay tôi xin
kể lại sơ lược một vài sự tích vãng sanh xưa và nay tại
nước Tàu và Việt Nam ta để quí vị Đạo Tâm rộng đường
suy xét hầu tu theo Tịnh độ. Chẳng những người tu có kết
quả mà loài thú biết niệm Phật cũng đặng vãng sanh nữa.
1.- Đời
Đường bên Tàu, Cư sĩ Minh Chiêm tuổi già mới tu Tịnh độ.
Ông rất tinh tấn ngày đêm niệm Phật chẳng dứt. Có kẻ
nói: ỏõÔng tu muộn quá e không kịp vãng sanhõõ. Ông Minh
Chiêm nói: Niệm Phật từ một tới mười câu còn thấy Di
Đà, ta lo chi không đặng vãng sanh. Sau vì bị bệnh nên ông
vào chùa Hưng Thiên, lúc quá Ngọ, ông ngồi chắp tay xây mặt
qua hướng Tây mà niệm Phật. Giây lâu ông nói rằng: Phật
với Quan Âm, Thế Chí đều đến rước ta. Nói xong bái rồi
hết thở.
2.- Đời
Tống, ba cha con của Ngụy thế Tử với một quận chúa đều
tu theo Tịnh độ, trừ ra phu nhân là ăn mặn. Sau quận chúa
chết yểu: sau khi liệm xong, quàn lại bảy ngày bổng nghe
tiếng la từ trong quan tài ỏõNgộp lắmõõ nội nhà mừng
quá cạy nắp quan tài ra, cùng lúc ấy tiếng nhạc trên không
trung trổi lên. Quận chúa bước ra thưa với mẹ rằng: Thưa
mẹ, nước Cực lạc rất vui, trong ao Thất Bửu có nhiều
bông sen búp lớn gần bằng bánh xe, ngoài cánh sen, cái thì
nêu tên cha, hai bông nọ còn có tên hai anh nữa, con kiếm cùng
không có tên mẹ nên con xin phép Đức Phật Di Đà về đây
báo tin và khuyên mẹ mau tu Tịnh độ thì sẽ có một bông
sen mọc ra dành cho mẹ cũng như của cha, của hai anh và của
con vậy. Phật sẽ đem tòa sen ấy rước mẹ về cho Liên hoa
hóa thân, ở cung đền rất cao. Muốn mặc y phục gì thời
có hiện tới. Muốn ăn vật chi đều có món đó, đựng trong
bát thất bảo hiện tới trước mặt, dùng xong bát biến mất
khỏi rửa. muốn nghe nhạc chi thì nhạc ấy vào tai, bằng
không muốn nghe thì nhạc liền dứt. Mỗi người đều có
hào quang, muốn dùng một hương nào có mùi hương nấy. Được
dạo xem trăm thứ hoa thơm. Muốn ăn trái cây chi liền hiện
tới khỏi hái, Ngự tửu. Phong cảnh xinh đẹp hơn thế gian
trăm bề. Vả lại không có Nhật Nguyệt Tinh Tú, chỉ có hào
quang sáng hơn ban ngày thập bội. Có bảy thứ chim tốt lạ;
có năm sắc lông, tiếng kêu êm ái như tiếng kệ kinh. Lại
mát mẻ như mùa xuân, không có mùa nực và mùa lạnh. Học
đặng Lục thông, thành bậc La Hán, đi dạo trên khắp thế
gian.
Tòa sen bay
lẹ như nháy mắt nên con đi về đây mau tợ khảy móng tay
đã tới. Việc ở Cực lạc khoái lạc mười phần kể sao
cho xiết. Xin mẹ ráng tu, sau lâm chung Phật rước về đó
mà thấy đủ điều. Con không dám trễ phép, cúi xin bái tạ
cha mẹ con lên tòa sen về nước Cực lạc. Quận chúa tạ
xong rồi bước vô quan tài mà nhắm mắt. Mùi sen thơm ngát,
hào quang chiếu sáng xẹt về hướng Tây, tiếng nhạc trên
không cũng trỗi lần về hướng ấy.
Từ đấy
phu nhân mới tinh tấn trường chay, tu theo Tịnh độ niệm
Phật hơn chồng con. Sau mỗi người lâm chung đều biết ngày
giờ trước. Đến ngày Liễu đạo, phu nhân ngồi day mặt
về hướng Tây, niệm Phật chưa đủ mười câu đã nghe tiếng
nhạc trên không, thấy Phật rước mình đông lắm. liền khi
ấy, bà xuất hồn về cùng chư Phật. Bốn người lâm chung
như vậy thiệt cả nhà có phước, sống hưởng lộc, thác
được vãng sanh.
