Choden
Rinpoche - thuộc Tu viện Sera Je – là một trong những Lạt
ma phái Gelug cao cấp nhất, trước năm 1985 ngài hầu như không
được biết tới ở ngoài xứ Tây Tạng. Sau năm 1959, ngài
không trốn khỏi quê hương mà cũng không bị cầm tù; ngài
sống trong một căn nhà ở Lhasa, không bao giờ ra khỏi căn
phòng nhỏ, tăm tối, trống trải trong mười chín năm, ngay
cả khi đi vệ sinh, và không bao giờ cạo râu cắt tóc.
Thị
giả của Rinpoche là tu sĩ Tseten Gelek thuộc Tu viện Sera Je
nói: “Ngài dùng toàn bộ thời gian để thiền định ở trên
giường. Người ta phải đổi chăn mền mỗi tháng một lần
vì chúng nặng mùi mồ hôi. Bởi giả làm một người
tàn phế nên ngài thường dùng một cái bô để đi vệ sinh.
Trước năm 1980, ngài không trò chuyện với bất kỳ ai, ngoại
trừ người mang thực phẩm vào phòng.”
“Vấn
đề chính tôi muốn làm là thực hành Pháp một cách chân
thành, cho dù những điều gì đang xảy ra ở bên ngòai.”Rinpoche
nói với tạp chí Mạn Đà La vào tháng Sáu trong chuyến viếng
thăm Học viện Vajrapani ở California kéo dài hai tháng. “Đây
là động lực của tôi, hoàn toàn đối nghịch với tám mối
bận tâm thế tục.”
Ở
đây, Rinpoche thuật lại cho chúng tôi về cuộc đời ngài.
(Những chữ in nghiêng là của Thượng Tọa Tseten.)
Choden
Rinpoche sinh năm 1933 gần Tu viện Rabten tại Rongbo miền
đông Tây Tạng. Năm lên ba tuổi ngài được xác nhận là
Hóa Thân của Rinpoche đời trước, bản thân vị này từng
là ứng viên cho Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Hai, Thinley
Gyatso. Việc ra đời của Choden Rinpoche đời trước có những
dấu hiệu đầy ý nghĩa. Sau khi Hóa Thân được chọn lựa,
người ta không muốn mọi người biết ngài như thế, vì thế
họ tôn ngài làm Lạt ma của Tu viện Rabten.
Từ
3 tới 8 tuổi tôi được một người chú sống trong một ẩn
thất chăm sóc, và năm lên 8 tôi vào Tu viện Rabten tại địa
phương, ở đó tôi học tất cả những lời nguyện và các
nghi lễ. Khi tôi 6 tuổi, lần đầu tiên tôi gặp Pabonka Rinpoche
đời trước, và tại Tu viện Rabten tôi đã nhận từ ngài
nhiều giáo lý. Sau đó tôi cũng thọ giới Sa Di từ ngài.
Vào
lúc đó tôi không biết nhiều về thực hành. Khi tôi được
10 tuổi, một cựu Tu viện trưởng của Tu viện Drepung Loseling
dạy tôi lam-rim và tôi dự những giảng khóa, và chính trong
khoảng thời gian này tôi bắt đầu quan tâm tới việc thực
hành.
Tôi
không nhớ thật rõ ràng lần đầu tiên tôi được gặp Pabongka
Rinpoche, nhưng điều tôi nhớ là Rinpoche rất vui vẻ đối
với tôi và tôi thực sự ngưỡng mộ mọi điều Rinpoche đã
làm: cách ngài đi, cách ngài phục sức, mọi sự. Bởi thán
phục ngài như thế nên tôi cảm nghĩ rằng: “Giá như tôi
có thể giống như ngài.”
Pabongka
Rinpoche khuyên tôi đừng ở tu viện địa phương mà tới những
tu viện chính gần Lhasa để tu học, như Sera, Ganden hay Drepung.
Tơi vào Tu viện Sera Je năm 15 tuổi. Tất cả những tu viện
Gelug địa phương trải rộng khắp Tây Tạng và trực thuộc
một trong ba tu viện trung tâm, vì thế bạn tuân theo điều
đó một cách phù hợp. Ngài Choden Rinpoche đời trước đã
học tập tại Sera Je và nghiên cứu chương trình đào tạo
geshe tại đó.
Cuộc
hành trình tới Lhasa mất một tháng rưỡi. Bởi lúc đó không
có những con đường thích hợp và bạn phải đi chậm với
một bày bò yak và nhiều người khác, giống như một đoàn
lữ hành. Đó là vào mùa đông và khi đó trời rất, rất
lạnh. Bạn phải mặc chuba (1) bằng da thú, vì thế bạn không
thể du hành trong y phục tu sĩ.
Tôi
nhớ là mình phải ngủ bên bờ đường và đôi khi đi ngược
lên những vùng hoàn toàn phủ tuyết. Trời rất lạnh nên
tuyết không tan được và bạn phải phủi tuyết khi thức
dậy. Không có thứ gì như một cái lều để trú thân. Bạn
cũng phải mang theo mọi thứ cần dùng trên lưng những thú
vật.
