11
Karmapa
Yeshe Dorje
(1676-1702)
Vị
Karmapa thứ mười một, YESHE DORJE, sanh tại Mar Kham năm con
Rồng Hỏa (1676). Đứa bé có nhiều linh kiến mà nó thích
kể cho các người thân nghe, làm cho họ vui thích. Sự vui thích
này dần dà chuyển ra hoảng sợ khi họ hiểu ra tính cách
trang nghiêm của các câu chuyện này và tính tâm linh của đứa
bé.
Vị
Terton nổi tiếng Minjur Dorje là thầy của cả hai phái Kagyu
và Nyingma nhận đứa bé như là hậu thân của Karmapa. Tin tức
lan truyền và Shamar Rinpoche và Gyaltshap Rinpoche gởi các đại
diện đến, họ xác nhận các chi tiết về sự sanh của em
bé trùng hợp với các lời báo trước trong các lá thư để
lại. Ở Dechen Yangbachen, ngôi chùa của Shamar Rinpoche, vị Karmapa
mới được đón tiếp trọng thể. Thế rồi ngài được đưa
đến Tsurphu, ở đó ngài lên ngôi dưới sự làm lễ của
Shamar Yeshe Nyingpo.
Sau
khi thọ giới cư sĩ(1) từ Shamar Rinpoche, Yeshe Dorje bắt đầu
việc học. Các vị thầy đỡ đầu gồm có Shamar Rinpoche,
Gyaltshap Rinpoche và Karma Thinleypa thứ ba. Yeshe Dorje thọ nhận
toàn bộ sự trao truyền của truyền thống Kagyupa. Trong thời
gian này ngài được đặt pháp danh là Yeshe Dorje bởi Terton
Minjur Dorje, vị này kể lại lời tiên đoán của Padmasambhava
về vị Karmapa thứ mười một.
Khi
Shamar Yeshe Nyingpo tịch, vị Karmapa nhỏ tuổi đến học với
Terton Minjur Dorje và Taksham Nuden Dorje, một vị Terton phái Nyingma.
Hai vị thiền sư này dạy Yeshe Dorje những “bản văn kho tàng”
của họ.
Năm
con Chó Thủy, khi Yeshe Dorje còn nhỏ vị Đạt Lai Lạt Ma thứ
năm tịch. Quyền hành được Desi Sangye Gyaltsho nhiếp chính
của Đạt Lai Lạt Ma đảm đương, vị này tiếp tục chính
sách hòa giải. Một trong những khuôn mặt có ảnh hưởng
nhất trong sự giao dịch giữa hai phái Gelugpa và Karma Kagyupa
trong thời gian này là Tewo Rinpoche, Karma Tendzin Thargye, người
phụng sự cho Đạt Lai Lạt Ma thứ năm và là một trong các
đệ tử chính của Karmapa Yeshe Dorje.
Năm
con Heo Mộc, Yeshe Dorje có một thị kiến chỉ rằng Shamar Rinpoche
thứ tám đã sanh tại Nepal gần ngọn núi Jomo Gangkar. Các đại
diện của ngài tìm ra chỗ em bé và gởi em về Tsurphu. Đoàn
đi qua Lhasa với sự cho phép của Desi Sangye Gyaltsho. Sau khi
về đến Tsurphu, đứa bé được làm lễ lên ngôi bởi Karmapa
và nhận vương miện màu đỏ của dòng Shamarpa. Sau đó, Yeshe
Dorje nhận ra các hậu thân mới của Situ và Pawo Rinpoche, theo
thứ tự, là Tenpi Nyinche và Chokyi Dondrup.
Tính
tâm linh hoàn hảo của Yeshe Dorje biểu lộ ra trong cả hai việc
dạy và hoạt động siêu phàm của mình. Trong một dịp Karmapa
biểu lộ quyền năng giáo hóa bằng cách hóa ra nhiều thân,
mỗi một thân chỉ dạy cho các người đang có mặt.
Vị
Karmapa thứ mười một là vị sống ngắn ngủi nhất trong
các hóa thân của Karmapa. Năm 1702, ngài trao truyền một bức
thơ chứa đựng lời báo trước về sự tái sanh sắp tới
cho Shamar Rinpoche, người mà ngài chỉ định là nhiếp chính.
Sau đó không lâu Yeshe Dorje ra đi ở tuổi hai mươi sáu. Trong
thời gian cái chết của ngài, nhiều đệ tử thấy hình ngài
xuất hiện trước mặt trời, cùng với hình của hai vị guru
khác. Xá Lợi ngài được thờ trong một cái tháp để ở
chùa Tsurphu.
Các
đệ tử chính của ngài là Shamar thứ tám Palchen Chokyi Dondrup,
Tewo Rinpoche và Karma Tendzin Thargye.
12
Karmapa
Changchub Dorje
(1703-1732)
Karmapa
thứ mười hai, CHANGCHUB DORJE, sanh ra ở vùng Dege xứ Kham năm
con Cừu Thủy (1703). Phù hợp với lá thư báo trước, chỗ
sanh của ngài bên cạnh Sông Vàng (Yangtse). Trước khi Ngài
sanh ra không lâu, cha ngài là sở hữu chủ một lò làm gốm,
được Terton Minjur Dorje báo rằng có một sự kiện tốt lành
sắp xảy ra trong gia đình ông. Gia đình ngài là hậu duệ
của Vua Trisong Detsun.
Khi
hai tháng tuổi, Changchub Dorje thốt ra : “Tôi là Karmapa.”
Tin tức về chuyện này và sự tin chắc của Minjur Dorje rằng
đứa bé là hậu thân của Karmapa mới khiến Shamar thứ tám
gởi một phái đoàn tìm kiếm để xét nghiệm đứa bé. Đoàn
được đưa đến nhà em do chính Terton Minjur Dorjer hướng dẫn.
Changchub Dorje làm hài lòng các đại diện. Sau đó, em bé được
đặt pháp danh là Changchub Dorje bởi Shamar Rinpoche. Thưở nhỏ,
ngài đã được chỉ dạy bởi vài thiền sư và học giả
có tiếng, như Situ Chokyi Jungnay, Tsuglak Tenpi Nyingje và Nyenpa
Tulku. Năm lên bảy, ngài đến Karma Gon. Sau đó, ngài đến
Kampo Gangra, ở đó ngài hành thiền mãnh liệt. Từ đó, ngài
đi đến tỉnh Nangchen.
Trên
đường đi đến Tsurphu, vị Karmapa nhỏ tuổi hành hương đến
các hang động ở Baram, nơi Baram Darma Wang-chuk đã ẩn tu. Barampa
là một đệ tử thân thiết của Gampopa và đã lập nên phái
Baram Kagyu.
Cuối
cùng, đoàn của ngài đến Tsurphu, ở đây ngài tiếp tục
việc học. Tính chất tâm linh bẩm sinh của ngài biểu lộ
trong các giấc mơ. Ngài có một sự thân quen với giáo huấn
Kalacakra Tantra và một đêm, ngài mơ thấy mình đến Sham-blaha,
ở đó ngài nhận sự truyền pháp và kinh điển Kalacakra từ
Vua Rigden của Shamblaha, vị thống lĩnh của dòng giáo pháp
Kalacakra.
Thời
gian cuộc đời của Karmapa thứ mười hai lại là một giai
đoạn rối ren. Người Mông Cổ Dzungarian tấn công miền trung
Tây Tạng, giết chết Lapzang Khan, Minling Lotsawa Dharma Sri, Padma
Gyurme Gyaltsho và nhiều vị thầy vĩ đại khác của phái Nyingma.
Trong bốn năm xung đột, nhiều tự viện bị phá hủy, gồm
cả Mindroling và Dorje Drag. Thánh tích và kho tàng bị cướp
đi và lối vào các hang động của Padmasambhava bị bít kín.
Khi
Đạt Lai Lạt Ma thứ bảy, Kalzang Gyaltsho từ Kham trở về,
các người xâm lăng rút lui. Changchub Dorje đến viếng Kalzang
Gyaltsho, cúng dường ngài nhiều phẩm vật và nhận được
sự ban phước của ngài.
Khi
Karmapa trở về Tsurphu, ngài được Katok Tsewang Norbu thăm viếng,
và trao truyền cho ông Sáu Yoga của Naropa và Đại Ấn. Vị
Lạt ma này là một thiền sư nổi tiếng và là Terton của
dòng Katok Nyingma. Đáp lại, ông cũng dạy cho ngài giáo lý
Nyingma.
Karmapa
lên đường hành hương các thánh địa của Nepal. Trong đoàn
của ngài có Shamar Rinpoche, Situ Rinpoche và Gyaltshap Rinpoche thứ
bảy. Đoàn được tiếp đón ở Kathmandu bởi vua Jagajayamalla.
Trong thời gian ở Nepal, ngài viếng thăm Yanglayshod, nơi Guru
Padmasambhava thành tựu thiền định về Vajrakilaya để hủy
diệt mọi chướng ngại cho hoạt động Từ Bi của mình. Ở
đây, Karmapa và đoàn cử hành các thực hành tâm linh về Padmasambhava
trong hình dáng hung nộ, và như thế, làm mới các mối liên
kết với vị Guru “Liên Hoa Sanh.”
