Kalu
Rinpoche là một Đạo sư vĩ đại của Phật Giáo Tây Tạng.
Trong bài tường thuật về tiểu sử của ngài, Dezhung Rinpoche,
một Lạt ma cao cấp của phái Sakya đã viết:
“Lạt
ma Kalu Rinpoche Tôn quý là ý nghĩa thực sự của Đức Dorje
Chang (Kim Cương Trì) Vĩ đại – hiện thân những phẩm tính
và hoạt động bên ngoài, bên trong và bí mật của Ngài theo
cách mà chúng sinh bình thường như chúng ta có thể nhận thức
được và phù hợp với căn cơ của ta. Tôi cảm thấy tiểu
sử của ngài rất cần được viết ra, và rất hy vọng rằng
điều đó có thể được thực hiện. Hiện nay Rinpoche đã
cho phép chúng ta, những người sùng mộ và đệ tử của ngài,
được viết ra điều đó. Nếu những tiểu sử của những
bậc linh thánh trong thế giới này không được thuật lại
rõ ràng thì điều đó quả là một tổn thất to lớn cho chúng
ta. Vì thế tôi cầu nguyện rằng các bạn sẽ ghi khắc tiểu
sử này trong tâm.”
Tiểu
sử của Kalu Rinpoche Tôn kính được biên dịch dựa theo Tự
truyện của Kalu Rinpoche, theo lời thuật lại của Dezung Rinpoche
và những tài liệu khác.
Dòng
dõi
Gyaltses
Lodro Taye (Đức Kalu Rinpoche), người được thừa nhận
là Hóa Thân Hoạt động để điều phục chúng sinh, là một
trong nhiều hiện thân trí tuệ kỳ diệu của Jamgong Kongtrul
Rinpoche. Tiền thân của Jamgong Kongtrul Rinpoche là A La Hán Ananda
(A Nan), đệ tử thân thiết nhất của Đức Phật. Ngài là
đại dịch giả Vairocana; là vị Thầy uyên bác và thành tựu
Khyungpo Naljor; là Sakya Pandita, Jonang Taranata, và Rikdzin Terdak
Lingpa. Toàn bộ dòng tâm của các ngài là một hiện thân,
được Đức Phật tiên tri trong Kinh Samadhiraja (Kinh Định Vương)
và Mahaparinirvana (Kinh Đại Bát Niết Bàn), và được Urgyen
Chenpo Padmasambhava (Đức Liên Hoa Sanh) tiên tri trong nhiều pho
sách kho tàng (terma).
Jamgong
Kongtrul (1818-1899) sinh ở Derge thuộc vùng Do-Kham. Từ Sechen
Pandita Gyurma Thutop Namgyal, từ Jamyang Khyentse Wangpo Thấu suốt
Mọi sự, và từ Lạt ma gốc phi thường Situ Pema Nyinche cùng
hơn năm mươi vị Thầy khác, ngài đã thọ nhận đại dương
trí tuệ các giáo lý Kinh điển và tantra (Mật điển), là
những điều ngài đã nghe và suy niệm một cách viên mãn.
Trong kinh nghiệm thiền định của ngài, ngài đã thọ nhận
thật rõ ràng dấu hiệu ấm áp của sự thành tựu. Các tác
phẩm của ngài gồm có Kho tàng Trí tuệ Toàn khắp, Kho tàng
những Giáo lý Kim Cương thừa, Kho tàng những Giáo lý Thì
thầm bên tai, Kho tàng những Kho tàng Quý báu, và Kho tàng Phi
thường kể cả Kho tàng những Giáo lý Bao la của nó. Nhờ
công hạnh liên tục làm thuần thục và giải thoát của ngài
trong việc sáng tác những tác phẩm này - những pho sách Năm
Kho tàng Vĩ đại, ngài đã làm hồi sinh các giáo lý của các
truyền thống, Cổ, Tân và Chiết trung đang ở thời điểm
suy tàn. Ngài đã thành tựu những lợi lạc vĩ đại cho Giáo
lý và cho chúng sinh. Ở tuổi tám mươi bảy ngài thị tich
vào Pháp giới an bình. Hiện vẫn còn lưu lại một tiểu sử
khá đồ sộ của ngài.