Vào
lúc ấy không có dấu hiệu gì của quân đội Trung Quốc (đó
là năm 1948), mặc dù đã có những trường hợp các nhóm nhỏ
quân đội tiến vào Tây Tạng. Dân chúng sợ Cộng Sản, sợ
loại người đó trong xã hội.
Lúc
đầu nhóm chúng tôi có ngựa để cưỡi và cũng có rất nhiều
bò yak để chuyên chở vật dụng, nhưng về sau chúng tôi bắt
đầu cưỡi bò yak thay vì ngựa. Tôi du hành với cha, mẹ và
một người anh. Gia đình tôi tới Lhasa để thực hiện một
cuộc hành hương, cúng dường và đi nhiễu tại những ngôi
chùa ở Lhasa. Sau năm hay sáu tháng, chúng tôi quay trở về
nhà.
Năng
lực của sự tranh luận như một nền tảng cho những chứng
ngộ: Tôi theo những giảng khóa đều đặn của Tu viện Sera,
học tập mỗi một trong năm bản văn chính. Đối với phần
đầu của việc học tập, bạn cùng các tu sĩ thực hiện
những đề tài nghiên cứu, nhưng khi bắt đầu việc nghiên
cứu của geshe thì họ trao lại việc khởi động cho các tulku.
Tôi học cùng lớp những vị như Geshe Sopa Rinpoche, Geshe Ugyen
Tsetsn và Geshe Legden trong hai hay ba năm.
Tại
tu viện Sera chương trình chính là triết học, chương trình
của geshe (Tiến sĩ Phật Học). Nhưng có những ẩn thất khác
nhau của các Lạt Ma, và các ngài sẽ ban giáo lý. Tôi đã
tham dự nhiều buổi giảng. Những vị Thầy chính vào thời
đó là Bari Rinpoche, Trijang Rinpoche và Ling Rinpoche. Tôi rất
thích những giáo lý này, mặc dù đôi khi trong chương trình
học tập tại Sera, khi bạn bắt đầu một phần rất quan
trọng của bản văn đang được nghiên cứu, bạn không được
phép đi tới những giảng khóa khác này.
Tôi
thích tranh luận và không quá tệ môn đó. Tôi đã học với
một số trong những nhà tranh luận giỏi nhất tại tu viện,
như Geshe Loga và Geshe Losang Wangchuk. Sau khi được các ngài
hướng dẫn tôi đã có thể tranh luận rất giỏi.
Điều
khiến bạn có thể được coi là một nhà tranh luận giỏi
là khi tranh luận về một chủ đề được đưa ra, bạn có
thể vạch ra cho người khác quan điểm sai lầm của họ; bạn
có thể tranh luận về điều đó bằng cách giải thích tại
sao quan điểm của họ không phải là quan điểm đúng đắn,
sử dụng luận lý học, lập luận, và bằng cách trích dẫn
tài liệu Kinh điển. Nhân việc tranh luận bạn cho họ thấy
quan điểm sai lầm của họ và họ có thể hoàn toàn từ bỏ
nó. Đó là dấu hiệu của một nhà tranh luận giỏi: có thể
soi sáng cho đối thủ khuyết điểm của họ và tạo lập
nền tảng cho sự hiểu biết đúng đắn nhờ luận lý học
và sự thấu suốt Kinh điển.
Với
sự tranh luận, bản thân bạn phát triển một sự xác tín
rất vững chắc về những gì bạn hiểu biết bởi bạn sử
dụng luận lý học, lập luận và việc trích dẫn Kinh điển.
Khi bạn có thể làm như thế thì bất kỳ điều gì bạn hiểu
biết, nó cũng rất vững chắc trong tâm bạn [và vì thế nó
là một nền tảng cho những sự chứng ngộ.]
Nói
chung người ta nói rằng trong sân tranh luận của các tu viện,
việc bạn chỉ vỗ đôi bàn tay (cử chỉ theo nghi lễ) một
lần trong cuộc tranh luận thì còn lợi lạc hơn việc thiền
định trong nhiều năm – năng lực của sự tranh luận thì
như thế đấy.
Thường
thì ở Sera, Ganden và Drepung bạn nghiên cứu ý nghĩa của tất
cả Kinh điển; sau đó bạn vào một trong những Học viện
Mật thừa và nghiên cứu ý nghĩa của tất cả các tantra.
Đây là tất cả những gì cần phải thiền định. Có những
người sau khi nghiên cứu đã trở thành ẩn sĩ, hiến dâng
trọn đời mình để thiền định.
Những
người khác sống trong tu viện và thực hiện mọi sự thiền
định trong môi trường tu viện. Những người khác chọn con
đường trở về những tu viện địa phương của họ trong
các làng mạc hay thị trấn nào nơi họ xuất thân để giảng
dạy hay thiền định.
Thầy
tôi, Geshe Losang Wangchuk, thường nói rằng ở trong một tu viện
và giảng dạy thì ích lợi hơn là ra đi để thiền định,
bởi khi ngài biểu lộ ước muốn nhập thất, Trijang Rinpoche
đã khuyên ngài cưỡng lại ước muốn đó, vạch cho ngài
thấy những lợi ích của việc giảng dạy cho người khác
thì hơn hẳn việc tự mình ra đi để thiền định. Khi giảng
dạy bạn mang lại lợi lạc cho rất nhiều người, nhưng khi
bạn thiền định thì chủ yếu là bạn làm lợi lạc cho bản
thân.