Một
dịch cúm bùng nổ ở Kathmandu và ngài được yêu cầu giúp
đỡ. Trước tiên, ngài đề khởi sự thực hành về Quán
Thế Âm, và sau khi làm trong sạch hóa một lượng nước với
tâm Đại Bi của đức Quán Âm, ngài cùng các Lạt ma khác
trong đoàn, ban phước cho vùng đất trong lễ tẩy tịnh bằng
nước. Nạn dịch được chấm dứt và nhà vua làm một lễ
hội tuyên dương ngài. Sau đó, ngài cùng với Shamarpa và Situ
Rinpoche du hành đến Kusinagara miền bắc Ấn, nơi đức Phật
Thích Ca nhập Niết Bàn. Suốt chuyến đi, tài năng học giả
biện luận của Situ Rinpoche gây ấn tượng mạnh mẽ với
các pháp sư Ấn Độ đến thăm viếng và tranh biện với ông.
Nhiều vị trở thành đệ tử của ông, đó là kết quả của
sự thành thạo về triết học và ngôn ngữ của ông.
Trên
đường trở về Tây Tạng, Karmapa và đoàn của ngài thăm
một cái động gần núi Jomo Gangkar, nơi Lesom Gendun Bum, nữ
đệ tử chánh của Milarepa, đã nỗ lực hành thiền. Rồi
đoàn thăm núi Kailasa, nơi nổi danh là một cảnh quan tâm linh
của Cakrasamvara. Lúc này Changchub Dorje nhận một lời mời
thăm Trung Hoa từ nhà Vua Jung Ching. Ngài quyết định nhận
lời và cùng với Shamarpa, Situpa và Gyaltshapa đi dần về Tsurphu.
Đến
Tsurphu, Karmapa không lên đường qua Trung Hoa ngay. Ngài đi ẩn
tu và rồi viếng thăm Lhasa và du hành đến nam Tây Tạng, chỉ
dạy cho nhiều người. Ngài gặp Surmang Trungpa Rinpoche, trao
truyền Đại Ấn và Sáu Yoga của Naropa.
Karmapa
trao quyền cho Situ Chokyi Jungnay coi sóc phái Karma Kagyu trong thời
gian thăm Trung Hoa. Situ Rinpoche yêu cầu ngài hoàn tất mọi
văn bản mà Karmapa và Shamarpa đã khởi công. Năm 1725, sau khi
ban cho Situpa vài cuộc truyền pháp, ngài và Shamar Rinpoche lên
đường đi Trung Hoa. Khi đoàn đến tỉnh Amdo, Karmapa cử hành
một buổi lễ đặc biệt cho hòa bình thế giới. Sau này,
ngài tiến hành một buổi lễ khác ở hồ Kokonor.
Khi
đến Trung Hoa, Karmapa ban cho sự chỉ dạy và các buổi truyền
pháp, đặc biệt là pháp Vajrapani, hiện thân của năng lực
Phật tánh. Ngài gặp gỡ với các nhà cầm quyền của các
lãnh thổ ngài đi qua và thảo luận Phật pháp với họ. Cuối
cùng đoàn đến Lan Chu năm 1732, nơi đây ngài thăm chùa Tara
và Quán Thế Âm, cũng như các chùa Lão giáo. Khi ở Lan Chu,
ngài mắc bệnh đậu mùa. Ngài gởi một lá thơ báo các chi
tiết của lần tái sanh tới cho Situ Rinpoche. Ngày 30 tháng 10
năm con Chuột Thủy (1732) ngài ra đi.
Các
đệ tử chính là Situ Chokyi Jungnay, Pawo Tsuglak Dondrup và hậu
thân của ông này là Drukchen Kagyu Thinley Zingta.
13
Karmapa
Dudul Dorje
(1733-1797)
Vị
Karmapa thứ mười ba, DUDUL DORJE, sanh ở Chaba Drony, một ngôi
làng cách Lhasa bốn ngày đường, vào tháng 8 năm con Bò Thủy
(1733). Ngay sau việc này, Lạt ma Katok Tsewang Norbu có một linh
kiến, trong đó ngài thấy chính xác nơi sanh của Karmapa.
Đứa
bé có một dấu hiệu chữ A trên lưỡi, và khi lớn lên, em
biểu lộ tính chất tâm linh bẩm sinh. Người ta nói vị Karmapa
nhỏ tuổi có thể nhớ lại các biến cố từ những đời
trước. Còn rất nhỏ, trong một lần, Dudul Dorje có một thị
kiến đầy ý nghĩa về hộ pháp Kim Cương áo-choàng-đen, trong
vóc dáng một đứa trẻ mặc áo lụa trắng và bưng một cái
khay pha lê đầy hoa. Dudul Dorje hỏi : “Ngươi là ai ?” Tức
thời, vị hộ pháp hiện nguyên hình hung nộ đáng sợ và
nói : “Tôi là Kim-Cương-mặc-áo-choàng-đen vinh quang và sư
tử hống. Tôi hiện hình dáng hung nộ từ không gian của trí
huệ ba la mật. Tôi thi hành bốn hoạt động là làm bình an,
làm cho giàu có, làm cho viên mãn và hủy diệt.(1) Đây là
cái nhìn rốt ráo.” Theo cách ấy, vị hộ pháp chỉ ra Giáo
huấn Đại Ấn rằng không có gì lìa khỏi tâm. Thế rồi
thị kiến ấy tan mất trong không gian. Sức mạnh của kinh
nghiệm này mạnh đến nỗi nó truyền thông cho mọi người
xung quanh Dudul Dorje.
Năm
lên bốn tuổi, danh tiếng của em bé đã lan rộng và xa. Gyaltshap
Rinpoche gởi một đoàn tìm kiếm đến chỗ đứa bé và đem
em về Tsurphu. Ở đây Gyaltshapa chính thức công nhận và làm
lễ đăng quang như là Karmapa thứ mười ba. Trong buổi lễ
tổ chức tỉ mỉ này, Dudul Dorje nhận chiếc vương miện đen.
Đạt Lai Lạt Ma thứ bảy, Kalzang Gyaltsho và thủ tướng của
ngài, Pholha Sonam Thobjay, gởi sự chào mừng đến vị Karmapa
mới.
Sau
khi lên ngôi không lâu, Dudul Dorje được vị Situ thứ tám rất
uyên bác, là Chokyi Jungnay viếng thăm ở Tsurphu. Situpa vui mừng
được thấy hậu thân của Changchub Dorje, người cha tinh thần
của ngài, và trao truyền cho đứa trẻ một loạt giáo huấn
của phái Karma Kagyu. Năm mười bốn tuổi, Dudul Dorje thọ giới
Sa di với Situ Rinpoche ở Tsurphu. Buổi lễ diễn ra trước bức
tượng Phật nổi tiếng do Karma Pakshi tạo ra.
Sự
học tập của vị Karmapa thứ mười ba tiếp tục sau khi thọ
giới và chủ yếu là theo truyền thống Kagyu và Nyingma. Ngài
nhận các sự truyền pháp về Kalacakra Tantra cùng với các
giáo huấn về Tantra này. Sự nghiên cứu và thực hành của
ngài cũng gồm các giáo huấn của Dusum Khyenpa và giáo huấn
sáu bộ sách được Rigdzin Jatson Nyingpo soạn ra. Vị này là
Terton nổi tiếng của phái Nyingma và là học trò của Karmapa
thứ mười, người đưa vào giáo pháp giáo trình Konchog Chidu.(2)
Thêm vào đó, Dudul Dorje thông thạo Hevajra Tantra, Đại dương
của Dakini, triết lý Trung Quán, A Tỳ Đạt Ma, Luật và Kinh.
Bằng cách ấy, ngài đã lãnh thọ các dòng quan trọng nhất
về tu tập thịnh hành trong thời ngài.
Năm
ba mươi mốt tuổi Karmapa thứ mười ba thọ Tỳ Kheo giới
với Situ Rinpoche. Sau đó, ngài hoàn thiện việc tu hành Sáu
Yoga của Naropa và Đại Ấn và nhận sự trao truyền toàn bộ
dòng phái từ Situ Rinpoche. Dudul Dorje hòa hợp cả hai lối sống
học giả và thiền giả “vừa trí huệ-vừa điên rồ,”
và ngài hiện thân cho tính tự nhiên bi mẫn của sức mạnh
giác ngộ. Tình thương đối với loài vật của ngài trở
thành huyền thoại. Người ta nói rằng ngài truyền thông pháp
yếu cho chim chóc, chuột, mèo, thỏ và ong. Mỗi ngày ngài để
nhiều thì giờ với tạo vật, chúng tụ tập bên ngài, cũng
như với các đệ tử người của ngài.
Dudul
Dorje là chủ đề của một trong những lời tiên tri của Padmasambhava.
Một lần, Lhasa bị đe doạ bởi nước lũ của con sông Tsangpo
hay Chichu, sông Hạnh Phúc, được biết ở Ấn Độ là sông
Brahmaputra. Trong sách tiên tri của Padma-sambhava có nói rằng
nếu Lhasa bị lũ lụt đe dọa, thì nên yêu cầu sự ban phước
của Karmapa. Theo điều ấy, nhà cầm quyền thủ đô yêu cầu
ngài đến càng sớm càng tốt. Dudul Dorje đến Lhasa và làm
khỏi hiểm nguy bằng cách cầu Quán Thế Âm và đức Thích
Ca.
Năm
1772, Karmapa du hành đến Dege để gặp Situ Rinpoche nay đã già.
Ngài du hành qua xứ Kham, chỉ dạy và ban phước. Ngài gặp
Shamar Rinpoche thứ mười là Mipham Chodrup Gyaltsho. Ở Danang xứ
Kham, Karmapa cử hành một buổi lễ đặc biệt cho chùa Karma.