3.- Đời
Tống, Dương Kiệt ở Châu Vô Vi, xưng hiệu Vô Vi Tử, thi
đỗ sớm làm quan. Đi điểm tội nhân ở tỉnh Chiết Giang,
vì mộ đạo Phật nên học kỹ phép tham thiền, xem kinh nhiều
lắm. Ông nói với bạn rằng: ỏõChúng sanh nhiều người
tối dạ, tham thiền không đúng uổng công. Trừ ra tu Tịnh
độ dễ hiểu, dễ tu. Dầu bao nhiêu kẻ dốt, tu cũng được
vãng sanh.õõ Người có viết Thiên Thai Thập Nghị Luận và
Tịnh Độ Quyết Nghi Tập; giảng rõ phép tu tịnh độ. Tuổi
già, ông vẽ tượng Di Đà cao 16 thước mộc thờ lạy. Đến
lâm chung, Phật định ngày rước hồn, ngài ngồi mà viên
tịch.
4.- Đời
Tùy, có ông Tống Mãn ở Phủ Thường Châu, niệm Phật một
câu; để một hạt đău đen vô hộc. Lâu năm lường được
cỡ 15 giạ. Khai Hoàng niên hiệu thứ tám, tháng chín đãi
trai tăng, các sãi ăn rồi ngồi niệm Phật đến hết thở.
Người ta thấy trên trời sa xuống mùi hương thơm một cách
lạ lùng. Có tiếng nhạc trời trên không lần qua hướng Tây
hồi lâu mới dứt.
5.- Đời
Đường, có ông Trịnh mục Khanh, và cả nhà đều niệm Phật.
Niên hiệu Khai ngươn, ông bị bệnh nặng, có người khuyên
trở đũa (ăn mặn), ông không chịu. Tay bưng lư hương niệm
Phật cầu vãng sanh Tịnh độ. Xảy ngửi mùi thấy hương
thơm nức. Người ông liền xuất hồn. Cậu là Tô Đỉnh,
làm chức thượng thư, chiêm bao thấy ông ngồi trên bông sen
lớn.
6.- Đời
Minh Liên, Hoa thái Công là người nước Việt, thiệt thà ngày
đêm niệm Phật chẳng ngớt. Đến lúc mãn phần liệm vô
quan tài chưa kịp đem chôn, bổng nhiên một cánh bông sen mọc
trên quan tài, xóm giềng khen ngợi, mới tin ông không biết
chữ mà tu tịnh độ cũng được vãng sanh.
7.- Ông Trịnh
Sanh là bà con bên vợ của ông Châu an Sĩ (Tác giả quyển
Tây Qui Trực Chỉ), tuổi nhỏ học hay, thói quen hay kiêu ngạo,
không tin Phật cho lắm. Ngày kia có bệnh, thấy quỉ đến,
cao lớn dị thường, xưng là oan cừu đời trước. Trịnh
Sanh sợ điếng mới niệm Phật hẳn hòi, cầu vãng sanh cực
lạc. Hễ niệm Phật thường thì thôi, nếu hở ra thấy quỉ
nên Trịnh Sanh ráng niệm tới mòn hơi. Người nhà thấy không
biết cái gì mà mờ mờ như mây khói bay lần qua hướng Tây.
Tuy không thấy điềm biết trước và không có mùi hương cùng
Thiên nhạc, song cứ lý chắc đặng vãng sanh bởi vì ông ít
khi niệm Phật nên không đặng linh hiển đó thôi.
8.- Tô kỳ
Sơn tự Khởi Phụng, ở Côn Sơn, tuổi thơ quyết chí tham
thiền, tìm nhiều thầy thông thái, nên nghe rành Tịnh độ
không dám sát sanh. Tuổi già tu tịnh độ theo bốn thời Tý,
Ngọ, Mẹo, Dậu tụng nhựt khóa không lơi. Mùa đông trời
lạnh ôm mền mà ngồi.
Khương Hy
năm Kỷ Mão, ngày 26 tháng 11 giờ Ngọ, ông nói vớI cháu tên
Điện Phương rằng: ỏõÔng tu Tịnh độ đã thành công, Phật
mach bảo giờ vãng sanh đã ba bữa trước, ông không muốn
khoe cho chúng biết đêm nay tới giờ Tý ông sẽ được vãng
sanh.õõ Lúc canh hai ông mặc áo dài ngồi trước bàn hương
án bảo người nhà niệm Phật tiếp với mình, qua canh ba tiếng
ông niệm Phật nhỏ dần cho tới hết thở.
9.- Ngô kính
Sơn ở cùng xóm với Tô kỳ Sơn. Tuổi ông đã bảy mươi
nhưng ông lại muốn học thêm phép tham thiền. Tô Điện Phương
nói với ông: ỏõTuổi ông đã già rồi ông nên tu tịnh độ
cho mau mà chắc vãng sanh hơn tham thiềnõõ. Ông vâng lời niệm
Phật ngày đêm chẳng dứt. Thời gian chưa đầy một năm,
bà con ông Ngô kính Sơn đến nói với ông Tô điện Phương
hay rằng: ỏõHồi sớm mai này Ngô kính Sơn thấy ông hộ
pháp hiện hình, tiếp dẫn vãng sanh nên dặn tôi coi chừng
ông tắt hơi rồi thì qua cho ông hay mà tạ ơn khi trước đã
khuyên ông tu tịnh độ. Dặn rồi ông ngồi day mặt qua hướng
Tây niệm Phật đến hết thở.õõ
10.- Đời
Đường, thầy Duy Ngạn tu Tịnh độ rất siêng năng. Thấy
Quan Âm, Thế Chí hiện trên không thầy mừng muốn họa chân
dung hai vị Bồ Tát, liền khi ấy hai vị hiện đến xin vẽ
rồi biến mất.