Triết
học không được sắp đặt cho việc thiền định, vì thế
những gì bạn thiền định là những điều giống như các
giai đoạn khác nhau của con đường dẫn tới Giác ngộ, là
điều hoàn toàn được sắp đặt cho thiền định. Khi ấy
bạn có thể sử dụng mọi chất liệu vật chất, mọi thông
tin của những nghiên cứu triết học và bạn có thể áp dụng
nó để làm phong phú, để tô điểm cho việc thiền định
của bạn.
Một
ngày tiêu biểu ở Tu viện Sera: Buổi sáng ở tu viện, ngay
trước khi bình minh, những lời cầu nguyện buổi sáng đã
bắt đầu và kéo dài khoảng hai giờ. Sau đó khởi đầu những
khóa tranh luận. Khoảng 11 giờ bạn cùng mọi người trở
vào để cầu nguyện, và trà được dọn ra. Đó là bữa trưa
của bạn. Tu viện chỉ cho món trà, vì thế các tu sĩ sẽ
tới với một nắm tsampa, và đó là bữa ăn trưa của họ.
Sau
đó bạn tranh luận, rồi cầu nguyện, rồi lại tranh luận.
Sau khóa tranh luận cuối cùng bạn có thể trải qua một giờ
rưỡi trong phòng của bạn.
Không
có những lớp học được tiêu chuẩn hóa – bất kỳ khi
nào có giờ rảnh là có lớp học. Có những thời kỳ trong
tu viện không có các khóa tranh luận, và chính trong thời gian
ấy những lớp triết học rất sôi nổi.
Sau
một tiếng rưỡi giải lao bạn tụ họp để tham dự một
khóa tranh luận rất dài, và tiếp theo là một khóa cầu nguyện,
ở đó bạn tụng Hai mươi mốt Lời Tán thán Đức Tara và
những lời cầu nguyện Bổn Tôn Dù Trắng (Bạch Tán Cái)
– những bài tương tự như vậy. Sau đó bạn cố gắng thực
hiện tiết tranh luận khác, và khi mặt trời sắp lặn bạn
được nghỉ giải lao. Kể từ lúc mặt trời lặn, mọi điều
bạn đã nhớ bạn phải tụng niệm để không quên mất. Nếu
bạn học các lớp cao thì bạn được phép ở lại trong phòng
bạn để tụng niệm, nhưng nếu bạn còn trẻ thì bạn phải
ở tại những khoảng đất trống là nơi diễn ra những cuộc
trì tụng. Bạn hát lớn tiếng một mình bạn.
Trong
lúc đó có thể có nhiều người tụng những bài cầu nguyện
đến tận bình minh ngày hôm sau. Lớp Trung Đạo và lớp của
những người nghiên cứu những sự Viên mãn (ba la mật) lần
lượt diễn ra suốt đêm. Khi một lớp sắp đi ngủ, lớp
khác sẽ bắt đầu khóa tranh luận của họ, và họ ở lại
đó mãi cho tới khi đọc những lời cầu nguyện buổi sáng.
Vì thế suốt ngày hai mươi bốn giờ luôn vang lên âm thanh
của Pháp. Chẳng bao giờ có thời điểm nào mà bạn không
nghe Pháp âm trong tu viện.
Rinpoche
đã hoàn thành mọi việc nghiên cứu cần thiết vào năm 28
tuổi, đạt được thứ hạng Lharam cao cấp nhất. Trijang Rinpoche
và nhiều Lạt ma cao cấp yêu cầu ngài nhanh chóng lấy học
vị geshe (tiến sĩ Phật Học), nhưng vào lúc đó guru gốc
của ngài, là Tu viện trưởng của Sera Je, không cho phép ngài
trở thành một geshe. Vị Thầy này muốn Rinpoche tiếp tục
nghiên cứu. Ngài lại trải qua những sự nghiên cứu, chủ
yếu là các bản văn về những giới nguyện tu sĩ, Vinaya (Luật
Học). Ngài nghiên cứu chúng nhiều lần. Rồi người Trung
Quốc đến.
Ngài
không bao giờ mặc y phục đặc biệt của tulku, và mặc dù
xuất thân từ một gia đình viên chức, ngài không bao giờ
có labrang riêng, căn hộ riêng, tại Sera. Ngài hòa nhập với
những tu sĩ bình thường và mọi người yêu mến ngài.
Các
Guru chính của Rinpoche là Pabongka Rinpoche, Trijang Rinpoche và
Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Ngay
từ lúc còn trẻ mục đích chính yếu trong việc nghiên cứu
của ngài là có thể thực hành những gì ngài đã học, vì
thế ngài tập trung vào ý nghĩa của Kinh điển. Lúc ngài khoảng
10 tuổi, ngài có một ý hướng to lớn là thực hành những
điều ngài học tập.
Tôi
lưu lại lớp Lharam trong nhiều năm. Một trong những vị Thầy
của tôi là một Tu viện trưởng bảo tôi: “Con còn trẻ.
Lý do gì khiến con phải vội lấy học vị geshe? Hãy tiếp
tục nghiên cứu.” Khi tôi có thể lấy học vị geshe thì
tôi khoảng 28 tuổi. Khi người Trung Quốc tới thì tôi 29 tuổi,
vì thế sau đó tôi chẳng bao giờ có sự may mắn.