Buổi lễ được đỡ đầu bởi gia đình quý tộc Danang, họ
cúng dường Dudul Dorje một bình bằng vàng và bạc. Khi ở
lại đây, Karmapa nói với gia đình rằng ngài sẽ trở lại
với họ trong tương lai : “Chúng ta sẽ gặp lại rất sớm.
Khi điều đó xảy ra các bạn sẽ hiểu nó trong mọi chi tiết.
Hãy nhớ điều đó.”
Dudul
Dorje sống một lối sống giản dị và đóng góp tài sản
mình cho những dự án tôn giáo và những người nghèo. Ngài
trợ cấp cho sự xây dựng nhiều trung tâm giáo pháp cũng như
in ấn kinh điển.
Trong
những năm về sau, một sự hiển thị nổi tiếng về năng
lực mầu nhiệm của Karmapa xảy ra. Các sứ giả từ Powo Gyaldzong
ở đông nam Tây Tạng đến Tsurphu và mời ngài ban phước
cho tu viện của họ. Ngài không thể đi, nhưng vào ngày đã
định ngài ban phước trong khi vẫn ở Tsurphu. Đồng lúc ấy,
đám đông tụ hội ở Powo Gyaldzong chứng kiến một trận
mưa lúa mạch từ trên trời.
Năm
1774, Karmapa có một thị kiến chỉ nơi chốn của hậu thân
vị Situ mới sanh ra. Ngài gởi một phái đoàn đến nơi ấy
và tìm ra đứa bé. Sau đó, ngài chính thức công nhận và
làm lễ lên ngôi cho vị Situ mới, Padma Nyingche Wangpo.
Năm
1797, lúc sáu mươi tư tuổi, trao lá thư tái sanh cho Situ Rinpoche,
ngài ra đi. Xá lợi ngài được thờ trong một lầu tháp bằng
bạc tại Tsurphu. Chư tăng cũng tạc một tượng bạc của
ngài.
Những
đệ tử chính của ngài là Situ Padma Nyingche Wangpo, Drukchen
Kunzig Chokyi Nangwa, Pawo Tsuglak Chogyal, hoàng tử Ladakhi, Hemi Gyalsay,
Khamtrul Jigme Senge và Sangye Nyenpa Tulku.
14
Karmapa
Thegchog Dorje
(1798-1868)
Karmapa
thứ mười bốn, THEGCHOG DORJE, sanh ra ở Salmo Gang xứ Kham,
làng của gia đình Danang, năm con Rắn Hỏa (1798). Khi còn mang
thai mẹ ngài có những giấc mơ báo điềm lành, dấu hiệu
một guru tái sanh sắp ra đời. Trong ngày ngài sanh ra, các cầu
vồng xuất hiện và hoa nở rộ, dầu đang cuối đông. Em bé
mới sanh đã lẩm nhẩm các chữ Sanskrit.
Tin
tức về con người dị thường này nhanh chóng lan truyền và
một đoàn tìm kiếm được Drukchen Chokyi Nangwa gởi đi tìm
hậu thân của Guru của ngài. Đoàn này đến Salmo Gang, gặp
hai đoàn khác từ Situ Rinpoche và Gyaltshap Rinpoche. Họ cùng
đưa em bé đến tu viện Ogmin, ở đây họ xác định rằng
các chi tiết sanh ra của em bé phù hợp với bức thư báo trước
của Karmapa. Vị Situ thứ chín là Padma Nyinche Wangpo chính thức
công nhận Thegchog Dorje là vị Karmapa mới. Ngài cũng thọ giới
Sa di cho em. Vài năm sau đó ở Ogmin Ling, Thegchog Dorje học giáo
pháp Kagyu và Nyingma.
Sau
khi lên ngôi và nhận vương miện Kim Cương, Karmapa thứ mười
bốn đến Tsurphu, nơi đây ngài tiếp tục học. Đến năm
mười chín tuổi, ngài được chính thức làm tăng bởi Situ
Rinpoche và Drukchen Chokyi Nangwa. Trong thời gian này, ngài trùng
tu ngôi tự viện và nhiều tháp và chùa quanh vùng. Thegchog
Dorje rất thiện xảo trong nhiều ngành nghệ thuật và thủ
công, gồm cả điêu khắc và đúc kim loại.
Karmapa
thứ mười bốn là một học giả và nhà ngôn ngữ hoàn thiện.
Ngài để nhiều thì giờ cho thơ ca và đặc biệt thiện nghệ
trong tu từ học và thơ. Trong đời ngài xảy ra sự phục hưng
mạnh mẽ Phật giáo ở Tây Tạng, phần lớn nhờ vào cuộc
vận động Rime. Cuộc vận động này bắt nguồn từ xứ Kham,
được chỉ huy từ nhiều bậc thầy từ nhiều truyền thống
khác nhau như Jamgon Kontrul Lodro Thaye, Khyentse Wangpo và Terton
Chogyur Lingpa. Phong trào này không nhằm tạo nên một trường
phái hay tổ chức mới, mà tìm cách phát triển cùng nhau và
làm thông dụng sự phong phú của mỗi truyền thống đến
với mọi người. Những người trong phong trào không chỉ là
học giả và thiền giả, mà còn có các nghệ sĩ tài ba, thi
sĩ, y sĩ và cả nhà khoa học như Mipham Rinpoche.
Thegchog
Dorje vừa ảnh hưởng vừa chịu ảnh hưởng bởi khuynh hướng
này. Ngài trao truyền các giáo huấn của phái mình cho Jamgon
Kongtrul và Jamyang Khyentse Wangpo và vài giáo huấn đặc biệt
cho vị trước. Từ vị Terton vĩ đại Chogyur Lingpa, ngài nhận
pháp môn Vajrakilaya. Sau đó, ngài thiết lập sự hành lễ này
hàng năm, luân phiên với điệu múa nghi lễ Tsechu của Padmasambhava,
ở Tsurphu.
Karmapa
thứ mười bốn nổi tiếng về sự khổ hạnh cá nhân và
sự nghiêm cẩn của một vị tăng. Dầu ngài là hiện thân
của Đại Bi, ngài cũng yêu cầu sự nghiêm trì trọn vẹn
giới luật nơi những người sống quanh ngài.
Năm
1860, Karmapa đi xuyên qua xứ Kham, làm việc liên tục cho lợi
lạc của dân chúng. Ngài nhận ra và đưa lên ngôi vị Situ
thứ mười là Padma Kunzang ở tu viện Palpung. Trong khi ở đó,
ngài trao truyền giáo huấn cho Kongtrul Lodro Thaye, nhà học giả
Rime uyên bác. Sau khi guru của mình trở về Tsurphu, Kongtrul
Lodro Thaye tiếp tục học hỏi với ngài. Không lâu trước
cái chết của ngài, Kongtrul Lodro Thaye nhận sự truyền dòng
từ Karmapa.
Thegchog
Dorje ra đi năm 1868 vào tuổi bảy mươi. Các đệ tử chánh
của ngài là Kongtrul Lodro Thaye, Drukchen Mipham Chokyi Gyaltsho,
Dechen Chogyur Lingpa, Pawo Tsuglak Nyingche và Jamyang Khyentse Wangpo.
15
Karmapa
Khakhyab Dorje
(1871-1922)
Karmapa
thứ mười lăm, KHAKHYAB DORJE, sanh ra ở Shelkar tỉnh Tsang năm
con Cừu Kim (1871). Em bé có một sợi lông trắng mọc giữa
hai chân mày, giống như sợi lông của đức Thích Ca khi sanh
ra. Khakhyab Dorje tỏ ra rất thông minh và khi lên bốn tuổi,
em đã làm các bài kệ tụng.
Năm
lên sáu, đứa bé được công nhận là hậu thân của Karmapa,
phù hợp với các chi tiết trong lá thư báo trước của Karmapa
thứ mười bốn. Em được chính thức công nhận bởi Kongtrul
Lodro Thaye, Jamyang Khyentse và Drukchen Minjur Wangkyi Gyalpo và được
đội vương miện trong một lễ “lên ngai vàng” ở Tsurphu.
Ngài cũng được Drukchen Rinpoche cho thí phát tập sự tu.
Khakhyab
Dorje là một học trò cần mẫn. Ngay khi còn rất nhỏ, ngài
đã được dạy Căn bản Đại thừa, luận lý, chiêm tinh.
Năm lên tám, ngài dựng một bàn thờ Mahakala và làm một bài
tụng cầu nguyện vị hộ pháp.
Năm
1881, Karmapa và các vị thân cận thăm viếng Đạt Lai Lạt
Ma thứ mười ba Thubten Gyaltsho và triều đình của ngài. Trở
về Tsurphu, ngài bắt đầu học với vị trụ trì đại học
giả chùa Palpung là Khanchen Tashi Ozer, từ vị này ngài nhận
sự truyền thọ toàn bộ Tam tạng. Ngài cùng học với Pawo
Rinpoche thứ chín, vị này dạy ngài sáu bộ sách Terma của
Rigdzin Jatson Nyingpo.
Năm
1886, Khakhyab Dorje đến diện kiến Kongtrul Rinpoche ở chùa Palpung.
Vị học giả cao tuổi ban cho ngài các lễ truyền pháp và
kinh điển về “Năm kho tàng giáo pháp” do chính mình trước
tác. Bộ này chứa đựng trên một trăm bộ sách, ghi chú và
giải thích bởi Kongtrul Lodro Thaye. Nó trình bày lý thuyết
và thực hành các truyền thống lớn và nhỏ từ tổng quan
Rime và có một ảnh hưởng sâu rộng đến sự truyền bá
chánh pháp. Kongtrul Rinpoche cũng trao truyền cho Kha-khyab Dorje
Bồ tát nguyện và các lễ thọ pháp và giáo huấn về Kalacakra.