Thầy Duy
Ngạn nói với các đệ tử rằng: ỏõ Ta bữa nay được vãng
sanh, đứa nào muốn theo ta cho có bạn?õõ Có một trò nhỏ
xin theo, thầy bảo về cho cha mẹ hay, nếu bằng lòng thì lạy
tạ rồi đi cho mau. Cha mẹ đồng tử tưởng nó nói chơi nên
cười mà bảo rằng: ỏõTự ý con theo thầy về Tây phương
đặng thì cha mẹ cầu lắm.õõ Đồng tử tắm gội thay áo
lại ngồi gần thầy niệm Phật mới có mười câu rồi hết
thở, chết ngồi. Cha mẹ sững sờ hết nói chi được. Thầy
Duy Ngạn cũng lấy làm lạ, đặt bài kệ khen đồng tử rồi
ngồi tịch theo.
11.- Họ Ngô
ở tỉnh Chiết Giang, ông cha đều là tú tài dưới triều
Thanh, Thuận Trị năm đầu. Binh tới vây thành, cha mẹ ông
bà đều chạy trốn hết. Ông họ Ngô ấy bị bắt sống dâng
cho Trương tướng quân thâu làm lính hầu mới mười ba tuổi.
Nghĩ rằng mình con nhà học trò, nay làm hèn hạ cũng tội
báo tiền căn. Ông liền giác ngộ xin vào chùa lạy Phật ăn
chay trường. Mỗi đêm ông tụng một cuốn kinh Kim Cang và
niệm Phật. đến năm 16 tuổi, Trương tướng quân đem bạc
phát lương cho lính, họ Ngô nhín tiền lương của mình mà
thỉnh tượng Đức Phật Di Đà rồi mua đèn hương về cúng
lạy niệm Phật và tụng kinh Di Đà. đến năm Đinh Dậu ngày
22 tháng 10, họ Ngô bẩm với Trương tướng quân rằng: ỏõTôi
muốn về Tây phươngõõ. Tướng quân mắng rằng nói láo.
Bữa sau họ Ngô đến dinh quan đề đốc xin nghỉ phép, Đề
đốc giận giao cho tướng quân đánh đòn 15 roi mà ông không
hề than; lại từ giã các quan đinh rằng: ỏõMùng 1 tháng
11 tôi sẽ về Tây phương.õõ Đến ngày ấy ông tắm gội
sạch sẽ, lúc canh năm mặc đồ xong thắp hương đèn lạy
Phật rồi tạ Trương tướng quân trong thuyền đặng về theo
Phật. Trương tướng quân tức giận sai lính đi tới chỗ
chất củi làm giàn thiêu. Họ Ngô lạy hướng Tây ba lạy
rồi lên ngồi trên đống chà bổi niệm Phật rồi ngâm một
bài kệ, liền hả miệng ra phun lửa thiêu mình. Quân lính
báo tin, quan tướng các dinh đều tựu lại đưa. Trương tướng
quân kính phục, từ đấy nội nhà ăn chay, tu Tịnh độ theo
cách họ Ngô giảng khi trước.
12.- Ông Thẩm
thừa Tiên ở Côn Sơn, tại chợ Tuyên Hóa làm nghề thợ mộc.
trên bảy mươi tuổi ăn trường chay niệm Phật tu tịnh độ.
Tuy tay không hở đục và rìu búa mà niệm Phật chẳng ngừng.
Đến năm Khương Hy thứ mười, tháng ba ông biết ngày Phật
rước. Trước ba bữa giã từ bà con bạn hữu và nói ngày
giờ mình vãng sanh. Từ giã rồi sao không thấy rước khác
nữa. Ông nói với con dâu rằng: ỏõMai là rằm cha sẽ vãng
sanh Tây phươngõõ. Rạng ngày gội tắm thay áo, ngồi xây
mặt về hướng Tây, trước mặt để ghế thắp hương rồi
niệm Phật. Ban đầu niệm lớn, dần dần nhỏ đến khi mòn
hơi.
13.- Đời
Đường, vợ của ông Ôn tịnh Văn ở Tinh Châu, bệnh nằm
liệt giường đã lâu. Chồng khuyên niệm Phật, vợ vâng lời
nằm niệm cả năm. Ngày kia chiêm bao tỉnh giấc thưa với
chồng rằng: ỏõ thiếp thấy Phật mach bảo tháng sau sẽ
vãng sanhõõ, và dặn cha mẹ chồng ráng niệm Phật sau chắc
vãng sanh như mình. Tới kỳ ngồi dậy niệm Phật bỏ xác.