Tôi
đã hoàn thành việc học tập trong khoảng mười bốn năm,
nhưng nếu đi theo hệ thống của tu viện thì bạn mất khoảng
ba mươi năm. Như thế những tu sĩ phải mất một thời gian
dài mới lấy được học vị geshe. Đó là vì ý nghĩa của
các Kinh điển thì rất, rất sâu xa. Bạn càng có thể phân
tích nó thì sự hiểu biết sâu sắc của bạn càng trở nên
sáng tỏ. Hệ thống này sản sinh ra một số trong những học
giả xuất sắc nhất.
Cuộc
nổi dậy ở Lhasa năm 1959: Trong thời gian của cuộc nổi dậy
chống Trung Cộng, hầu hết các tu sĩ đã trốn thoát. Vì thế
nhiều binh lính đã tới và các tu sĩ lo sợ các tu viện sẽ
bị phá hủy. Trước cuộc chiếm đóng có hàng ngàn tu sĩ,
nhưng chỉ còn hai hay ba trăm người ở lại tu viện Sera. Tôi
vẫn ở tu viện Sera.
Một
hôm, vào lúc rạng đông, binh lính Trung Quốc bao vây tu viện,
vây bắt tất cả các tu sĩ và gom chúng tôi trong một cái
sân. Sau đó họ lục soát tu viện thật kỹ lưỡng. Tất cả
các tu sĩ bị quân lính trang bị vũ khí bao vây.
Chúng
tôi nghe nói rằng ở miền đông Tây Tạng quân đội đã vây
bắt tất cả các tu sĩ và bắn chết họ, vì thế mọi người
lo sợ điều đó sẽ xảy ra. Từ bình minh cho tới hoàng hôn
tất cả các tu sĩ bị đứng trong sân. Sau đó lính Trung Quốc
cho các tu sĩ sắp thành một hàng và mang tất cả đi – mọi
người nói: “Chúng ta bị mang đi giết,” nhưng sự việc
không xảy ra như vậy, họ chỉ cầm tù mọi người.
Tôi
ở trong tù khoảng một tháng. Bởi không có sẵn một nhà
tù, họ đã dùng một trong những ngôi chùa chính của Sera
Je, và họ không cho bất kỳ ai ra ngoài, ngay cả để đi tiểu!
Chúng tôi phải dùng một cái thùng lớn thường được sử
dụng để đựng nước cúng dường – bạn không thể quét
dọn toàn thể sàn nhà.
Đôi
khi vào giữa trưa họ cho chúng tôi nước ấm để uống, và
nếu những ai có tsampa của riêng họ thì họ dùng nó
với nước. Hai hay ba trăm tu sĩ chúng tôi sống như thế trong
gần một tháng,
Họ
bắt đầu cách ly tất cả các Lạt ma, geshe, và tất cả những
ai giữ chức vụ quản lý. Họ phân loại người, và những
tu sĩ bình thường bị giam giữ thành một nhóm. Họ thường
nói: “Những người không có danh hiệu là bạn của chúng
tôi, còn những người có tước vị thì là kẻ thù.”
Họ
dùng những nhóm tu sĩ bình thường để khám phá những nhóm
người có tước vị. Nếu những tu sĩ bình thường nào có
thể bảo đảm rằng một người có tước vị không tham gia
cuộc nổi dậy và không nói điều gì về người Trung Quốc
thì vị ấy cũng được thả ra.
Khi
sống trong tu viện tôi thường hòa hợp với những tu sĩ bình
thường, vì thế một số tu sĩ đã bảo đảm cho tôi, nói
rằng mặc dù là một Rinpoche nhưng tôi chẳng phù hợp chút
nào với danh hiệu đó, vì thế tôi được phóng thích.
Họ
tổ chức những bài học chính trị trong tu viện, dạy các
tu sĩ phản bác tôn giáo, phản bác tu viện và mọi sự thực
hành. Họ thả từng người có tước vị ra trong một lát,
và mọi người – tất cả những tu sĩ bình thường – phải
đánh đập người ấy. Nếu những tu sĩ này không đánh thì
họ bị coi là những người ủng hộ người có tước vị.
Một số vị bị đánh trầm trọng tới nỗi sau đó không
đứng dậy nổi.
Tôi
bị một chứng bệnh tim nên khi nhìn thấy những điều này
xảy ra tôi đã ngã bệnh trầm trọng, vì thế tôi được
đưa đi bệnh viện để kiểm tra. Tôi tới Lhasa và ở đó
năm hay sáu tháng.
Vào
tháng hai năm 1960, họ vây bắt tất cả các tu sĩ sống ở
Lhasa và nói rằng chúng tôi không thể ở đó mà phải trở
về tu viện nơi chúng tôi xuất thân. Tôi trở về Sera. Tôi
vẫn sống như một tu sĩ và đắp y.