Kalu
Rinpoche, hóa thân của Jamgong Kongtrul, sinh ra trong gia đình
Ratak ở Beru, tại Hor Treshe vào năm Thủy Tị Nữ (1905). Thân
phụ của ngài là Lekshay Drayang (Ratak Tulku), được gọi là
Pema Norbu, một yogi (hành giả) thành tựu và là một thầy
thuốc nổi danh. Ratak Tulku là hóa thân thứ mười ba của Ratak
Palsang và là đệ tử trực tiếp của hai Đạo sư vĩ đại
Jamyang Khentse và Jamgon Kongtrul Rinpoche, những vị Thầy khởi
xướng phong trào không bộ phái (Rime). Thân mẫu của ngài
đã hiến mình cho việc tu tập Phật Pháp từ khi còn rất
nhỏ. Bà được gọi là Drolkar (Tara Trắng Nhỏ), một danh
hiệu do Đạo sư Jamgon Kongtrul ban cho. Ngoài năm trăm ngàn thực
hành chuẩn bị, bà đã hoàn tất một trăm triệu lần trì
tụng thần chú Vajra Guru (Đạo sư Kim cương), hai trăm triệu
thần chú Mani (Sáu Âm), một trăm triệu thần chú Amitabha (A
Di Đà) và một trăm triệu thần chú Vajrasattva (Kim Cương Tát
Đỏa). Từng dấn mình vào những tích tập rộng lớn về
đức hạnh và tịnh hóa, bà bỏ lại thân xác vào tuổi bảy
mươi tám tại Bumthang (Bhutan).
Khi
Rinpoche ra đời, những vòm cầu vồng chói ngời và tuyết
đổ thật nhẹ như một trận mưa hoa trên không trung và xung
quanh căn nhà. Thân mẫu và những người thân của Rinpoche
thuật lại rằng ngay khi sinh ra, cậu bé nhìn xung quanh và mỉm
cười rạng rỡ, không hề lộ vẻ sợ hãi hay bẽn lẽn. Cậu
nói về việc truyền bá giáo lý của dòng Kagyu và lập lại
Thần chú Sáu-Âm. Cha mẹ cậu và mọi người trong vùng hết
sức hoan hỉ, và việc cậu bé ra đời được báo trước
như sự đản sinh của một hóa thân vô cùng kỳ diệu.
Thân
phụ của Rinpoche có nhiều giấc mơ cho thấy Kalu Rinpoche là
một hóa thân của Kongtrul Rinpoche. Đặc biệt là ngài Tubten
Choskyi Dorje, Dzogchen Rinpoche thứ năm, đã dâng nhiều món cúng
dường tâm linh, ba vật linh thánh, một con ngựa tuyệt hảo,
và những vật cúng dường khác. Ngài bảo Ratak Tulku rằng
con trai ông chắc chắn là hóa thân của Jamgong Kongtrul, và
cậu bé cần được dâng cúng cho Tu viện Dzogchen. Ratak Tulku
không đồng ý với điều đó nhưng giữ lại các tặng vật.
Kalu Rinpoche nói rằng con ngựa rất ích lợi cho ngài và nói
ngài cưỡi nó đi khắp mọi nơi.
Việc
Tu tập
Ngay
từ khi còn bé, Rinpoche đã không giống những đứa trẻ khác.
Mọi người nhận thấy cậu bé này thật đặc biệt. Những
khuynh hướng đức hạnh đã thức dậy trong cậu. Thật tự
nhiên, cậu chỉ ước muốn vứt bỏ của cải và những thú
vui của một cuộc đời tầm thường và tuyệt đối tuân
thủ thực hành tâm linh ở một động đá nào đó trong núi
non cô tịch. Cậu có khuynh hướng bi mẫn, lòng sùng mộ và
sự thông tuệ vĩ đại. Lòng bi mẫn đối với chúng sinh khiến
cậu rơi lệ, đặc biệt là đối với những người bị ưu
phiền và đau khổ đè nặng. Cậu cũng có niềm tin và lòng
sùng mộ mãnh liệt đối với các Lạt ma mà với các ngài
cậu đã tạo nên một sự nối kết bằng cách nhận từ các
ngài những quán đảnh làm thuần thục tâm linh và những giáo
lý giúp đạt được giải thoát.
Từ
thân phụ và những người khác, Rinpoche học viết, đánh vần,
lễ puja, Phật sự và những môn khác bằng trí nhớ. Nhờ
trí nhớ toàn hảo, mỗi ngày Rinpoche có thể học thuộc lòng
bốn mươi trang sách. Khi Rinpoche còn rất trẻ, thân phụ của
ngài đã phải làm việc cực nhọc để dạy ngài đọc, viết
và hiểu biết Giáo Pháp. Bởi thân phụ ngài hết sức nhiệt
tâm trong những việc trì tụng hàng ngày, những khóa thiền
và nhập thất của riêng ông nên Rinpoche cũng phải thức khuya,
dậy sớm, lấp đầy một ngày bằng những khóa thiền định,
thực hành, nghiên cứu và tu tập. Ngài hết sức thông tuệ
và có khả năng tự nhiên về ngôn ngữ (biện tài). Ngài
nhận Đức Tara Trắng và Quán Thế Âm là các Bồn Tôn của
ngài. Năm Rinpoche mười ba tuổi, ngài chính thức đi vào Giáo
lý quý báu của Đấng Chiến Thắng. Vị Tai-Situ thứ mười
một là ngài Padma Wangchuk cho ngài thọ giới và ban Pháp danh
là Karma Rangjung Kunchab – Tự-Sinh và Trùm Khắp. Về sau này,
ai cũng nói rằng đó là một danh hiệu thích hợp.