14.- Đời
Tống có Cung Thị ở huyện Tiền Đường, ngày đêm niệm
Phật tụng kinh Di Đà. Sau có bịnh rước thầy giảng kinh.
Giảng chưa rồi, bà ngồi chắp tay hết thở. Có người thiếp
già cũng niệm Phật không ngớt. Đêm nọ Cung Thị về báo
mộng, mach bảo rằng: ỏõ Ta đã về Tây phương Cực lạc,
bảy ngày nữa người cũng vãng sanhõõ. Đến ngày ấy, bà
thiếp đang mạnh mà chết ngồi.
15.- Đời
Tống, có bà Trương thị Nữ ở quận Phần Dương, bệnh đui
cặp mắt. gặp người ta khuyên niệm Phật bà liền nghe theo.
Ba năm sau mắt bà sáng lại như cũ. Sau thấy Phật và Bồ
Tát đem phướng và Bảo Cái đến rước, liền ngồi mà mãn
phần.
16.- Trào
Thanh có bà Hạo Thi ở huyện Ty Lăng, là vợ của ông Phan
hướng Cao, cũng là cư sĩ. Vợ chồng đồng tu Tịnh độ,
tụng kinh Kim Cang. Hôm mai tụng nhật khóa niệm Phật y phép..
.Khương Hy năm Canh Thân tháng 7 có bệnh, biết trước ngày
27 giờ Ngọ tạ thế. Bà nói trước cho con cháu hay. Đến
kỳ, con đến mời các đạo hữu đến niệm Phật tiếp và
ngồi niệm Phật đến mãn phần.
Những
Kẻ Dữ Cũng Được Vãng Sanh
17.- Đời
Đường, Trương thiện Hòa làm hang bò, trâu. Lúc lâm chung
thấy trâu bò đến cả bầy nói tiếng người đòi thường
mạng. Ông sợ hối vợ rước sãi đến tụng kinh sám hối.
Sãi nói: ỏõKinh Thập Lục Quán có nói: ỏõLâm chung thấy
quỷ dữ, nếu lòng thành niệm Phật cũng đặng vãng sanhõõ.
Trương thiện Hòa nói: ỏõMa quỉ tới nhiều lắm, đợi lấy
lư hương chắc không kịpõõ. Tay mặt cầm đèn, tay trái thắp
hương, xây mặt về hướng Tây rồi niệm Phật, chưa đủ
mười câu vùng nói lớn: ỏõPhật đến rước ta rồiõõ,
nói rồi ông tắt thở chết ngồi.
18.- Đời
Đường, Trương chung Quỳ hay làm thịt gà và bán. Ngày kia
bịnh nặng thấy người mặc áo đỏ lùa bầy gà đến mổ
thịt và mổ cặp mắt ông chảy máu, mang bịnh rên la. Người
nhà liền rước sãi đến tụng kinh Di Đà, sãi bảo y niệm
Phật mãi. Tới chừng nghe mùi thơm một cách lạ, Trương chung
Quỳ hết la nhức và chết một cách êm nhẹ.
Chung Quỳ
và Thiện Hòa đang bị oan hồn theo đòi nợ, nhờ chí thành
niệm Phật, Đức A Di Đà cảm động cho các oan hồn trâu
bò kia đầu thai hưởng phước, chúng nó mới buông tha. Xem
hai sự tích này, các ông già bà cả có lỡ sát sanh trâu bò
gà vịt rồi thì đừng lo sợ tu không kịp. Quý vị còn trẻ
sợ không tin. Nhớ tin theo phương pháp đây thì tu chắc chắn
có quả vị. Hai người làm hàng thuở nay không biết sợ tội
chút nào, đến lâm chung thấy oan hồn địa ngục trước mắt
kinh hãi. May có phước gặp sãi giải rành niệm Phật trối
chết. Giây phút địa ngục hóa ra bông sen. Bởi Đức Phật
Di Đà có nguyện: ỏõ Ai lâm chung, niệm Phật mười câu ngài
sẽ rước về Tây phươngõõ. Huống chi quí vị gặp kinh này
hãy mau ăn năn, lập nguyện, tụng niệm nhiều ngày, lo chi
Phật không rước.
29.- Sãi Huýnh
Kha đã xuất gia mà còn ăn mặn, nhậu rượu. sau khi ăn năn
nghĩ rằng mình đã làm sãi mà như vậy, lúc lâm chung đọa
địa ngục làm sao. Ông liền cậy các sãi đem chuyện vãng
sanh đọc cho mà nghe. Ông ngồi xây mặt về hướng Tây nghe
đọc hết các sự tích rồi đứng dậy lạy một lạy và
niệm Phật. Khi đọc hết, Huýnh Kha liền niệm Phật suốt
ba ngày đêm, bỏ cơm, ngủ gục chiêm bao thấy Phật bảo rằng:
ỏõSố ngươi còn sống mười năm nữa phải ráng mà tuõõ.