Từ
Palpung, Karmapa và đoàn du hành đến Dzongsar, một ngôi chùa
lớn của phái Sakya, nơi đây ngài thọ nhận giáo huấn của
Jamyang Khyentse Rinpoche. Thời gian này trí nhớ về các đời
quá khứ lại thức dậy trong ngài, và ngài làm các bài thơ
nói về sự tu hành của một vị Bồ tát. Khoảng sau đó,
ngài viếng bản doanh nổi tiếng của phái Drukpa Kagyu ở Sang
Ngag Choling. Ngài công nhận hậu thân mới của Drukchen và ban
cho Năm giới.
Năm
1888, Khakhyab Dorje trở lại học với Kongtrul Rinpoche. Nội dung
sự học của ngài gồm Sanskrit, chiêm tinh, y học, nghệ thuật,
Trung
Quán luận, Bát nhã ba la mật, Luật tạng, A tỳ đạt ma và
Năm pháp của Maitreya. Sau đó, ngài thăm lại tu viện Dzongsar,
ở đây ngài nhận các lễ thọ pháp về “các Sadhana được
kết tập” của truyền thống Sakya từ Khyentse Rinpoche. Sau
khi trở về Palpung, Kongtrul Rinpoche ban cho ngài các giáo huấn
truyền thống Shanpa Kagyu. Suốt thời gian này, ngài nghiên cứu
suốt ngày đến đêm.
Năm
1890, Karmapa công nhận và đưa lên ngôi vị Situ Rinpoche thứ
bảy là Padma Wangchuk Gyalpo. Ngài cũng lại viếng Sang Ngag Choling,
Lhasa và Samye và nơi hành hương xứ Tsari ở đó ngài khám
phá ra vài kho tàng văn bản và được bảo vệ bởi các daka
và dakini.
Khi
trở lại Tsurphu, ngài lập ra một khóa học mới và trùng
tu chánh điện. Ngài cũng dựng một chùa mới ở Lhasa để
thờ “Năm sư tỷ của sự trường thọ”.(1) Chùa này được
sự hồi hướng cho sự an bình và thịnh vượng của Tây Tạng
và toàn thể thế giới, theo yêu cầu của Đức Đạt Lai Lạt
Ma.
Sau
đó không lâu, Karmapa trở về với vị guru của mình là Kongtrul
Rinpoche, ở chùa Palpung và nhận được các lễ truyền pháp,
giáo huấn và kinh điển về giáo trình của Lạt ma Gongdu.
Trở lại Tsurphu, Khakhyab Dorje vẽ các mẫu trang hoàng và trang
phục cho các lễ múa Hộ pháp Kim Cương-áo-choàng-đen. Ngài
cũng ủy nhiệm cho “Kho tàng Pháp bảo” gồm sáu mươi ba
bộ của Kongtrul Rinpoche và tác phẩm của chính ngài, các tụ
góp toàn bộ độc nhất về công trình của các học giả
Kagyu được phát hành ra ngoài xứ Tây Tạng.
16
Karmapa
Rangjung Rigpe Dorje
(1923-)
Karmapa
thứ mười sáu, RANGJUNG RIGPE DORJE, sanh tại Denkhok vùng Dege
xứ Kham gần sông Yangtse ngày trăng tròn tháng 6 năm con Chuột
Mộc (1923). Ngài sanh trong một gia đình quý tộc họ Athub.
Tên cha ngài là Tsewang Norbu và tên mẹ là Kakzang Choden. Sự
sanh của vị đại Bồ tát trong gia đình Athub đã được tiên
tri trước bởi Dzok Chen Tulku là Chokyi Dorje, trụ trì chùa Dzok
Chen nổi tiếng của phái Nyingma. Theo lời khuyên của vị này,
bà mẹ sanh đứa bé gần hang động của Padmasambhava, gọi
là lâu đài Trời Sư Tử.
Trước
khi được sanh ra, đứa bé hoàn toàn biến mất trong một ngày
tròn và rồi trở lại vào ngày hôm sau. Vào đêm ngài sanh
ra, bầu không khí đầy những điềm lành, mà bất kỳ ai ở
địa phương cũng cảm thấy.
Sau
đó không lâu, Situ Padma Wangchuk Gyalpo mở bức thư báo trước
của Karmapa, và tìm thấy trong đó một diễn tả chi tiết
về ngôi nhà nơi cha mẹ Rangjung Rigpe Dorje ở. Một đoàn tìm
kiếm được gởi đến và đứa bé được nhanh chóng công
nhận là hậu thân vị Karmapa mười sáu.
Khi
ngài bảy tuổi, ngài được Situ Rinpoche và Jamgon Kontrul ở
Palpung thọ giới Sa di. Năm sau, vương miện Kim Cương và y
của Karmapa được đem từ Tsurphu đến Kham cho ngài. Situ Rinpoche
mời ngài đến thăm tu viện Palpung.
Trên
đường đi, đoàn của ngài gặp hoàng tử Dege là Tsewang Dudul,
ông này mời ngài đến lâu đài mình. Lâu đài này tên là
Dege Lhundrup Teng, được xây dựng bởi vị thánh Nyingma thế
kỷ thứ mười lăm là Thangtong Gyalpo, gần Dege Gonchen, tự
viện chính của dòng Sakya Ngorpa. Khi ở Dege, ngài đến thăm
và ban phước cho máy in khổng lồ của tu viện. Sau đó, đoàn
đến Palpung, được tiếp đãi trọng thể. Bốn ngày sau, ngài
được Situ Rinpoche làm lễ lên ngôi trong chánh điện của
chùa.
Ngày
23 tháng 4 năm con Cừu Kim, ngài và Situ Rin-poche, cùng với lều
trại gồm một ngàn người, gọi là garchen của Karmapa, lên
đường đi Tsurphu. Dọc đường, Rangjung Rigpe Dorje cử hành
buổi lễ “Vương miện Kim Cương” lần đầu tiên trong đời
ở Gyina Gompa xứ Nangchen. Sau sự kiện tốt lành này, đoàn
đi thăm Nyenchen Thanglha, một nơi chốn được xem là thần
lực của truyền thống Karma Kagyu. Đến Tsurphu, ngài được
Palpung Kontrul Rinpoche, Pawo Rinpoche và Gyaltshap Rinpoche tiếp đón.
Sau
đó ngài viếng thăm Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba ở
Lhasa, từ đức Đạt Lai, ngài nhận lễ cạo tóc. Trong buổi
lễ, đức Đạt Lai Thubten Gyatsho thấy vương miện Kim Cương
được dệt từ tóc của một trăm ngàn Dakini, trên đầu của
Rang-jung Rigpe Dorje. Trở về Tsurphu, Karmapa được Situ Rinpoche
và Drukchen Rinpoche, Mipham Chokyi Wangpo, trưởng phái Drukpa Kagyu
làm lễ “ngai vàng” lần thứ hai.
Bốn
năm sau đó, ngài học với Beru Khyentse Rinpoche và Bo Kangkar
đại pháp sư, vị này được tuyên dương như là vị đại
học giả Kamtshang Kagyu cuối cùng của thời đại. Kang-kar
Rinpoche đã nhớ toàn bộ nội dung của Tam Tạng, trong số
đệ tử có nhà học giả uyên bác đương thời phái Sakya
là Dezhung Rinpoche và nhà dịch giả kiệt xuất Garma C. C. Chang
(tức Chang Cheng Chi, người viết cuốn Thiền Đạo tu tập).
Khi học với Kangkar Rinpoche, Karmapa kể lại chuyện các đời
trước cho vị guru của mình nghe.
Năm
1937, ngài và các thân cận lên đường đi Dege xứ Kham để
thăm Situ Rinpoche. Trong cuộc hành trình, nhiều điềm lành xảy
ra chứng tỏ thần lực cảm ứng của Karmapa. Ngài được
mời đến thăm lâu đài vua Nangchen và tu viện Tsechu Gompa phái
Durkpa Kagyu được nhà vua đỡ đầu. Ngài cũng thăm Kaycha Gompa,
một tu viện phái Drukpa Kagyu ở Nangchen gồm năm trăm ni, ngôi
chùa ni lớn nhất Tây Tạng.
Ở
vùng Drong Tup có một hồ nhỏ, nơi người ta nói rằng ngài
đã để lại dấu chân trên mặt nước, ai cũng có thể thấy,
dầu vào mùa đông nước đã đóng băng. Ở chùa Riwa Parma,
khi Karmapa cử hành lễ Padmasambhava hung nộ, lửa bốc cháy
từ các bánh cúng Torma.
Sau
đó, ngài thăm tu viện của vị thầy thế kỷ mười chín
là Chogyur Lingpa, vị Terton vĩ đại cuối cùng. Ở đây, Lạt
ma Samten Gyaltsho yêu cầu ngài chấm dứt cho một nạn hạn
hán. Rangjung Rigpe Dorje xin một ít nước mà ngài dùng để
tắm. Khi ngài tắm, trời bắt đầu mưa và một dòng nước
vọt lên từ chỗ thùng nước tắm.
Khi
đến tu viện Palpung ngài được Situ Rinpoche tiếp đón. Sau
đó, Situpa dạy cho học trò mình các công trình thâm sâu của
Kongtrul Lodro Thaye, bộ Kagyu Ngagdzod, chứa đựng những giáo
huấn Mật thừa cao cấp của Marpa Lotsawa và bộ Dam Ngagdzod
chứa những giáo huấn cao cấp của tám tông nguyên thủy của
Tây Tạng. Khi đến thăm tu viện Palpung, Karmapa và Situ Rinpoche
để lại dấu chân trên đá. Khi ra khỏi tu viện, con chó và
con ngựa của ngài cũng để lại những dấu chân rõ ràng
trên đá.