Năm
mười lăm tuổi, Rinpoche nhập hạ tại Tu viện Bengen ở Hor.
Trước một tập hội gồm hàng trăm tăng, ni, và cư sĩ, ngài
giảng về ba cách thọ giới.(1) Bởi ngài thuyết giảng với
sự vô úy và xác quyết bắt nguồn từ một sự hiểu biết
vững chắc, bài giảng của ngài chinh phục được trái tim
của mọi người. Hội chúng bình luận về sự thông tuệ
chói ngời, lối nói chuyện tuyệt vời, và cách trình bày
chính xác của ngài. Rinpoche đi tới Tu viện Pepung (Palpung),
tu viện chính của phái Karma Kagyu và bản doanh của các hóa
thân Tai-Situ, ở đó ngài được Situ Rinpoche là Pema Ongchuk
Gyalpo chăm sóc với lòng bi mẫn. Vị này tuyên bố ngài là
một hiện thân trí tuệ của Jamgong Kongtrul. Rinpoche được
các đệ tử đích thực của Jamgong Kongtrul là Kes-ong Tashi
Chospel và những vị Thầy khác dạy nhiều môn học và thực
hành các giáo lý Kinh điển và Mật điển. Từ Thiền sư thành
tựu viên mãn Norbu Dundrub, ngài nhận toàn bộ những giáo lý
làm thuần thục và giải thoát của Karma và Shangpa Kagyu. Từ
Situ Rinpoche, Gyaltses Khentse Oser, Pepung Khentse Rinpoche và nhiều
vị Thầy khác ngài đã nhận lãnh liên tục và đầy đủ
những giáo lý của Năm Kho tàng Vĩ đại. Năm mười sáu tuổi,
Rinpoche thực hiện khóa nhập thất ba năm, ba tháng tại trung
tâm nhập thất vĩ đại tại Tsa-dra Rinchen Drak (Kunzang Dechen
Osal Ling). Ẩn thất này từng là trụ xứ chính của Jamgon
Kongtrul, là vị Đạo sư mà Đức Phật đã tiên tri trong nhiều
Kinh điển và tantra (Mật điển). Trong thời gian này, niềm
tin nơi các Lạt ma và Giáo Pháp, và nhiệt tâm của ngài đối
với việc thực hành thật không bờ bến. Để bảo đảm
là có thể thức dậy sớm vào buổi sáng, ngài đã ngủ ngồi,
lưng tựa vào cửa phòng. Vào buổi sáng, khi vị tu sĩ đá
vào những cánh cửa phòng để đánh thức những người nhập
thất, Rinpoche hối hả chạy vù qua phòng mình. Khi ngài cảm
thấy buồn ngủ vào ban ngày, ngài ngồi ở rìa cửa sổ. Trong
tư thế này ngài sẽ ngã xuống sàn nhà ngay khi lơ mơ ngủ.
Tại
trung tâm nhập thất này, Rinpoche hoàn tất khóa nhập thất
truyền thống ba năm dưới sự hướng dẫn trực tiếp của
Lạt ma Norbu Dondrup, Đạo sư nhập thất, mà từ vị Thầy
này Rinpoche đã nhận toàn bộ sự trao truyền của các Dòng
Karma Kagyu và Shangpa Kagyu. Trong thời kỳ này, Kalu Rinpoche bắt
đầu có nhiều giấc mơ trong đó ngài viếng thăm những cõi
Tịnh độ và nhận giáo lý từ chư Phật và Bồ Tát. Khi ngài
mô tả những kinh nghiệm này, Bổn sư của ngài tỏ vẻ ít
quan tâm, nói với ngài một cách giản dị rằng các giấc
mơ chỉ là một ảo tưởng, không tốt mà cũng chẳng xấu,
và giải thích “Các giấc mơ này là những kinh nghiệm phát
sinh trong thực hành, nhưng điều quan trọng là phải thiền
định và chứng ngộ bổn tâm con là Mahamudra (Đại Ấn). Những
giấc mộng sẽ chẳng bao giờ là nguyên nhân của giác ngộ.”
Được cảm hứng sâu xa bởi những lời dạy này, Kalu Rinpoche
quyết định từ bỏ mọi hoạt động thế tục và hiến mình
cho việc thành tựu sự giác ngộ viên mãn.