Vía ông lạy Phật bạch rằng: ỏõCõi thế gian độc ác con
tu sao nổi mười năm, xin Phật rước con về Cực lạc rồi
tu và hầu hạ các Bồ Tátõõ. Phật nói ỏõNgươi tình nguyện
như vậy, thời niệm Phật ba ngày nữa ta sẽ qua rước hồnõõ.
Huýnh Kha nhịn ăn luôn, niệm Phật cho đủ ba ngày đêm và
cậy các sãi tụng kinh Di Đà đưa mình. Một lát nói lớn
rằng: ỏõPhật với các Bồ Tát đã đến rước taõõ. Nói
rồi quỳ lạy xong xây mặt về hướng Tây niệm Phật mà
chết.
20.- Đời
Tống, có Trọng Minh ở huyện Sơn Âm chùa Báo Ân, không giữ
ngũ giới, lúc bịnh nói với bạn tu là Đạo Ninh rằng: ỏõ
Nay ta loạn tâm, thuốc chi trị được?õõ Đạo Ninh nói: ỏõCứ
niệm Phật mãiõõ. Trọng Minh y lời niệm Phật ròng bảy
ngày hơi đã đuối quá, Đạo Ninh bảo hãy tưởng tượng
Đức Phật Di Đà trong tâm. Trọng Minh y lời tưởng tượng
mãi thấy hai vị Bồ Tát và Phật Di Đà rồi nhắm mắt mà
chết ngồi.
Người dữ
cầu vãng sanh niệm Phật phải bằng trăm phần người hiền.
Nếu lo ra xao lãng, tưởng việc khác, Phật không rước ắt
sa địa ngục. Xin quý vị Hòa thượng, Yết ma, Giáo thọ,
Thủ tọa và bổn đạo, ráng trường chay niệm Phật, tinh
tấn tụng kinh Di Đà ít năm hoặc ít tháng cho tới lâm chung,
lo chi Đức Phật A Di Đà không rước về Tây phương, ngồi
chín phẩm sen vàng. (Niệm 30 vạn biến vãng sanh, chắc chắn
thấy Phật).
Nhứt là
những vị trường chay, những vị tu lâu năm thường niệm
Phật tụng kinh nhựt khóa thì công quả càng lớn lo chi không
được về Cực lạc, liên hoa hóa thân, ngồi trên chín phẩm
tòa sen.
Sự
Tích Vãng Sanh Ở Nước Việt Nam
21.- Ông Trần
Phong Sắc tại chợ Vũng Gù (bây giờ gọi là Long An). Ông
trường chay lúc 10 tuổi và thờ Tam giáo, Nho, Thích, Đạo.
Vào khoảng năm 1920, ông làm giáo học dạy chữ Nho tại trường
tỉnh Long An. Ông xem kinh Đại tạng gần 30 năm mới gặp pháp
môn Tịnh độ. Lúc đó ông trên 50 tuổi và bắt đầu tu theo
pháp môn này. Ông có viết quyển Lão Nhơn Đắc Độ và dịch
quyển Tây Quy Trực Chỉ của ông Châu an Sỹ. Cơn lâm chung,
ông biết trước ngày về Tây phương, do đó ông có làm bài
kệ khuyên người tu Tịnh độ (xem Tây Quy Trực Chỉ).
22.- Vào khoảng
năm 1958, một cô giáo ở chợ Lớn 19 tuổi, quy y với vị
Hòa Thượng Thích Khánh Anh (về sau Hòa thượng được làm
pháp chủ hội Phật Giáo Tăng Già Nam Việt). Cô giáo được
đặt pháp danh là Diệu Tâm, cô ăn chay trường, nuôi mẹ góa,
sớm chiều công phu niệm Phật. Ngày 14 và 30 cô thường đến
chùa lạy sám hối. Đến năm 21 tuổi bị bệnh cô nhờ rước
thầy của cô đến tụng niệm. Đến giờ lâm chung, cô bảo
đỡ ngồi dậy vì Quan Âm Bồ Tát đến rước. Lúc ấy hào
quang sáng rực trên nóc nhà. Lối xóm tưởng nhà cô giáo cháy,
chạy tới chữa lửa.
23.- Ông chủ
Thìn làm nghề trồng rẫy ở An Hội quận Gò Vấp, tỉnh Gia
Định. Năm 1927 ông bắt đầu tu theo pháp môn Tịnh độ. Đến
năm 1930, ông biết trước ngày giờ quy Tây nên làm saün một
cái bia ghi ngày tháng như vầy: ỏõNgày 14 rạng mặt rằm
tháng 2 năm 1930õõ Đồng thời ông ra nghĩa địa chôn saün
một cái lu, đến ngày lâm chung, ông tụng kinh niệm Phật
trước bàn Phật rồi đến nghĩa địa xuống lu ngồi niệm
Phật lớn vài tiếng rồi tắt thở.