Sau
một thời gian ngắn ẩn tu thiền định, ngài và Situ Rinpoche
nhận một lời mời viếng thăm Trung Hoa của tướng Chang Kai
Shek. Tuy nhiên, Karmapa không nhận lời một cách cá nhân, thay
vào đó, chọn gởi Beru Khyentse Rinpoche như là đại diện.
Ở
tu viện Dzongzar của Khyentse Chokyi Lodro, vị đại học giả
Rime, ngài cử hành lễ vương miện Kim Cương. Khyentse Rinpoche
nhìn thấy hình thể tâm linh của chiếc vương miện, trôi
nổi trên đầu Karmapa khoảng 18 inch. Lại nữa, ngài thấy
Karmapa trong hình dáng của Dusum Khyenpa. Khi trở về Palpung,
Rigpe Dorje nhận các lễ truyền pháp, các văn bản và giáo
huấn toàn bộ của phái Sakya.
Tháng
9 năm con Rồng Kim (1940), Karmapa bắt đầu du hành trở lại
Tsurphu. Trên đường về, viếng chùa Benchen, ngay khi ngài đến,
tượng con ngựa trên đó hộ pháp Zhingchong ngồi bắt đầu
hý lên. Sau chuyến đi dài mười một tháng, Rigpe Dorje và đoàn
tùy tùng đến Tsurphu. Trong ba năm tiếp theo, Karmapa đi vào
một cuộc tu hành kịch liệt, trong khi các việc xây dựng
mới tiếp tục tiến triển ở tu viện. Năm 1944, ngài làm
một chuyến hành hương, trước hết đến tu viện Samye và
rồi đến Lhodrak, quê hương của Marpa Lotsawa. Cùng năm, ngài
được vị vua thứ hai Jigme Wangchuk mời đến thăm Bhutan.
Trong
khi ở lại đó, ngài cử hành vài lần lễ vương miện Kim
Cương và ban cho nhiều cuộc truyền thọ pháp.
Năm
sau, Situ Rinpoche đã già đến Tsurphu để ban thêm giáo huấn
cho đứa con tinh thần của mình. Rigpo Dorje hai mươi mốt tuổi
nhận Đại giới từ Situpa. Thêm vào đó, vị guru của ngài
dạy ngài toàn tập Gyachen Kadzod của Kongtrul Lodro Thaye và Chigshe
Kuntrol. Từ Urgyen Rinpoche, ngài nhận toàn bộ các lễ truyền
pháp và các kinh văn của Terton Chogyur Lingpa.
Tháng
4 năm con Heo Hỏa (1947) Karmapa du hành đến miền tây Tây Tạng
và từ đó đến Ấn Độ và Sikkim. Ở Nepal, ngài cử hành
lễ vương miện Kim Cương và ban phước cho dân chúng. Rồi
ngài đến Lumbini, nơi đản sanh của Phật Thích Ca. Ngài cũng
đến Vananasi, nơi đức Phật thuyết pháp lần đầu và Bodhgaya,
nơi Phật giác ngộ. Theo lời mời của Maharaja xứ Sikkim là
Tashi Namgyal, Karmapa viếng Gangtok ở đó ngài làm lễ vương
miện đen và ban nhiều lễ truyền pháp.
Rồi
ngài đến Rewalsar ở Ấn Độ, là nơi được cúng cho Padmasambhava.
Nhiều con rắn màu trắng xuất hiện trên mặt hồ và điều
này được xem là những điềm rất tốt lành. Trong cuộc du
hành dài trở về Tsurphu, ngài đi ngang qua vùng núi Kailasa và
hồ Manasarowar. Cuối cùng đoàn trở về đến Tsurphu trong tháng
11 năm con Chuột Thổ (1948).
Rigpe
Dorje mời Jamgon Kontrul của chùa Palpung đến Tsurphu để trao
thêm các giáo huấn. Kongtrul Rinpoche trao cho ngài Rinchen Terdzod
và giáo huấn Đại Ấn và Sáu Yoga của Naropa. Khi hoàn thành
việc học, Rigpe Dorje nhận sự trao truyền kinh văn của dòng
phái từ Kongtrul Rinpoche và Situ Rinpoche. Để tán dương sự
thấu triệt của Karmapa về Đại Ấn, Palpung Kongtrul làm một
bài thơ trong đó tán dương ngài là một vị chưởng môn toàn
thiện của dòng Đại Ấn. Trong thời gian này, một dịch đậu
mùa bùng nổ đã được chặn đứng, là kết quả của nghi
lễ trừ tà Vajrakilaya do Karmapa cử hành.
Trong
những năm đầu của thập niên năm mươi, Karmapa tiến hành
việc dạy pháp và bổn phận quản trị ở cả Tsurphu và các
vùng khác của xứ sở. Năm 1953, ngài ban các lễ truyền pháp
và kinh văn của Dechen Chogyur Lingpa cho Mindrol Ling Chong Rinpoche,
trụ trì chùa Mindrol Ling và là Lạt ma trưởng của truyền
thống Nyingma.
Năm
1954, chính quyền Trung Hoa ở Bắc Kinh mời Đức Đại Lạt
Ma thứ mười bốn, và các trưởng phái của các truyền thống
khác nhau của Tây Tạng cùng với các chức sắc thăm Bắc
Kinh và một vài vùng khác của Trung Hoa. Đức Karmapa nhận
lời mời và cùng với tăng đoàn của mình, đến Bắc Kinh.
Ở đấy, Karmapa nhận được một thị kiến truyền cho từ
Maha-kala chỉ ra nơi chốn tái sanh của Situ Rinpoche. Ngài có
thể gởi một lá thư đến Palpung diễn tả chi tiết chỗ
Situ tái sanh. Trên đường về, Karmapa chính thức đưa lên
ngôi vị ngài Situpa mới này ở Palpung. Ngài cũng du hành khẩn
trương khắp xứ Kham như là vị đại sứ riêng của đức
Đạt Lai Lạt Ma trong một cố gắng phục hồi sự an bình
cho dân chúng đang càng ngày càng rối loạn. Nhiều Lạt ma
và tu sĩ đến chỗ ngài đi qua để nhận truyền pháp và được
xuất gia.
Sau
khi trở về Tsurphu, Karmapa trông coi việc xây dựng một chỗ
ở giành cho đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài mời đức Đạt Lai
Lạt Ma đến thăm viếng. Đức Đạt Lai Lạt Ma và đoàn tùy
tùng được đón tiếp rất trọng thể và được mời ban
lễ truyền pháp Quán Thế Âm ngàn tay. Đáp lại đức Đạt
Lai Lạt Ma yêu cầu ngài Karmapa cử hành lễ Vương miện Kim
Cương. Trong cuộc viếng thăm, ngài đưa đức Đạt Lai Lạt
Ma đi xem sự giàu có các thánh tích và xá lợi được tập
trung ở Tsurphu. Một nghi lễ vũ điệu Padmasambhava được tiến
hành để tôn vinh Ngài.
Cùng
năm ấy 1955, xung đột nghiêm trọng xảy ra ở xứ Dege và
các quận Nangchen xứ Kham. Karmapa thăm Chamdo, cố gắng đem
lại hòa bình giữa người Kham và lực lượng Trung Hoa. Cả
hai bên hứa giữ năm năm hưu chiến.
Năm
1956, đức Karmapa thăm Druk Dechen Chokhor Ling, ngôi chùa chính
của phái Drukpa Kagyu. Ngài ban cho các lời chỉ dạy và cử
hành lễ tẩy tịnh. Từ đây, ngài du hành đến Sikkim, gặp
lại nhà Vua Tashi Namgyal. Năm 1956 được thế giới cử hành
như là 2500 năm đức Phật nhập Niết Bàn, vì thế Karmapa
và đoàn tùy tùng mở rộng cuộc du hành đến Ấn Độ và
Nepal, ở đó đoàn hành hương tất cả thánh địa. Từ Nepal,
ngài trở lại Ấn và các hang động Ajanta, chứa nhiều công
trình điêu khắc Phật giáo của thời đại Gupta. Ở Kalim-pong,
Karmapa gặp gỡ vị công chúa Azhi Wangmo xứ Bhutan, bà xây cho
ngài một tu viện ở miền đông Bhutan. Lúc này, ngài được
mời thăm tu viện Rumtek ở Sikkim, nó được xây nên trong đời
các Karmapa thứ chín. Tuy nhiên, ngài từ chối, nói rằng ngài
sẽ đến đấy trong tương lai, khi cần thiết.
Khi
ngài trở về Tsurphu đầu năm 1957, những xung đột nghiêm
trọng lại xảy ra ở Kham. Một dòng người tỵ nạn đổ
về miền trung Tây Tạng. Trong số người tỵ nạn này có
nhiều vị Lạt ma phái Kagyu như Sangye Nyenpa Rinpoche thứ chín,
Situ Rinpoche, Talep Rinpoche và các đệ tử đến Tsurphu. Trong
thời gian này, Karmapa công nhận hậu thân Gyaltshap thứ mười
hai là Palpung Kongtrul Rinpoche mới, và Bongsar Khyentse Rinpoche.
Từ Zechen Kontrul, Karmapa nhận sự trao truyền kinh văn và giáo
huấn về Longchen Dzodun, công trình bảy bộ thâm nghĩa của
Longchenpa, trình bày về Maha Ati.