Sau
khi hoàn tất khóa nhập thất ba năm tại Thiền đường Pepung,
ngài tới Tu viện Bengen ở Hor, quê hương của ngài. Năm hai
mươi lăm tuổi, Rinpoche hoàn toàn từ bỏ mọi công việc,
mọi ràng buộc và tiện nghi của cuộc đời thế tục. Ngài
sống trong những ẩn thất cô tịch trong núi non ở Lhapu (thuộc
miền Derge), trong hang động và những nơi không có bóng người.
Trong thời gian mười hai năm, ngài đã thực hành khổ hạnh
nghiêm nhặt với sự nhẫn nại không bờ bến. Ngài hài lòng
với những gì ngài có, không phân biệt, và thoát khỏi mọi
mối bận tâm thế tục. Mọi vật cúng dường ngài nhận được
từ những người có niềm tin nơi ngài nhân danh những người
đã mất, ngài đều sử dụng cho những mục đích tâm linh.
Cuộc đời của Rinpoche trong thời gian mười hai năm này rất
ít được biết tới. Ngài sống ở những nơi cô tịch với
rất ít thực phẩm. Trong những năm này, đôi khi Rinpoche rời
ẩn thất để viếng thăm và tham vấn Lạt ma Norbu Dondrub,
Bổn sư của ngài. Một số trong những nơi này không thể
đến được vào mùa đông. Đã có lần Lạt ma Gyaltsen, thư
ký của Rinpoche, viếng thăm Rinpoche khi ngài còn trẻ. Ông nhớ
lại rằng hang động của Rinpoche còn nhỏ hơn chỗ lõm trong
một tảng đá, hoàn toàn trống trải ở hướng bắc và lồng
lộng gió suốt ngày đêm. Lạt ma Gyaltsen cảm thấy hang động
đó là một nơi khủng khiếp và thật sung sướng khi được
rời khỏi nơi đó sau một thời gian ngắn. Thật không thể
tưởng tượng nổi là Rinpoche có thể ở một nơi như thế
trong vài tháng.
Lòng
Sùng mộ và Các Đạo sư
Ngài
có lòng sùng mộ thật mãnh liệt đối với Đạo sư của
ngài là Lạt ma Norbu đến nỗi trong suốt cuộc đời của
Rinpoche, ngài đã ba lần dâng cúng mạn đà la tất cả những
gì ngài có được cho vị Thầy trong ba thời điểm riêng biệt.
Ngài
đã tu học với nhiều Đạo sư uyên bác và thành tựu: Tashi
Chopel (thư ký của Jamgon Kontrul), hóa thân Tai-Situ thứ mười
một, Padma Wangchuk, Palpung Khyentse Shenpen Ozer (hiện thân về
ngữ của Khyentse Wangpo), Tsabtsa Drubgyu (một hóa thân cao cấp
tại Tu viện Tsabtsa ở Kham), Dzokchen Rinpoche thứ năm (Tu viện
trưởng Tu viện chính yếu của phái Nyingma ở miền Đông
Tây Tạng), Zhechen Gyaltsab (một hóa thân cao cấp ở Tu viện
Zhechen), Zhechen Kontrul (hóa thân Kontrul tại Tu viện Zhechen),
Khyentse Chokyi Lodro (hiện thân hoạt động của Khyentse Wangpo),
Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Bốn, hai Thầy trợ giáo
của Đức Đạt Lai Lạt Ma (Ling Rinpoche và Trijang Rinpoche),
Đức Karmapa thứ Mười Sáu, Pawo thứ mười một, Tsuklak Mawai
Wangchuk, Đức Dudjom Rinpoche (khi đó là vị lãnh đạo Phái
Nyingmapa), Dilgo Khyentse Rinpoche (hiện thân về tâm của Khyentse
Wangpo), Kangyur Rinpoche, Chatral Rinpoche Songjay Dorje, Đức Sakya
Trichen (vị lãnh đạo một trong hai bộ chính của Phái Sakya),
Dezhung Rinpoche (học giả cao cấp của phái Sakya), và những
vị Thầy khác. Với những Lạt ma linh thánh này, Rinpoche đã
hết sức tinh tấn trong việc nghiên cứu, suy niệm, thiền
định, và thực hành vô số tuyển tập giáo huấn từ các
Kinh điển và Mật điển của các Truyền thống Cũ và Mới.
Nhờ những nỗ lực của Rinpoche, hầu như ngài đã trở thành
nam tử tâm linh của tất cả những vị Thầy này.