24.- Năm 1890,
có một ông thầy thuốc ở tỉnh Gia Định. Ông thường hay
làm phước, nhứt là thí thuốc. đi đâu ông cũng mang một
cái túi dùng để lượm miểng chai, và một cái chày để
đóng những cây lồi lên mặt đất làm cản trở lối đi.
Năm sau cùng, ông tu theo pháp môn Tịnh độ. Ông biết ngày
giờ chết trước ba tháng. Ba ngày trước khi chết, ông ngồi
xếp bằng và niệm Phật trước bàn Phật. Mỗi ngày chỉ
ăn vài chén cháo trắng. Đến 12 giờ ngày cuối cùng, ông
tắt thở.
Loài
Vật Biết Nói Tiếng Người Đặng Vãng Sanh
25.- Đời
Đường niên hiệu Trinh Ngươn, tại quận Hà Đông có nàng
Bùi Thị nuôi một con két lớn ( Tàu kêu Anh Võ). Bởi biết
nói tiếng như sao sáo, bắt chước niệm Phật. Thường quá
giờ Ngọ thời chẳng ăn. Rốt lại niệm Phật mười hơi
mới chết. Chủ đốt thử coi, được mười mấy hột Xá
Lợi sáng ngời như hột châu chói mắt. Sãi Huệ Quang thấy
vậy xây tháp nhỏ, đựng những hột Xá Lợi vào hộp nhỏ
để trong tháp gọi là tháp Anh Võ. Có dựng bia khắc chữ
thuật sự tích nó.
26.- Đời
Đường, núi Huỳnh Nham, chùa Chánh Đẳng, ông họ Quan có
nuôi một con sao sáo, niệm Phật không ngừng. Ngày kia con sáo
chết đứng trong lồng. Chủ đào lổ chôn nó. Không bao lâu
mọc lên một nhánh bông sen đỏ sậm. Moi thử coi, gốc nhánh
sen trong miệng nó (chắc là cái lưỡi hóa sen).
27.- Huyện
Đàm Châu, có người nuôi một con cưỡng, nó thường niệm
Phật. Khi nó chết, chủ lấy một hộp mỏng đựng mà chôn.
Sau cũng mọc lên một nhánh bông sen hường. Moi thử gốc sen,
chính cái lưỡi nó (thiệt thổ liên hoa).
Liên Trì
đại sư nói: ỏõNgười ta bây giờ hay dạy con keo (Anh ca)
với sáo niệm Phật chơi. Nó cũng niệm ít tiếng như nhái
chớ không niệm thường nên chẳng thấy con nào vãng sanh nữa!
Ôi! Ví như người tin mà niệm hết lòng, còn kẻ niệm cầm
chừng lấy có nên cũng thời niệm Phật có người chẳng
đặng vãng sanh so với keo, sáo, cưỡng kia cũng thế.
TÍN-NGUYỆN-HẠNH
Pháp môn
Tịnh độ lấy Tín, Nguyện, Hạnh làm tông như cái đảnh
có ba chân, thiếu một tất không đứng vững.
-
TÍN là căn
bản của người tu. Nếu còn nghi thì hoa không nở.
Thứ nhứt:
Phải tin chắc chắn rằng, vì lòng từ bi, Đức Phât Thích
Ca dạy cho chúng ta những lời trong kinh đều chân thật. Lo
cho mình không tu niệm, lo chi Phật Di Đà, Thích Ca nói gạt.
Rất đỗi phàm tục những người ngay thẳng còn không nói
dối đặt chuyện gạt ai, huống chi luật Phật cấm vọng
ngữ, lẽ nào ngài gạt đời làm chi.
Thứ hai:
Phải tin chắn chắn rằng: Ngoài thế giới chúng ta vẫn sống
đây, chắc chắn có thế giới Cực lạc, có nhiều điều
vui do Đức Phật A Di Đà làm giáo chủ.
Thứ ba: Phải
tin chắc chắn rằng; ta là phàm phu nhiều nghiệp chướng,
không thể chỉ nương cậy vào sức mình để thoát sanh tử
ngay trong một kiếp này, phải nhờ Phật giúp.
Thứ tư:
phải tin chắc chắn rằng: Đức Phật A Di Đà có lời thệ
nguyện rộng lớn, nếu chúng sanh nào niệm danh hiệu Ngài,
cầu nguyện về nước Ngài, khi chết chắc chắn sẽ được
Ngài tiếp dẫn vãng sanh Cực lạc.
b)-NGUYỆN
nghĩa là thệ nguyện. Tu tịnh độ mà không dám nhứt tâm
thệ nguyện cầu vãng sanh Tây phương Cực lạc thì khó mà
thành công. Nếu thệ nguyện một lòng một dạ không dời
đổi chí nguyện vãng sanh của mình mới bền vững.