Xung
đột khốc liệt lan từ Kham đến trung Tây Tạng. Karmapa gởi
Situ Rinpoche, Sangye Nyenpa Rinpoche và thiền sư đáng kính Kalu
Rinpoche đến Bhutan. Palpung Jamgon Kongtrul trẻ tuổi được gởi
đến Kalimpong Ấn Độ ở cùng với gia đình thương gia giàu
có của mình. Tuy nhiên, chính ngài lại không quyết định
bỏ đi trong lúc này, nói rằng ngài sẽ đến Bhutan nếu tình
hình suy sụp. Ý định của ngài là ở lại Tsurphu cho đến
phút chót để giúp đỡ người tỵ nạn.
Các
cuộc xung đột giữa quân đội Trung Quốc và kháng chiến
quân Khampa bây giờ lan khắp Tây Tạng. Nhìn từ mọi phía,
nền văn hóa Phật giáo xa xưa của Tây Tạng sắp lịm tắt
như một ngọn đèn. Thấy rõ phải từ giã Tây Tạng lúc này,
để giúp đỡ sự bảo tồn Phật pháp, ngài thông báo cho
đức Đạt Lai Lạt Ma về kế hoạch của mình. Sau đó, giữa
đêm mồng 4 tháng 2 năm con Heo Thổ (1959), Karmapa cải trang
thành thường dân cùng với một đoàn một trăm sáu mươi
người, rời bỏ Tsurphu, mang theo xá lợi và các thánh vật
nhẹ cân. Đoàøn gồm các Lạt ma tái sanh, các tu sĩ và thường
dân. Đi với Karmapa có Shamar Rinpoche thứ mười ba, Gyaltshap
Rinpoche thứ mười hai, thiền sư Drupon Tenzin Rinpoche, Dabtrul
Rinpoche, Khandro Chenno vị phối ngẫu thánh của Karmapa Khakhyab
Dorje, và các người khác gồm tổng thư ký của ngài, Dorje
Lopon Topga Rinpoche và tác giả cuốn sách này.
Con
đường trốn thoát của đoàn vượt qua Hy Mã Lạp Sơn để
đến Bhutan. Tuy nhiên, lương thực dự trữ chỉ đủ cho hai
tuần lễ. Đoàn của ngài Karmapa đi xuyên qua miền nam Tây
Tạng và dân địa phương đem cho nhiều cứu trợ cho đoàn
tỵ nạn. Dọc đường, có các cuộc viếng thăm chớp nhoáng
nhà ở của Marpa Lotsawa ở Lhodrak và điện thờ Milarepa, tháp
cao chín tầng nổi tiếng hướng về Marpa Lotsawa, nơi đây
ngài ban cho sự nhập môn Milarepa và các thực hành tu tập.
Khi
đoàn đến cửa ngõ đầy tuyết cuối cùng là Mon La Gar Chung
(độ cao 19,855 feet), đánh dấu biên giới Tây Tạng-Bhutan,
Karmapa thúc dục mọi người phải vượt qua cửa ngõ này nội
ngày hôm ấy. Đoàn đã tiêu xài sức lực cuối cùng để
vượt qua Bhutan và được hỗ trợ bởi các hướng đạo địa
phương. Suốt đêm hôm sau, có một cơn bão tuyết lớn, đóng
mọi cửa ngõ trong hai, ba ngày. Thật vậy, quân đội đã rượt
đuổi sát nút các người tỵ nạn, và nếu họ không làm
như Karmapa đã chỉ thị thì họ đã bị bắt.
Hai
mươi mốt ngày sau khi rời bỏ Tsurphu, Karmapa và đoàn đến
quận Bumthang của Bhutan, mảnh đất được nói là đã in dấu
chân của một trăm ngàn dakini. Ngài đã được đón tiếp
vô cùng ấm cúng thân mật bởi công chúa Bhutan và tỳ kheo
ni Azhi Wangmo và các người khác. Kalu Rinpoche cùng với các
tu sĩ đệ tử, đến thăm Karmapa ở Tashi Chodzong. Situ Rinpoche
cũng thế. Sau khi đã viếng vua Jigme Dorge Wangchuk ở Thimphu,
thủ đô Bhutan, Karmapa quyết định di chuyển vào Ấn Độ.
Ở
Baxa, biên giới Bhutan và Ấn Độ, ngài gặp vị thủ tướng
Sikkim là Banya Sahib Tashi Dadul, vị này chuyển lời của nhà
vua mời ngài ở lại Sikkim. Karmapa quyết định nhận lời
mời, và ngày 25 tháng 4 năm con Heo Thổ (1959) đoàn đến Gangtok,
thủ đô của Sikkim. Karmapa được chào đón nồng nhiệt bởi
hoàng gia và dân chúng, và được hỏi ngài muốn trú ngụ
chỗ nào. Ngài trả lời rằng như những người dân Tây Tạng
tỵ nạn, họ hy vọng một ngày nào đó có thể trở lại
Tây Tạng, bởi thế, chỗ ở của họ chỉ có thể là tạm
thời. Tuy nhiên, vì Karmapa thứ chín là Wangchuk Dorje đã cho
xây dựng tu viện Rumtek, nên ngài, vị Karmapa thứ mười sáu,
muốn thiết lập chốn lưu vong ở đó.
Sau
khi đến Rumtek, Karmapa cử hành lễ lên ngôi vị cho Palpung
Kongtrul Rinpoche và ban nhiều lễ truyền pháp cho Rinpoche này.
Mùa đông năm ấy (59-60) Rigpe Dorje viếng thăm Ấn Độ, nơi
đây trước tiên ngài gặp đức Đạt Lai Lạt Ma ở Benares
và sau đó là Pandit Nehru, bấy giờ là Thủ tướng, người
rất thiện cảm với cả Phật giáo và hoàn cảnh của dân
tỵ nạn Tây Tạng. Vào mùa hè, Karmapa ban cho nhiều lễ truyền
pháp cho một số đông người quy tụ đến để được nhìn
thấy ngài. Một số tiền lớn được trao cho Karmapa từ chính
phủ Sikkim và Ấn Độ để giúp dựng một tu viện mới, ở
trên một khoảng đất bảy mươi hecta gần tu viện của Rumtek.
Quang cảnh được chọn có nhiều dấu hiệu tốt lành : bảy
ngọn đồi đối diện, bảy dòng suối chảy qua, một ngọn
núi phía sau, dãy núi tuyết ở phía trước và một dòng sông
phía dưới, xoay vòng theo hình dạng của một vỏ ốc tù và.
Nhiệt tình lớn lao cho công trình của các đệ tử của Karmapa
khiến cho sự xây dựng hoàn tất trong bốn năm.
Trong
thời gian này, ngài công nhận vị Drukchen Rinpoche mới, Drukpa
Yongdzin Rinpoche, Dzigar Choktor Rinpoche, hai vị Tulku phái Sangye
Nyenpa (một vị sanh ở Hoa Kỳ), Surmang Garwang Rinpoche, Drongram
Jatrul, hậu thân mới Dzok Chen Ponlop và Drupon Tulku Chogyur Lingpa.
Đến
hôm nay, Đức Karmapa đã xuất gia cho hơn ba ngàn tu sĩ và công
nhận hàng trăm vị Tulku. Ngài cũng cho phát hành một bản
in mới về Dege Kanjur, bộ bách khoa căn bản của giáo lý Đức
Phật. Trong sự hợp tác các giáo phái và đồng đạo, ngài
đã cung cấp một trăm bảy mươi lượt cho việc xây dựng
của bốn phái Phật giáo Tây Tạng và các đại diện của
tín ngưỡng Bonpo. Ngài đã đi vòng quanh thế giới hai lần.
Các Lạt ma phái Karma Kagyu của ngài đã thiết lập các trung
tâm Phật pháp ở Tây phương, và ngài đã đi một vòng thăm
viếng và ban pháp.
Đây
là một liệt kê chính xác về cuộc đời của mười sáu
vị Karmapa. Để có những liệt kê chi tiết hơn, người ta
có thể tham khảo các sử liệu gốc và các tiểu sử. Tuy
nhiên, phân tích rốt ráo thì mọi sử liệu đều giới hạn.
Bản tánh vô sanh của các Karmapa, sự thấu biết quá khứ,
hiện tại và vị lai, sự thấu đạt hoàn toàn giáo pháp,
và sự tỏa sáng một cách không chút nỗ lực của sức mạnh
Giải thoát của Đại Bi, các cái ấy hoàn toàn siêu việt
khỏi mạng lưới của ý niệm.
Dịch
trong mùa gặt lúa
Xuân
1986.
CHÚ
THÍCH
Để
giữ cho phần này ngắn gọn, chúng tôi cố gắng đề cập
đến những điểm chính và chi tiết về giáo pháp Kargyu, trong
phần “Nền tảng lịch sử và lý thuyết.” Nhiều tham chiếu
có thể được soi sáng trong phần dẫn nhập.
DẪN
NHẬP
(1)
Rudyard Kipling “Bài ca của Đông phương và Tây phương” (1889).
(2)
David Snellgrove dịch, trong “Những Bản văn Phật giáo qua các
thời đại” Edward Conze.
NỀN
TẢNG LỊCH SỬ VÀ LÝ THUYẾT
(1)
Những chữ từ tiếng Tây Tạng và tiếng Sanskrit có suốt
cuốn sách. Bất cứ chỗ nào chúng không được dịch, chúng
được đọc theo tiếng Anh, theo nguyên âm của Sanskrit hay của
Tây Tạng.