Ngài
cũng dâng toàn bộ giáo huấn tâm linh trong việc làm thuần
thục và giải thoát cho các bậc linh thánh, các Lạt ma, hóa
thân, và những nhân vật quan trọng: Jamgon Khyentse Ozer, Khyentse
Chokyi Lodro, Karmapa thứ Mười Sáu Rangjung Rikpai Dorje, Zhechen
Kongtrul Rinpoche, Pawo Rinpoche, Dilgo Khyentse Rinpoche, Chatral Songjay
Dorje Rinpoche, hóa thân của Dzongsar Khyentse Rinpoche, Sakya Dakchen
Rinpoche, Sakya Dezhung Rinpoche, Nyenpa Choktrul, Drongsar Khyetse, Palpung
Khyentse, Dsigar Choktrul, Trangu Khenpo, Đạo sư Kim cương Tenga
Rinpoche, Baiyul Rinpoche, Sonam Zangpo, Bokar Rinpoche, các hóa thân
nam tử của Orgyen Tulku …
Giáo
hóa Chúng sinh
Trải
qua những gian khổ, với nghị lực mãnh liệt Rinpoche đã hoàn
tất những thực hành tịnh hóa chuẩn bị, và những thực
hành chính của các thiền định phát triển và thành tựu.
Tiếng tăm về sự thành tựu của ngài lan truyền khắp nơi.
Đối với Rinpoche, sống trong những sơn thất cô tịch là
lối sống có ý nghĩa nhất, và ngài sung sướng được tiếp
tục sống trong núi non và thiền định trong phần còn lại
của đời mình. Sau khi Kalu Rinpoche trải qua mười hai năm thiền
định theo cách này, các Lạt ma của ngài thấy rằng nếu
ngài trở về và giảng dạy Giáo Pháp thì sẽ hết sức lợi
lạc cho tất cả chúng sinh. Và cuối cùng, những khẩn cầu
từ Tai-Situ Padma Wangchuk và Norbu Dondrub đã thúc đẩy ngài
rời khỏi ẩn thất. Theo lệnh của Situ Rinpoche, ngài được
chỉ định là Đạo sư của Trung tâm nhập thất ba năm của
Jamgong Kongtrul Rinpoche tại Tu viện Pepung (Palpung), ở đó trong
nhiều năm ngài liên tục ban những quán đảnh làm thuần thục,
những giáo lý giải thoát, và thẩm quyền cần thiết để
tụng đọc Kinh điển, và đã đào tạo được nhiều đệ
tử thành tựu.
Sau
khi hai khóa nhập thất đã hoàn tất dưới sự hướng dẫn
của Rinpoche, ngài khẩn cầu Tai Situ Rinpoche và Palden Khyentse
Ozer cho phép thực hiện một chuyến hành hương tới Lhasa.
Ngài ước muốn được du hành như một hành khất, tự mang
thực phẩm và quần áo của mình, nhưng Tai Situ Rinpoche phản
đối và nói: “Ngài giống như viên ngọc quý của tôi,”
và dâng cho Rinpoche nhiều bò yak cùng những người phục vụ.
Tuy nhiên, Kalu Rinpoche chỉ nhận nửa số bò yak và chỉ có
người em và một tu sĩ cùng đi với ngài.
Rinpoche
đi hành hương tới xứ U, miền Trung Tây Tạng. Cùng lúc đó,
Situ Rinpoche Pema Ongchuk Gyalpo tới chỗ hành hương. Theo lệnh
của Situ Rinpoche, Rinpoche đã giảng dạy toàn bộ Sáu Giáo
lý làm thuần thục và giải thoát của Niguma của Shangpa Kagyu
cho vị Trì Minh Vương hóa thân vĩ đại phái Gelug là Kar Dor
Rinpoche, và cho Lhatsun Rinpoche và nhiều geshe Gelugpa khác. Từ
những vị này ngài nhận những vật cúng dường to lớn được
tạo nên bởi lòng tôn kính vô biên. Tại Điện Jokhang ở
Lhasa, Rinpoche đã dâng những vật cúng dường bằng vàng trước
pho tượng Jowo (Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mười hai tuổi)
, và tụng rất nhiều lời nguyện “Thiện Hạnh”. Tại Lhasa,
Kalu Rinpoche tổ chức việc xây dựng lại một vài thánh địa
Shangpa đã bị phá hủy và ban những nhập môn Dòng Shangpa
và các giáo lý cho nhiều Geshe, Lạt ma và Tulku. Trong khi viếng
thăm Tu viện Tsurphu, ngài dâng cúng mọi thứ ngài có cho Đức
Gyalwang Karmapa thứ Mười Sáu Rangjung Rikpay Dorje. Vị Thầy
vĩ đại này đã thừa nhận Kalu Rinpoche là hiện thân hoạt
động của Jamgon Kongtrul Lodro Thaye.