Lòng thệ
nguyện phải cho bền chặt. Dù ai nói pháp nào hay, dù ai nói
sẽ cho mình thành đạo tại thế, hoặc chứng Niết Bàn hiện
tiền, mình cũng không tin, không bỏ chí nguyện vãng sanh của
mình. Người có thệ nguyện là người có lập trường vững
chắc, là người kiên tâm Bồ Đề, là người dám thệ rằng
dù nghèo giàu sang hèn, bệnh hoạn, tật nguyền chi chi cũng
không thay đổi chí hướng theo Phật Di Đà về nước Cực
lạc.
Sức thệ
nguyện càng lớn càng thâm thì đạo tâm mới kiên cố.
Nguyện lìa
cõi trần này sanh về Cực lạc như tù nhân mong ra khỏi ngục,
như người đi xa nhớ quê hương. Nếu chưa được vãng sanh
Tịnh độ, dù cho kiếp sau làm vua ở cõi trời cũng không
thích vì còn phải luân hồi, chỉ muốn lâm chung được Phật
rước về Tây Phương mà thôi. được như thế thì nguyện
của ta mới cảm đến Phật và thệ nguyện của Phật mới
có thể nhiếp thọ ta. Đức A Di Đà tuy thệ nguyện độ sanh
nhưng nếu chúng sanh không cần ngài tiếp dẫn, ngài cũng không
biết làm sao. Muốn sanh Tây phương phải tin sâu, nguyện thiết.
Thiếu hai điều này, dù có niệm Phật đến đâu cũng không
thể cảm ứng với Phật; chỉ được phước báu ở cõi người
hoặc cõi ngườI và gieo nhân giải thoát về sau mà thôi. Nếu
tín nguyện đãy đủ thì muôn ngườI vãng sanh không sót một.
Ngài Vĩnh Minh bảo ỏõMuôn tu muôn người vềõõ, là chỉ
cho ai có tín nguyện đầy đủ. Ngài Ngẫu Ích Đại Sư nói:
ỏõĐược sanh cùng chăng toàn do tín nguyện có hay không,
phẩm sen cao thấp đều bởI do trì danh sâu hay cạn.õõ Đây
là một luận án sắt dù ngàn Phật ra đời cũng không thay
đổi.
Bình sanh
không tín nguyện, lúc lâm chung khó được nhờ sức Phật
tiếp dẫn. Cổ Đức bảo: ỏõTâm nghiệp rất nhiều, ngả
về một mối nặng như người mắc nợ, chủ nợ mạnh kéo
điõõ. Lúc lâm chung nghiệp lành dữ đều hiện, nếu không
tín nguyện, nghiệp lực lôi cuốn mất sự tự chủ. Nếu
chỉ nương cậy sức mình, dù nghiệp còn mảy tơ cũng không
thoát khỏi sanh tử. niệm Phật đến nhứt tâm mà không tín
nguyện, trong vô số người may mới có một vài người được
vãng sanh. Dùng lòng tín nguyện chơn thiết thì không luận
nghiệp nặng hay nhẹ, đều được nhờ từ lực vãng sanh.
Ví dụ một hột cát nhỏ để vào nước liền chìm, trái
lại tảng đá dù nặng ngàn cân được chở trên thuyền to
cũng có thể đem đi nơi khác. Kinh Hoa Nghiêm nói: ỏõNgười
ấy khi gần lâm chung, trong sát na tối hậu, tất cả các căn
đều bại hoại, tất cả các thân thuộc đều xa vời, tất
cả các uy thế đều tan rã, chỉ còn nguyện nương là hằng
còn theo dõi hướng dẫn trước mắt, trong một khoảnh khắc
liền được vãng sanh thế giới Cực lạcõõ.
Sự tích
sau đây cho ta thấy tầm quan trọng của sự phát nguyện. Bà
Thái Sương vợ một Hoa Kiều ở Qui Nhơn, tu tịnh độ và
phát nguyện rằng: ỏõNguyện vãng sanh Cực lạc nhằm ngày
vía Đức Phật A Di Đà (tức là 17 tháng 11 Âm lịch). Bà mất
năm 80 tuổi. đầu tháng11, bà nhờ thầy Bạch Sa tụng một
bộ kinh Thủy Sám và một bộ kinh Pháp Hoa để kịp đến
ngày 17 bà về chầu Phật. Đến ngày 17 bà con và đạo hữu
hay tin ấy đến nhà bà để thỏa mãn tánh hiếu kỳ. Buổi
sáng hôm ấy bà vẫn mạnh khỏe như thường. Đúng 10 giờ,
bà bảo người nhà đem cơm lên cúng Phật rồi ăn. Ăn xong
bà súc miệng rửa mặt và thay quần áo. Đúng 12 giờ trưa
bà chào tất cả mọi người rồi ngồi xếp bằng, hai tay
chắp trước ngực mà hóa một cách vui vẻ trước sự kinh
ngạc của mọi người. Năm ấy ở Quy Nhơn, thiên hạ bàn
tán xôn xao về cái chết của bà.