Khi
tôi trở lại tu viện, ở đó có một cuộc tổng phê bình
và hạ nhục Đức Đạt Lai Lạt Ma. Khi bạn bị cưỡng bách
dự những cuộc biểu tình này, bạn không có sự chọn lựa,
bạn phải tham dự vào việc lăng nhục. Trước đó tôi không
được khỏe vì thế tôi tìm cách ngủ và không phải tham
dự. Người Trung Quốc đưa bác sĩ tới kiểm tra mạch của
tôi, và vì bị bệnh tim nên mạch của tôi nhảy rất mạnh,
tôi được miễn dự những cuộc biểu tình này.
Trong
khi đó, điều kiện sống tại tu viện càng lúc càng căng
thẳng. Khi ấy dân chúng ở Lhasa được tự do hơn những người
trong tu viện một chút, vì thế khi nghe nói các tu sĩ
khốn khổ như thế, các cư sĩ nói những điều như: “Tôi
mong là mình không bao giờ bị tái sinh làm tu sĩ!” Đã tới
thời người ta nói ngay cả những điều như thế! Sau đó
tôi rời tu viện và tới Lhasa, ở đó tôi sống với một
người bà con.
Chẳng
bao giờ tôi có ý tưởng trốn đi. Người Trung Quốc thường
lập đi lập lại: “Tuyệt đối các ông không thể nào trốn
thoát,” và người ta cũng có quá ít thông tin về cách thực
hiện điều đó khiến cho ngay cả việc trốn đi cũng không
là một chọn lựa để cân nhắc trong tâm bạn.
Nhập
thất mười chín năm: Tôi thực hiện nhập thất Chulen
(2) trong một thời gian, nhưng người Trung Quốc ngăn tôi lại.
Họ nói bạn có thể thực hành Pháp, nhưng tới khi thực hành
thì có nhiều sự hạn chế, và họ cảm thấy Pháp không tốt
và các thực hành không có thực chất. Vì thế tôi sống ở
Lhasa tới khoảng năm 1964, làm các thực hành chính Guhyasamaja,
Yamantaka và Heruka, và ban một vài giáo lý ở nơi nào có thể.
Vào
lúc xảy ra cuộc Cách mạng Văn hóa năm 1965, mọi sự thậm
chí còn trở nên căng thẳng hơn trước. Chính vào tháng Tám
hay tháng Chín năm 1966 họ bắt đầu phá hủy điện Jokhang,
tất cả những linh vật trong các ngôi chùa, và cũng như tất
cả những linh vật mọi người cất giữ tại nhà riêng; đó
là một cuộc hủy diệt tập thể. Ngoại trừ nơi có pho tượng
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và một gian phòng của các Pháp
Vương, họ đã tiêu hủy toàn thể ngôi điện.
Điện
Potala không bị phá hủy nhiều như những nơi khác. Tại Sera,
Drepung và Ganden, một số các ngôi chùa chính có phần được
bỏ mặc trong một điều kiện tốt đẹp, nhưng những đền
chùa khác đã bị phá hủy. Năm 1969 là năm họ biến Ganden
thành bình địa.
Cùng
với cuộc Cách mạng Văn hóa tôi ngừng hoàn toàn mọi thực
hành bên ngoài. Tôi sống với những người thân ở Lhasa.
Tôi tuyệt đối không bước ra ngoài. Trong thời gian này tôi
ngủ. Tôi sống trong một căn phòng trong nhà của vợ người
em họ tôi, cô ta mang hai dòng máu Tây Tạng và Nepal. Người
Trung Quốc tới cả đêm lẫn ngày bất kỳ lúc nào– đôi
khi rất sớm, đôi khi trễ – để kiểm tra xem tôi đang làm
gì, tôi có ngủ không, tôi có thực sự bị bệnh hay không.
Khi họ đi khỏi tôi ngồi dậy và thực hành.
Vào
thời điểm đó bạn hoàn toàn không có những vật linh thánh,
không có các pho tượng hay Kinh điển. Nếu họ nhìn thấy
bất kỳ Kinh văn nào thì bạn sẽ bị rắc rối lớn. Cho dù
bạn mấp máy môi không phát ra âm thanh thì bạn cũng bị phiền
phức, bởi họ nghĩ rằng bạn đang cầu nguyện. Tôi có một
vài hột chuỗi hột nhưng phải cất dấu đi. Tôi có một
sợi chuỗi nhỏ và khi người ta tới kiểm tra tôi đã dấu
nó trong một cái túi bí mật trong quần áo ngay trên đầu
gối.
Bởi
tôi sống ẩn dấu không bao giờ ra ngoài như thế nên người
ta nói rằng tôi đang nhập thất. Nhưng nó không đích thực
là một cuộc nhập thất với những vật cúng dường, những
điều thuộc về nghi lễ, và v.v.. Trong thời gian này tôi nghĩ
tưởng về những giai đoạn khác nhau của con đường dẫn
tới Giác ngộ, cũng như Guhyasamaya, Heruka, Yamantaka, tất cả
những yoga của giai đoạn phát triển. Và khi có thời giờ
thì tôi hoàn thành túc số thần chú của mỗi vị Bổn Tôn.
Trong
bất kỳ trường hợp nào, bạn không cần tới ngoại vật
để thực hành Pháp. Nó hoàn toàn ở trong tim bạn, trong tâm
bạn. Đối với những sự chứng ngộ: bạn không kinh nghiệm
những sự chứng ngộ của ba phương diện chính yếu của
con đường, (3) nhưng bạn có một sự từ bỏ nhỏ bé, và
bởi điều đó bạn có thể sống như thế.