Trong
chuyến hành hương, khi ngài đang đi nhiễu những thánh địa
ở U, Tsang, và Ru-shi, Rinpoche ở nhà của một thí chủ giàu
có tại miền Kyangtsi. Trong một giấc mơ, một thiếu niên
có nước da trắng hiện ra trước ngài và nói với vẻ buồn
rầu rằng cậu là Khyungpo Tsultrim Gonpo, nhưng trong Thời đại
Tối ám này cậu không thể làm lợi lạc cho giáo lý và chúng
sinh. Rinpoche mơ thấy rằng trong y áo của chính ngài có một
lưỡi dao tigug và một cái chén sọ người. Ngài lấy những
món này cho cậu bé, và nói: “Nếu ngài không rời những
vật dụng này, ngài sẽ thành tựu mục đích của ngài. Ngài
đừng lo.” Sáng hôm sau ngài nhìn thấy một cậu con trai của
gia đình giống hệt thiếu niên trong giấc mộng. Rinpoche nói
với cha mẹ cậu rằng không còn nghi ngờ gì nữa, thiếu niên
này là một hiện thể linh thánh và cậu cần được đối
xử hết sức trân trọng và được đi vào cửa Pháp. Cha mẹ
cậu rất vui lòng và Rinpoche thụ phong cho cậu bé đồng thời
ban cho cậu những quán đảnh.
Trong
khi ở tại trụ sở của Jetsun Taranata, Gadon Puntso Ling ở Tsang
Lha Tser, Rinpoche đã ban cho tập hội vĩ đại các tu sĩ toàn
bộ những quán đảnh, giáo lý, và thẩm quyền tụng đọc
Kinh điển đối với Sáu Giáo lý của Niguma. Các tu sĩ dâng
lên ngài những vật cúng dường to lớn.
Khi
Rinpoche ở Lhasa, dường như Radreng Trichen và nhiều người
khác muốn thỉnh cầu ngài ban những giáo lý tâm linh sâu xa
nhưng Situ Rinpoche bảo tốt hơn ngài đừng nên ở đó. Theo
lời khuyên này, Rinpoche khởi hành cùng sứ giả của Situ Rinpoche
và trở về Kham.
Rinpoche
đã thực hiện một trăm triệu lần trì tụng thần chú Mahakala
Sáu-Tay. Và đồng thời, trên ba trăm ngàn lần trì tụng lời
nguyện “Thiện Hạnh Cao quý” đã được thực hiện, bao
gồm những câu do chính Rinpoche tụng và số lần trì tụng
do ngài bảo trợ với những vật cúng dường. Thật là những
công hạnh kỳ diệu!
Những
hiện thể linh thánh thành tựu việc làm lợi lạc cho Giáo
lý và chúng sinh bằng ba chu trình: chu trình đọc, nghe và suy
tưởng; chu trình hoàn toàn tập trung (thiền định); và chu
trình hoạt động. Một phần nhỏ những chu trình của Rinpoche
chúng ta đã giảng rõ ở đây. Vì vậy chúng ta biết rằng
những chứng ngộ và thấu suốt của ngài thì không thể nghĩ
bàn. Nhưng là một “yogi lặng lẽ”. ngài đã giữ bí mật
thiền định của ngài, và chúng ta không được thấy hay nghe
những bí mật này. Tuy nhiên chúng ta biết rằng ở đâu có
khói thì nơi đó có lửa, và ở đâu có hơi ẩm thì nơi đó
có nước.
Trong
một giấc mơ Rinpoche gặp Đức Phật và tám đệ tử thân
thiết của Ngài, và mơ thấy ngài dâng cúng Lời Cầu Nguyện
Bảy Chi. Một lần nữa trong một giấc mơ, bản thân Rinpoche
biến thành Urgyen Guru Rinpoche (Đức Liên Hoa Sanh), và từ mười
hai thiên nữ tsan-ma và những Dakini khác ngài đã nhận những
vật cúng dường âm nhạc là những bài ca ngọt ngào và những
lời cầu nguyện.
Trong
giấc mơ khác, ngài gặp Jamgong Kongtrul đời trước. Vị Thầy
này sử dụng chuông, trống, ban đầy đủ bốn quán đảnh,
và cuối cùng tan vào ánh sáng và thấm nhập vào Rinpoche. Trong
giấc mơ khác, ngài gặp Đức Tara Linh thánh và nghe nhiều
lời tiên tri từ vị này. Trong một trường hợp khác ngài
thấu hiểu giấc mơ và nhìn thấy một vũ điệu trong những
cõi trời và nghe bài ca này:
Sinh
trong miền Hor thượng,
Rồi
nhờ kinh nghiệm thiền định
Thành
tựu tiêu đích của Maha-Ati,
Cuối
cùng tại nơi viên tịch
Tạ
thế tại Samyes, Thị trấn Cát,
Sau
đó lại tái sinh
Giữa
Do-Kham và Kongbu,
Sinh
ra là con trai một người hành khất.
Làm
thuần thục và giải thoát nhiều chúng sinh.