(2)
Để có thêm chi tiết, xem “Lịch sử chính trị của Tây
Tạng” của Shakabpa, “Karmapa : vị Lạt ma mũ đen của Tây
Tạng” của Nik Douglas và Meryl White, và “Lịch sử của phái
Karma Kagyu” của Situ Panchen và Belo Tsewang Kunchab.
CHƯƠNG
1. DUSUM KHYENPA
(1)
Virupa là một trong tám mươi tư vị đại thành tựu toàn thiện
nhất và ảnh hưởng nhất của Phật giáo ở miền trung Ấn.
Nguyên là một tăng sĩ và một học giả ở Vikramasila, đại
học tu viện nổi tiếng, ngài dần dần trở nên một thiền
giả Mật thừa. Dưới sự khai thị của Vajradhara, ngài sáng
lập ra giáo lý “Đạo và Quả,” giáo lý này về sau được
truyền vào Tây Tạng trong truyền thống Sakya.
(2)
“Vượt khỏi thiền định” là bậc thứ tư và là cấp
bậc chót của Đại Ấn, trong đó thiền giả vượt khỏi
những ý niệm về thiền định và chứng đắc. Ở mức độ
này, toàn thể thế giới hiện tượng hiện ra như là Đại
Ấn.
(3)
Yoga Giấc Mộng là một phương diện đặc thù của Anuttara
tantra yoga, trong đó hành giả mở rộng sự sáng suốt thiền
định qua đến sự thấu hiểu và sự tạo thành các giấc
mộng. Một vài thực hành “Yoga giấc mộng” được liên
kết với các vị bổn tôn khác nhau như A Di Đà hay Tara. Yoga
Giấc Mộng cũng là một trong sáu pháp của Naropa.
(4)
Vajraghanta là một trong tám mươi tư đại thành tựu giả.
Ngài nổi tiếng vì các năng lực thần thông và đặc biệt
liên kết với giáo pháp Cakrasamvara. Sanh và mất 1126-1225.
(5)
Sakyasri (1145-1225) là một pháp sư uyên bác người Kashmir được
mời đến Tây Tạng để thành lập một dòng tăng. Ngài trở
thành vị guru chánh của Sakya Pandita Kunga Gyaltsen qua vị này
ảnh hưởng của ngài lan rộng.
(6)
Indrabhuti là một thiền giả Mật thừa thế kỷ thứ tám nổi
tiếng là một trong tám mươi tư đại thành tựu giả. Ngài
trị vì như là vị vua của Uddiyana tây bắc Ấn và trở thành
cha nuôi của Padmasambhava. Ngài liên kết với truyền thống
vô thượng (anuttara) Tantra.
(7)
Công chúa Laksminbara là một yogini thành tựu và là chị của
vua Indrabhuti. Ngài viết bản văn Mật thừa Jnanasiddhi.
CHƯƠNG
3. RANGJUNG DORJE
(1)
Năm Luận của Maitreya gồm Mahayanasutralamkara, Uttaratantra, Abhisamayalamkara,
Dharmadharmata-vibhanga và Madhyantavibhanga. Các bộ luận này được
tạo bởi bậc thầy thế kỷ thứ ba, tư là Asanga (Vô Trước)
do Maitreya (Di Lặc) truyền cho.
(2)
A tỳ đạt ma tức là Luận tạng. A tỳ đạt ma hay là “pháp
luận thêm” đặc biệt liên quan đến các liệt kê pháp số
và phân tích trạng thái của tâm. Sự phân tích của A tỳ
đạt ma phát triển cùng với thiền định và quán sát của
Tiểu thừa.
(3)
Yamantaka (TT : Shin-rje) là một hóa thần quan trọng của cả
hai truyền thống Mật giáo “cổ” và “tân.” Trí huệ
sáng chói và thấu suốt của Yamantaka là kẻ tàn sát cái chết.
(4)
Samputika là một chú giải về Sri-sampa anuttara tantra được
viết ra ở thời trung cổ. Giáo trình này gồm trong Kagyu Ngagdzod
của Jamgon Kongtrul.
(5)
“Các thần hòa bình và hung nộ” gồm trong Ati mandala của
trạng thái giác ngộ. Bốn mươi hai hóa thần hòa bình hiện
thân cho Tánh Không của Phật Tánh và các hóa thần hung nộ
hiện thân cho prabhasvara (tánh Minh) của Phật Tánh.
(6)
Sadanga Yoga là một số thực hành thuộc vô thượng tantra yoga
phát sanh từ giáo lý Kalacakra.
(7)
Kanjur (TT : bka-gyur) và Tanjur (TT : bsan-gyur) gồm kinh điển Đại
thừa Phật Giáo Tây Tạng. Kanjur chứa toàn bộ kinh và tantra
do Phật dạy, trong khi Tanjur chứa các luận giải có thẩm
quyền của các tổ ở Ấn Độ. Kanjur và Tanjur được kết
tập lại bởi đại học giả Phật giáo Buton Rinchendrup. (1290-1364)
(8)
Ngok Chodor và Meton Tsonpo là hai trong “bốn trụ,” hay bốn
đại đệ tử của Marpa. Ngok Choku Dorje là học giả tài năng
nhất trong số các đệ tử của Marpa và đã nhận sự trao
truyền các giáo huấn chú giải từ Thầy mình. Meton Tsonpo
đặc biệt chuyên môn về giáo pháp Hevajra.
(9)
Yagde hay Yagde Panchen (1299-1378) là một bậc thầy của cả Kinh
và Tantra, thông thạo các giáo pháp của các truyền thống
chính ở Tây Tạng vào thời ngài. Người ta nói rằng ngài
đã học với một trăm lẻ tám vị thầy. Đệ tử của ngài
rất đông.
CHƯƠNG
4. ROLPE DORJE
(1)
Bản tánh siêu việt của Phật Tánh được phản chiếu trong
năm mặt hay năm bộ chúng Phật (Skt : Kula), mỗi bộ chuyển
hóa phiền não thành Bồ đề. Mỗi bộ có một vị Phật và
thánh chúng gồm các Bồ tát nam và nữ.
(2)
Lời cầu nguyện Phổ Hiền là một cầu nguyện rất quan trọng
được truyền miệng của phái Nyingma. Nó chứa đựng những
lời dạy chính yếu để chuyển hóa qua tánh Toàn Giác của
Phổ Hiền, vị Phật nguyên thủy.
CHƯƠNG
5. DEZHIN SHEGPA
(1)
A la hán là danh từ để chỉ bậc thánh trong con đường Tiểu
thừa. Tây Tạng dịch là Drachompa, “vị giết được kẻ
thù” phiền não nhiễm ô. Truyền thống nói rằng sự hoằng
pháp của Phật Thích Ca được bảo vệ bởi mười sáu vị
đệ tử La Hán.
(2)
Garuda là một loại chim ưng thuộc về loài Trời, của huyền
thoại Ấn Độ, khi nở ra khỏi trứng là đã phát triển đầy
đủ trọn vẹn. Nó tượng trưng cho Phật tánh. Nó tiêu diệt
năm con rắn của phiền não.
(3)
Tháp (stupa) là sự biểu tượng cụ thể cho thân khẩu, ý
của Phật, được thờ như chỗ để xá lợi và các thánh
tích.
CHƯƠNG
6. THONGWA DONDEN
(1)
Năm Tantra là Cakrasamvara, Mahamaya, Vajrabhairava, Guhyasamaja và
Hevajra. Sáu pháp của Niguma liên quan đến Sáu pháp của Naropa.
Niguma là vị phối ngẫu của Naropa. Sáu pháp là các Yoga về
nội hỏa, giấc mơ, quang minh, chuyển di, huyễn thân và bardo
(cảnh giới trung ấn).
(2)
Giáo pháp Duk Ngal Shisay (Diệt khổ) được tạo ra bởi Phadampa
Sangye. Hiện nay, nó không còn hiện diện như một phái độc
lập.
(3)
Dombhi Heruka là một thiền giả Mật thừa Ấn Độ quan trọng,
người giữ dòng “Đạo và Quả” nhận được từ Guru của
ngài là Virupa. Ngài trao truyền nhiều giáo huấn dưới hình
thức các bài ca.
(4)
Kunchen Rongtonpa (1367-1449) là một vị tổ kiệt xuất của phái
Sakya. Ngài học với Ngorchen Kunga Zangpo, người lập ra tiểu
phái Ngor thuộc truyền thống Sakyra. Rongton Sheja Kunrig làm ra
nhiều tiểu luận triết lý quan trọng về Bát Nhã ba la mật,
ngài lập tu viện Nalanda ở Phenyul. Đệ tử chính là Gorampa
Sonam Senge.
(5)
Sambhala là vương quốc huyền bí nơi đó những vị nắm giữ
giáo pháp Kalacakra trú ngụ. Nó được đoán là ở phía bắc
Tây Tạng. Vua Sucandra của Sambhala nhận Kalacakra từ đức Phật
và truyền cho các vị kế thừa.
CHƯƠNG
7. CHODRAG GYALTSHO
(1)
Để biết thêm chi tiết, tham khảo cuốn Lịch sử phái Karma
Kagyu của Situ Panchen và Belo Tsewang Kunchab.
CHƯƠNG
8. MIKYO DORJE
(1)
Tám giới là năm giới căn bản của tín đồ tại gia : không
bạo động, không lấy của không cho, đạo đức tình dục,
không có lời dối trá hoặc tổn hại và không say. Cộng thêm
ba giới đặc biệt : không ngủ giường êm, xa xỉ, và cao
; ăn không đúng thời và trang sức, ca hát, khiêu vũ.