Những
thuận lợi của việc sống biệt lập: Một lý do tốt
đẹp khi sống ở Lhasa là nếu bạn ra ngoài, bạn phải làm
những gì người Trung Quốc bảo, và như thế bạn sẽ tich
tập rất nhiều nghiệp xấu.Tôi không làm bất kỳ điều
gì mâu thuẫn với Pháp; tôi muốn thực hành Pháp, bởi lý
do đó tôi không ra khỏi nhà. Người Trung Quốc đã dùng nhiều
thủ đoạn để buộc tôi phải làm việc cho họ. Trước hết
họ cố hăm dọa tôi, và khi điều đó không có hiệu quả
thì họ mời tôi và nhiều geshe và Lama cao cấp chịu sự quản
lý của họ; họ nói họ sẽ cấp cho một căn nhà, xe hơi,
thực phẩm, tiền bạc. Nhưng tôi không muốn làm điều đó
bởi khi ấy tôi sẽ phải làm mọi điều họ bảo, là những
điều hoàn toàn mâu thuẫn với Pháp. Điều chính yếu tôi
muốn làm là thực hành Pháp một cách chân thành, cho dù những
điều gì đang xảy ra ở bên ngoài. Đây là động lực của
tôi, hoàn toàn đối nghịch với tám mối bận tâm thế tục.
Đời
sau thì quan trọng hơn đời này – cuộc đời này hoàn toàn
như một giấc mộng. Vì thế nếu bạn đi và làm như người
Trung Quốc bảo, bạn sẽ có được một căn nhà và xe hơi
tốt, bạn có thể hưởng thụ rất nhiều thứ, nhưng điều
này sẽ khiến bạn rơi xuống những cõi thấp, ở đó bạn
sẽ kinh nghiệm những đau khổ trong nhiều kiếp. Những đời
sau thì quan trọng hơn cuộc đời này nhiều. Để làm việc
cho những đời sau, tôi đã sống ẩn dật để thực hành.
Khi
chết chúng ta không hoàn toàn biến mất. Chúng ta phải tái
sinh, và trừ những gì nghiệp của ta định đoạt, ta không
có bất kỳ chọn lựa nào trong việc tái sinh nơi những cõi
thấp hay cõi cao. Nếu bạn đã từng làm những điều tốt
lành trong đời này thì bạn có thể tái sinh trong cõi người,
và bạn có thể vui hưởng kết quả của những hành động
này. Nếu bạn làm những hành động xấu, nghiệp không biến
mất, trong tương lai bạn cũng phải trải nghiệm ngay cả nghiệp
nhỏ bé nhất bạn từng tích tập.
Tương
lai thì rất dài, kéo dài hằng nhiều kiếp. Cuộc đời này
rất ngắn, nó chỉ là một điều tưởng tượng, chỉ là
một giấc mộng. Tâm bạn tiếp nối vô tận, và trong đời
sau khi bạn chết, một lần nữa nó không biến mất, và bạn
lại tiếp tục trong đời sau, và đời kế tiếp – bạn phải
trải qua nhiều cuộc đời. Vì thế tất cả những điều
này là do những hành vi hiện tại định đoạt. Bạn không
có sự chọn lựa. Vì thế hành động hiện tại thì rất
quan trọng. Cuộc đời này rất ngắn, có lẽ chỉ một trăm
năm – rất nhỏ nhoi nếu so với những đời sau. Đây
là lý do tại sao những đời sau thì quan trọng hơn đời này.
Nếu
nhìn từ quan điểm của tôn giáo, của Pháp, thì việc sống
theo cách này là một thành tựu vĩ đại. Và theo quan điểm
của đời này thì đó cũng là lợi lạc to lớn. Trong đời
này, nếu tôi không từng làm những điều tôi đã làm thì
tôi đã phải đi theo người Trung Quốc và kiếm được một
căn nhà, xe hơi và địa vị cao, nhưng khi ấy tôi sẽ phải
hành hạ người khác và gây rất nhiều đau khổ cho chúng
sinh bình thường. Và nếu tôi hành xử như một người bình
thường, không có địa vị cao, v.v.. tôi sẽ phải trải qua
rất nhiều đau khổ, giống như tất cả những người Tây
Tạng đã phải chịu đựng. Nhưng trong đời này tôi không
phải trải nghiệm bất kỳ điều gì trong những việc này.
Đây là những điều thuận lợi của lối sống mà tôi đã
trải qua.
Thuận
lợi khác là tôi được nổi danh trong việc nhập thất hai
mươi năm: đây cũng là một lợi lạc liên quan tới đời
này! Nó sẽ khiến cho những người khác suy nghĩ: “Thật
lạ lùng. Có lẽ Pháp thực sự ích lợi, có lẽ nó chân chính.”
Nó có thể làm những người khác được lợi lạc theo cách
này.