Rồi
từ giã cõi đời đó
Sinh
trong một hoa sen
Trong
Cõi Tịnh Độ Tây phương,
Không
còn sinh trong Luân hồi Sinh tử.
Bởi
chu trình hoạt động của ngài, Rinpoche xây dựng lại thiền
đường cổ kính của Jamgon Kongtrul tại Pepung thành một công
trình kiến trúc hảo hạng, làm mới những vòm và màn trướng
thêu kim tuyến, những chiếc lọng và cờ chiến thắng. Ngài
bỏ rất nhiều tiền của vào quỹ để duy trì việc nhập
thất cho các tu sĩ. Để giúp Situ Rinpoche xây dựng một hình
tượng Đức Di Lặc và những hình ảnh khác cho ngôi chùa
của các ngài, Rinpoche đã du hành khắp xứ Hor để gây quỹ
và thực hiện những lễ cúng dường gấm thêu kim tuyến,
tiền và nhiều bao hạt.
Trong
khi ở Tây Tạng, dù ở đâu ngài cũng tạo lập hàng ngàn
viên đá mani, các chorten, tsa-tsa (2) và những bánh xe cầu nguyện
to lớn. Ngài không dính mắc vào của cải của riêng ngài.
Khi
nhiều người Tây Tạng trốn thoát sang Ấn Độ, ngài thiết
lập hai thiền đường ở Bhutan. Ngài đã thiết lập năm trung
tâm thiền định ở Ấn Độ. Sau đó tại Sonada ngài giảng
dạy ba cuộc nhập thất liên tiếp tại thiền đường của
ngài. Năm 1971, lần đầu tiên ngài tới Tây phương. Ngài đã
thiết lập Naro Ling và Nigu Ling tại Pháp và bắt đầu mở
ra cánh cửa dẫn tới sự thành tựu Mật thừa tại hải ngoại.
Ngài đã viếng thăm vài quốc gia ở Châu Âu kể cả Vatican,
nơi ngài được diện kiến Đức Giáo Hoàng John Paul I. Năm
1976, ngài thực hiện chuyến du hành thứ ba để xây dựng
và bắt đầu khóa nhập thất ba năm cho các đệ tử Tây phương
của ngài. Năm 1980 ngài trở lại Pháp để chấm dứt khóa
nhập thất và bắt đầu khóa thứ hai. Ngài cũng ban quán đảnh
Kalacakra tại Paris. Đây là lần đầu tiên quán đảnh này
được ban tại Châu Âu. Ngài đã du hành khắp thế giới,
mang Giáo lý của Đấng Chiến Thắng tới các quốc gia: Do
Thái, Thụy Sỹ, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Đức, Hòa Lan,
Bỉ, Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Canada, Hawaii, và những quốc gia ở
Viễn Đông bao gồm Miến Điện, Thái Lan, Hồng Kông, Đài
Loan, và Nhật Bản. Tại các nước Châu Âu, ngài đã thành
lập khoảng bảy mươi trung tâm Pháp và nhiều người có thiện
duyên đã nhận được từ ngài ba loại thọ giới (1) và Giáo
lý của Đức Phật.
Thị
tịch
Năm
1986, trong chuyến viếng thăm Tu viện Kagyu Thubten Choling ở
New York, Kalu Rinpoche loan báo rằng bởi tuổi đã cao, có lẽ
ngài không thể trở lại một lần nữa. Ngài mời mọi người
tới thăm ngài ở tu viện của ngài tại Sonada (Darjeeling, Ấn
Độ), nơi ngài cư ngụ. Tuy nhiên, mặc dù già yếu, Kalu Rinpoche
đã ban những giáo khóa và quán đảnh và làm lễ thọ giới
cho nhiều tăng ni. Ngài trở về Sonada sau khi thực hiện thêm
những Phật sự ở nhiều quốc gia. Vào ngày 10 Tháng Năm,
1989, Kalu Rinpoche thị tịch trong trạng thái thiền định sâu
xa.
Tái
sinh
Kalu
Rinpoche Tái sinh
Ngày
17 tháng Chín, 1990, giữa nhiều dấu hiệu tốt lành, Tulku (hóa
thân) của Kalu Rinpoche được sinh ra ở Ấn Độ, trong gia đình
của Lạt ma Gyaltsen và vợ là Drolkar.
Lạt
ma Gyaltsen là thị giả thân cận và là cháu của Kalu Rinpoche.
Ngài Chatral Rinpoche của phái Nyingma là người đầu tiên thừa
nhận năng lực của đứa trẻ và tin rằng cậu là tái sinh
của Kalu Rinpoche.