Xem đó đủ
biết sự phát nguyện vãng sanh Cực lạc là một điều tối
cần thiết cho người tu pháp môn Tịnh độ. Người tu phép
này, hàng ngày hôm sớm phát nguyện vãng sanh về Cực lạc,
không quên mỗi tháng có một giờ trong một ngày, đọc bài
phát nguyện trước đây lạy đúng hướng có Phật Di Đà
cùng chư Phật mườI phương chứng minh.
c)-HẠNH
là ta phải chí thành khẩn thiết niệm câu NAM MÔ A DI ĐA PHẬT
mỗi thời khắc đừng để tạm quên. Ngoài thời khóa tụng,
bất cứ lúc nào đi đứng nằm ngồi đều niệm thầm, nhất
là nằm chưa ngủ, niệm thầm hoài cho tới ngủ quên. Thức
giấc cũng niệm chuyền như vậy, lâu ngày thời thấy sự
linh nghiệm của Phật Di Đà. Bất cần ngày chay hay ngày mặn,
ở trần, nằm nghiêng, nên niệm thầm, tiêu rồi bước ra
cũng niệm luôn.
Muốn sắm
chuỗi lần cũng tốt, niệm không cũng tốt. Bậc hạ phải
có chuỗi lần mà buộc lòng, lâu ngày quen niệm tự nhiên
như kinh không chữ, miệng niệm tai ghi nhớ rõ ràng lần lần
vọng niệm tiêu dứt. Nếu làn sóng vọng tưởng nổi trào
quá mạnh, nên dùng phép thập niệm ký số như sau: Niệm Phật
phải ghi nhớ rõ ràng từ một đến mười câu không dư không
thiếu, rồi trở lại một, cứ thế mãi trong vòng mười câu
thôi không được hai chục hoặc hơn. Cách này không nên dùng
chuỗi, dùng tâm ghi nhớ. Nếu niệm một hơi từ một đến
mười thấy khó thì phân làm hai (từ 1 đến 5 rồi từ 6 đến
10) hoặc làm ba ( từ một đến ba, từ bốn đến sáu rồi
từ bảy đến mười). Lựa cách nào hợp với mình, không
nên thay đổi. (Phép này của ông Ấn Quang Pháp Sư dạy, và
áp dụng có kết quả.)
Niệm Phật
quí tại tâm, nhưng cũng không nên bỏ sự đọc tụng ra tiếng
và lạy trước bàn Phật vì thân, miệng, ý giúp đỡ lẫn
nhau. Dù tâm có ghi nhớ, song nếu thân không lễ kính, miệng
chẳng trì tụng thì cũng khó được lợi ích. Người đời
khi khiêng đồ vật nặng còn phải nhờ tiếng giúp sức. Với
hạng phàm phu, tâm hay bị xao lãng, nếu không nhờ sức thân
lễ, miệng tụng, khó được nhứt tâm. Kinh Đại Tập nói:
ỏõNiệm lớn thấy Phật lớn, niệm nhỏ thấy Phật nhỏõõ.
Phật Di Đà
dạy niệm cho khỏi vọng ra ý ác, tu luyện tâm thanh tịnh,
lâu ngày phát ra ý thiện, theo công quá cách thời công hạnh
mới nhiều. Chớ lầm Phật Di Đà cần cầu mị mà buộc tôn
sùng Ngài đâu. Phật rước những người không tà niệm ý
ác mà thôi.
Thờ tượng
Phật Di Đà trong lòng tin tưởng như thật chơn dung đó, đừng
tưởng hình giả, tuy hình vẽ mà lòng mình tưởng như có
ngài hiện xuống nhập vô đó, thời thiên nhãn Ngài chiếu
xuống cũng thấy. Như thiệt lòng thành và cung kính thời cảm
động (như động mối dây thép này, thời đầu kia động)
vì tâm mình thường niệm đã hiệp với tâm Phật rồi. Nếu
thuộc chú vãng sanh, gặp ai sát sanh, thời niệm Di Đà mười
câu với mười câu dài (NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC.. .PHẬT)
rồi niệm ba biến vãng sanh mà cứu độ nó. Gặp con chi mới
chết, đương chết cũng niệm vậy. Nói chi tới lúc đưa đạo
hữu lâm chung, thời niệm hoài cho đến chung cuộc.
Trong khi niệm
Phật, bất cứ làm công đức gì nhỏ hay lớn, như bố thí
một đồng hay cứu mạng một con kiến, hoặc xỏ dùm một
lổ kim. Sau khi làm xong, tưởng tượng Phật Di Đà trước
mặt đọc thầm "Tôi làm công đức này nguyện sanh về thế
giới Cực lạc của ngài".
Xem
Tiếp Trang 2
|