Tôi
đã trải nghiệm rất ít vấn đề trong những năm đó. Tôi
chỉ có chút rắc rối về bao tử; và khi tôi bắt đầu bước
đi thì không đau đớn gì, nhưng lúc nào tôi cũng cảm thấy
chân tôi đang qụy xuống! Những người khác nhận ra rằng
tôi không thể đi lại bình thường. Cũng thế, bởi trong phòng
tối tăm nên tôi không thoải mái khi bước ra ngoài ánh sáng
– nó chói quá. Đôi khi có một ngọn nến nhỏ, nhưng tôi
không thực sự dùng nó. Ngay cả bây giờ ở Sera tôi cũng
thích ngồi trong bóng tối hơn.
Sau
năm 1979 người ta được tự do chút ít: Sau khi Mao trạch Đông
mất năm 1979 thì mọi người được tự do hơn chút ít. Nhiều
Lạt ma và Geshe tới nhà Rinpoche để nhận các giáo lý. Ngài
đã ban một ít giáo lý, nhưng không công khai - chỉ trong gian
phòng nhỏ của ngài cho một, hai hay ba người. Người ta biết
tới ngài. Năm 1979, ngài đã cạo râu và cắt mái tóc dài.
Sau
đó ngài nhận những bức thư của Hóa Thân của Shantideva
ở Tu viện Sera tại Ấn Độ và từ tu viện này thỉnh mời
ngài tới ban giáo lý, để trao truyền những điều ngài đã
học. Ngài cố gắng tìm kiếm một hộ chiếu nhưng lúc đầu
điều đó không thực hiện được.
Từ
năm 1965 tới đầu năm 1980, khi tôi sống hoàn toàn ẩn dật,
người em họ tôi không cho phép bất kỳ ai vào thăm tôi. Ribur
Rinpoche tới thăm tôi và em họ tôi cãi nhau với ngài, không
cho Ribur Rinpoche thăm viếng. Lý do chính khiến Ribur Rinpoche
tới thăm tôi là bởi chính phủ đang thành lập một ủy ban
gồm các tulku nhằm nghiên cứu di sản của Tây Tạng, chẳng
hạn như những pho tượng và Kinh điển. Mặc dù chính phủ
thành lập nó, nhưng các Lạt ma cao cấp đang thực hiện công
trình vì các ngài là những người uyên bác nhất. Trong khoảng
thời gian này những người trước đây bị người Trung Hoa
cách chức đã được phục hồi bởi họ có năng lực và
kiến thức. Họ được gọi là ủy ban Norbulingka.
Người
Trung Quốc muốn tôi gia nhập rất nhiều ủy ban mà họ đang
thành lập, nhưng vì tôi không tham gia gì hết nên họ không
thích tôi lắm. Từ năm 1981 trở đi, họ cấp visa để mọi
người có thể đi Ấn Độ và Nepal, nhưng mặc dù đã xin
tôi chẳng bao giờ được chấp thuận.
Rinpoche
đã cố gắng suốt trong ba năm để có hộ chiếu đi Ấn Độ,
và cuối cùng một người bạn thân của ngài là Pagpala Gelek
Mamgyal, một Lạt ma cao cấp nhất của tỉnh Kham và đứng
hàng thứ ba ở Tây Tạng, đang giữ một địa vị cao trong
vùng tự trị Tây Tạng (hiện vị này giữ chức vụ Ban Thiền
Lạt ma), và ông đã giúp Rinpoche có hộ chiếu. Cuối cùng
vào năm 1985 Rinpoche kiếm được hộ chiếu và có thể đi
Ấn Độ một cách hợp pháp.
Ấn
Độ: Khi tới Dharamsala, tôi tới đúng lúc Đức Đạt Lai Lạt
Ma ban lễ nhập môn Guhyasamaja, Heruka và Yamantaka. Tôi rất sung
sướng được nhìn thấy Ngài, và Ngài cũng rất vui mừng.
Ngài nói: “Việc ngài đến vào một dịp tốt lành như thế
để nhận những lễ nhập môn này có nghĩa là chúng ta có
samaya rất thanh tịnh.”
Tôi
đã nhận nhập môn Kalachakra từ Đức Đạt Lai Lạt Ma vào
năm 1985. Tôi hỏi Ngài tôi nên làm gì: trở lại Tây Tạng
hay ở lại. Ngài bảo tôi ở lại và giảng dạy những gì
tôi đã học và truyền bá Giáo Pháp.
Về
sau này Ngài bảo tôi rằng tại Nepal không có nhiều Lạt ma
Gelug cao cấp, vì thế nếu tôi tới đó thì thật là tốt
đẹp. Tôi đã ở đó trong tám hay chín tháng nhưng mắc bệnh
và phải trải qua một ca mổ, vì thế tôi không làm lợi lạc
nhiều. Tôi xin Ngài thứ lỗi đã không ở Nepal được vì
các tu sĩ của tu viện Sera Je ở miền nam Ấn Độ thỉnh cầu
tôi tới giảng dạy.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma bảo tôi đừng bao giờ làm đứt đoạn những
điều tôi hứa nguyện trong hiện tại và giảng dạy mọi
điều tôi đã học, vì thế từ lúc đó tôi sống trong Tu
viện Sera và tới Dharamsala bất kỳ khi nào Đức Đạt Lai
Lạt Ma giảng dạy.
Trong
mười lăm năm, Rinpoche chủ yếu giảng dạy chương trình đào
tạo học vị geshe tại Tu viện Sera Je ở miền Nam Ấn Độ.