Tai
Situ Rinpoche chính thức thừa nhận yangsi (tái sinh trẻ) của
Kalu Rinpoche vào ngày 25 tháng Ba, 1992, giải thích rằng ngài
đã nhận được những dấu hiệu rõ ràng từ chính Kalu Rinpoche.
Situ Rinpoche đã gởi một lá thư xác nhận cùng với Lạt ma
Gyaltsen tới Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Bốn và Ngài
đã lập tức thừa nhận. Nhiều người đã nhìn thấy những
vòm cầu vồng phía trên tu viện của Kalu Rinpoche tại Sonada
(Ấn Độ) vào lúc vị Tulku ra đời. Họ thuật lại rằng
những cầu vồng ấy giống hệt cầu vồng đã xuất hiện
trên tu viện sau khi Kalu Rinpoche thị tịch.
Như
Bokar Rinpoche nói, việc Kalu Rinpoche chọn lựa để tái sinh
tại trụ xứ trong đời trước của ngài – Tu viện Samdrup
Tarjayling – là một dấu hiệu cho thấy tâm hoàn toàn tự
tại của ngài. Bởi lòng đại bi và thiện tâm, ngài đã tái
sinh để đáp lại những lời khẩn cầu của các đệ tử.
Kalu
Rinpoche Tái sinh đã đăng quang tại Tu viện Samdrup Tarjayling
ngày 28 Tháng Hai, 1993. Situ Rinpoche đã cử hành lễ xuống tóc
và ban cho vị Tulku trẻ Pháp danh Karma Ngedon Tenpay Gyaltsen –
Cờ Chiến Thắng của Giáo lý Chân Nghĩa. Sau đó, Đức Đạt
lai Lạt ma đã viếng thăm tu viện và ban phước (gia trì) cho
vị Tulku.
Hãy
Nương tựa Đạo sư
Lạt
ma Dezhung Rinpoche nói: “Chúng ta nên phát triển lòng sùng mộ
kiên cố nơi Bồ Đề tâm và những công hạnh siêu việt của
vị đại Bồ Tát này. Bất kỳ ai có thiện nghiệp và may
mắn có được những cảm xúc tốt lành đối với Thánh Pháp
nên nhận những giới luật và ba loại thọ giới (1) từ Lạt
ma tôn quý này, và sau đó hãy hiến dâng đời mình cho sự
thành tựu giác ngộ. Hay điều tốt lành thứ hai là thực
hiện khóa nhập thất ba năm. Hoặc kế đó là thực hiện
nhập thất vài năm hay vài tháng để đạt được kinh nghiệm
về Pháp. Hay kế tiếp nữa, ít nhất hãy quy y và thọ các
giới luật và quán đảnh của Đấng Bi mẫn Vĩ đại (Đức
Avalokiteshvara, Quán Thế Âm). Nếu thậm chí ta chỉ thực hành
thiền định của Đấng Bi mẫn Vĩ đại một lần duy nhất,
cuộc đời của ta sẽ có một vài ý nghĩa, và ta sẽ thực
sự tự hoàn thành một thiện tâm vĩ đại. Vì thế, xin lưu
giữ điều này trong tâm khảm. May mắn! Hạnh phúc!”
Chú
thích:
(1)
Ba loại thọ giới: Ba loại thọ giới được liên kết với
ba cách tiếp cận việc thực hành Pháp và ba giai đoạn trong
việc làm thuần thục tâm linh của một cá nhân (tức ba thừa:
Tiểu thừa, Đại thừa và Kim cương thừa). Ba loại thọ giới
là: thọ giới giải thoát cá nhân (Biệt giải thoát), thọ
Bồ tát giới, và thọ những giới nguyện của Trì minh vương.
(2)
Chorten: hay stupa (tháp).
Tsa
tsa: những hình tượng linh thiêng do các Phật tử Tây Tạng
làm ra như một phần của việc thực hành thiền định. Việc
tạo lập, cúng dường và bảo trợ các tsa tsa là một phương
tiện hữu hiệu để xua tan những chướng ngại cho việc thực
hành và hạnh phúc của hành giả.
Thanh
Liên biên dịch từ các tài liệu:
-
“The Chariot for Travelling the Path To Freedom – The Life Story of
Kalu Rinpoche”
Published
by Kagyu Dharma, Translation, commentary and appendices by Kenneth I. McLeod
-
“The Biography of [the Late] Ven. Kalu Rinpoche”
http://quietmountain.org/links/teachings/late_kalu_rin_bio.htm
-
“His Eminence Kalu Rinpoche History”
http://www.paldenshangpa.org/kalu_rinpoche.html
-
“Kyabje Dorje Chang Kalu Rinpoche”
http://www.kdk-nyc.org/hh-kalu-rinpoche
-
“The Lord of Refuge – Dorje chang Kalu Rinpoche”
http://www.simhas.org/kalu.html
05-04-2008
03:26:49