Ngài thường ở tại Sera, và ngài ban những giáo lý về năm
chủ đề nghiên cứu chính.Ngài có ba lớp vào buổi sáng và
bốn lớp vào buổi chiều; ngài có nhiều học trò, từ những
cậu bé cho tới các geshe. Vào ngày thứ Ba, ngày nghỉ tại
Sera, Rinpoche dạy văn phạm, thi ca và tantra cho một vài geshe.
Đôi khi Rinpoche sẽ ban những lễ nhập môn hay giáo lý lam-rim
tại Sera, và có rất nhiều tu sĩ tới dự nên phải sử dụng
phòng hát tụng chính.
Sức
khỏe của ngài rất tốt. Năm 1996 chúng tôi trở về Tây Tạng,
và thực hiện một chuyến hành hương suốt Trung Quốc và
hầu như xuyên qua Tây Tạng.
Rinpoche
tới Tây phương lần đầu tiên vào năm 1998. Thượng Tọa
Massimo Stordi mời ngài tới Ý, và một Rinpoche ở Ý, cũng như
Geshe Soepa tại Đức. Trước đó Rinpoche không đi bất kỳ
nơi đâu bởi Sera cần ngài, bây giờ Sera có nhiều geshe, vì
thế Rinpoche có thể du hành.
Lạt
ma Zopa Rinpoche đã khẩn cầu một lung của toàn bộ một bản
văn của Je Tsong Khapa và của ba mươi sáu vị đệ tử chính
của Ngài, nhưng không có may mắn để thực hiện điều này.
Lạt ma Zopa Rinpoche thỉnh cầu Choden Rinpoche tới ban một lễ
nhập môn Vajrapani (Kim Cương Thủ) Bí mật tại Học viện
Vajrapani ở California và giảng dạy trong khóa nhập thất.
Rinpoche
đã nghiên cứu Vinaya (Luật) thật sâu rộng. Tại Sera ngài
được gọi là Vị Trì giữ Vinaya bởi ngài thấu suốt từng
nấc thang của Vinaya. Ngài giữ giới hạnh trong sạch và đã
làm lễ xuất gia cho hơn 600 người Tây Tạng – và hiện nay
ngài đã cho thọ giới xuất gia tại phương Tây. Ngài rất
nổi tiếng trong tu viện, và vì thế nhiều học viên tới
nhận giáo lý của ngài, đặc biệt là về Vinaya, bởi giới
đức của ngài rất thanh tịnh.
Ông
cố, ông và thân phụ của Rinpoche đều là những đại hành
giả. Ông cố và ông của ngài là nhữngKagyupa và thân phụ
ngài theo dòng Gelug, nhưng họ đều là những vị trì giữ
lam-rim. Họ trải qua hầu hết cuộc đời trong ẩn thất, mặc
dù không giống như Rinpoche, họ cũng không hề bước chân
ra ngoài. Họ đều là những vị trì giữ dòng truyền thừa.
Rinpoche được bao quanh bởi những hành giả này.
Thân
mẫu của ngài sinh tám trai và năm gái, và năm người trong
số các con trai của bà đã trở thành những tu sĩ. Một người
trong số đó, người anh em thứ ba, đã đạt được những
chứng ngộ cao cấp. Vị này tên là Geshe Thubten Yampil, ngài
thông suốt mọi giáo lý Phật Giáo, đạt được những chứng
ngộ và đã sáng tác năm mươi quyển sách và ban lễ nhập
môn Kalachakra ở Tây Tạng. Người thứ hai cũng là một thiền
giả nổi tiếng. Phụ mẫu của Rinpoche đã qua đời và trừ
một người ra, tất cả các chị em gái của Rinpoche cũng đã
mất.
Hiện
nay có Hóa Thân của người anh em thứ hai này ở Kham, Tây
Tạng, ngay trong nhà của gia đình ngài. Cũng có Hóa Thân của
người anh em thứ ba ở Tây Tạng, cũng như Hóa Thân của người
anh cả. Hóa Thân của người anh thứ hai có thể tụng Kinh
điển Phật Giáo mà thậm chí không nhìn vào sách, chúng đến
thẳng từ trái tim ngài. Khi Choden Rinpoche thuật lại cho Đức
Đạt Lai Lạt Ma điều này, Ngài hỏi ông ta có phải là một
tulku không, nhưng Choden Rinpoche nói là không, đó là anh thứ
hai của ngài trước đây.
Bài
báo này xuất hiện lần đầu tiên trong Tạp chí Mandala, Tháng
Bảy/Tám năm 2000.
Nguyên
tác: “ The Life of a Hidden Meditator”
http://www.kurukulla.org/program/choden_articles/hidden.html
Chú
thích:
(1)
chuba: Ngoại y truyền thống của người Tây Tạng, cả nam
lẫn nữ. Kiểu của người nam có các tay áo dài.
(2)
Chulen: sự trích xuất các chất tinh túy, phương pháp khiến
ta không phải dùng thực phẩm thông thường, chỉ dùng những
chất thể hay yếu tố nào đó với số lượng ít ỏi.
(3)
Ba phương diện chính yếu của con đường: những giáo lý
cốt tủy của lam-rim: sự từ bỏ, Bồ Đề tâm, và tánh Không.
Bản
dịch Việt ngữ của Liên Hoa