(2)
Gyalwa Choyang là một trong hai mươi lăm đệ tử chính của
Guru Padmasambhava thế kỷ thứ tám. Gyalwa Cho-yang là một bộ
trưởng trong triều đình của vua Trisong Detsun. Ngài nhận sự
thực hành tâm linh về Hayagriva từ Guru Padma, và sau đó hoàn
thành sự chứng ngộ viên mãn.
(3)
Ngok Lotsawa là một trong các đệ tử chính của Atisa. Ngài
làm việc với sư phụ mình trong việc dịch các tác phẩm
thuộc hệ Bát Nhã ba la mật và giữ một vai trò quan trọng
đặc biệt trong sự lập nên triết học Trung Quán ở Tây
Tạng.
CHƯƠNG
9. WANGCHUK DORJE
(1)
Bốn pháp của Gampopa được truyền tụng như là cốt tủy
của con đường tâm linh do Gampopa đề ra : “Xin nguyện tâm
tôi có thể đi vào giáo pháp / Xin nguyện pháp này đi hết
đường đạo / Xin nguyện đường đạo làm tan biến mê mờ
/ Xin nguyện mê mờ chuyển thành Trí Huệ.”
CHƯƠNG
10. CHOYING DORJE
(1)
Thần chú “Sự viên mãn của Trí Huệ” là “om gate paragate
parasamgate bodhi svaha”. Thần chú này là tinh yếu của Trí
Huệ viên mãn, và ở trong Tâm Kinh như là “cái làm lành các
khổ đau.”
(2)
Terma là “kho tàng của bản văn,” chúng được cất giấu
và về sau được khám phá bởi các nhà khám phá kho tàng (TT
: gter-ston). Nhiều kho tàng pháp bảo như thế được Guru Padmasambhava
và các đệ tử thân cận chôn dấu và được khám phá bởi
các hóa thân của vị Guru này trong các thế kỷ sau. Đó gọi
là các kho tàng dưới đất. Còn “các kho tàng tư tưởng”
thì được cất giấu trong không gian vô hạn của Trí Huệ,
và được khám phá trong thiền định bởi các người có linh
kiến.
CHƯƠNG
11. YESHE DORJE
(1)
Giới cư sĩ gồm có quy y tam bảo và cam kết giữ năm giới,
sau đó người này trở thành một tín đồ cư sĩ (upasaka,
upasika) ưu bà tắc, ưu bà di.
CHƯƠNG
13. DUDUL DORJE
(1)
Bốn hoạt động : làm an bình, làm cho giàu có, làm cho viên
mãn và hủy diệt, hiện thân sức mạnh Đại Bi của Giác
ngộ. Các hộ pháp có bốn hoạt động này, nhờ chúng chư
vị hộ trì sức mạnh của Pháp.
(2)
Konchog Chidu là một giáo trình terma nổi tiếng được khám
phá bởi một bậc thầy thế kỷ thứ mười sáu là Rigdzin
Jatson Nyingpo, một hóa thân của Guru Padmasambhava. Giáo trình
này tiếp tục gây một ảnh hưởng lớn lao đến cả hai phái
Nyingma và Kagyu cho đến ngày nay.
CHƯƠNG
15. KHAKHYAB DORJE
(1)
Năm sư tỉ của sự trường thọ là những Dakini, hiện thân
của năng lực nữ. Vị thủ lãnh của năm người là Tashi
Tse-ringma, là một phối ngẫu tinh thần thần bí của Milarepa.
Bốn vị kia là Thingi Zhalzongma, Miyo Lobzangma, Chopan Drinzangma
và Tadkar Drozangma. Họ được Guru Padma-sambhava và Milarepa bắt
phải bảo vệ pháp. Một huyền thoạïi của vùng Hy Mã Lạïp
Sơn nói rằng Miyo Lobzangma ở đâu đó trên những dãy của
ngọn Everest, tức là Jomo Lungma theo tiếng Tây Tạng.
PHỤ
LỤC (A)
DÒNG
SHAMAR
HẬU
THÂN
Thứ
I TRAKPA SENGE (1283-1349)
Thứ
II KHA CHOD WANGPO (1350-1405)
Thứ
III CHOSPAL YESHE (1406-1452)
Thứ
IV CHOSKYI TRAKPA (1453-1524)
Thứ
V KUNCHOK YENLAK (1525-1583)
Thứ
VI CHOSKYI WANGCHUK (1584-1630)
Thứ
VII YESHE NYINGPO (1631-1694)
Thứ
VIII PALCHEN CHOSKYI DODRUP (1695-1732)
Thứ
IX KUNCHOK JUNGNES (1733-1741)
Thứ
X MIPHAM CHOSDRUP GYAMTSO (1742-1792)
(Không có sự công nhận vì lý do chính trị, cho đến :)
Thứ
XI JAMBYANG RINPOCHE (1880-1947)
Thứ
XII TINLAY KUNCHUP (1948-1950)
Thứ
XIII CHOSKYI LODRU (1952-)
CÁC
HẬU THÂN SHAMAR
(Các
Lạt ma “Mũ đỏ” Karma-Kagyudpa)
(1)
Vị
Tulku Shamar đầu tiên, TRAKPA SENGE, sanh năm con Cừu cái Thủy
(1283) ở Pompor Gang, bên bờ sông Shel xứ Kham, miền đông Tây
Tạng. Một buổi sáng vào năm bốn tuổi, ngài thấy một linh
kiến về vị Hộ pháp thành tựu Desheg Thangpa và nữ thần
Tara, và nhận được các sự nhập đạo quan trọng từ các
vị này.
Năm
lên sáu tuổi, ngài đã có tiếng là một người thấy được
quỷ thần và thường diễn tả cho người khác các hình dáng
lạ lùng của các vị thần hộ mạng và hộ pháp. Cha mẹ
ngài lo âu về điều này và đem ngài đến gặp Lạt ma Lodru
Trakpa, với hy vọng giải trừ được các ảnh hưởng quấy
rối. Vị Lạt ma hỏi đứa bé về những điều em thấy và
được tả một cách rất chi tiết về vị Thần Kim Cương
thừa là Hayagriva và Mạn đà la kèm theo. Nhận ra năng khiếu
tri giác tiềm ẩn nơi đứa bé, vị Lạt ma khuyên nên cho đứa
bé xuất gia, nói rằng nó sẽ trở thành một vị đại Lạt
ma, như thế sẽ làm lợi ích cho Phật pháp.
Đứa
bé được thọ giới làm tăng, và học với Lạt ma Trakpa và
Lopon Gyal Je. Năm mười bảy tuổi, ngài gặp Rangjung Dorje, vị
Karmapa thứ ba, theo ngài đến tu viện Tsurphu và nhận giáo
huấn từ ngài Karmapa. Rồi ngài đến đại học viện Sang
Phu Neutok, ở đó hoàn tất học vấn. Ngài nhanh chóng trở
nên nổi tiếng như một học giả và một bậc thầy về tranh
luận.
Năm
hai mươi tư tuổi, ở Dechen Teng, ngài gặp lại Karmapa và nhận
được toàn bộ giáo huấn, gồm cả Sáu Yoga của Naropa. Trong
hai năm ngài ẩn tu trong một hang động. Ở đấy trong khi thực
hành Yoga Giấc Mộng ngài có một thị kiến về Ranjung Dorje,
bảo ngài nên bắt đầu xây một trung tâm thiền định. Vị
hộ pháp Mahakala cung cấp mọi chi tiết về vị trí, và nó
được xây dựng ở Nesnang. Việc xây dựng nhanh chóng được
hoàn thành và trong một thời gian ngắn. Shamar Trakpa Senge có
khoảng hai mươi lăm đệ tử, họ thực hành thiền định
ở đó. Thế rồi ngài trở lại hang và để hết thì giờ
còn lại của đời mình cho việc thiền định.
Ngày
12 tháng 2 năm con Bò cái, ngài ra đi giữa những điềm lành,
vào năm sáu mươi bảy tuổi. Các đệ tử cao cấp nhất là
Yagde Panchen và Tokden Gon Gyalwa. (1283-1349)
(2)
Vị
Tulku Shamar thứ hai, KHA CHOD WANGPO, sanh năm con Cọp đực Kim
(1350) ở Chema Lung vùng Chang Namshung, bắc Tây Tạng. Bảy tháng
tuổi, Karmapa Rolpe Dorje xuất hiện trong một thị kiến và
nói :
Hoa
đã có, mà chưa nở
Hãy
đợi đúng thời, vì ngươi còn là người
Thiện
căn thay nhà ngươi, hãy đợi ít lâu nữa
Và
ta sẽ dạy cho ngươi trở thành hoàn thiện !
Rồi
Karmapa búng ngón tay trong không khí và từ lúc đó, đứa bé
có thể nhớ lại mọi chi tiết của đời trước và bắt
đầu nói cho người khác rằng em là hậu thân của Trakpa Senge.
Mười
bốn tháng, em đã thuyết pháp và ba tuổi đã cho những giáo
huấn đặc biệt. Danh tiếng nhanh chóng lan truyền đến tai
các người hầu và đệ tử của Tulku Shamar trước kia. Họ
đến thăm và tức khắc nhận ra em như là hậu thân mới.
Rồi em được đem đến tu viện Kampo Nesnang, ở đó em được
đưa lên ngôi vị.
Năm
bảy tuổi, khi ngang qua một dòng sông, ngài gặp Karmara Rolpe
Doje, vị Karmara dạy ngài toàn bộ Mahamudra, sáu pháp Yoga và
giáo huấn phái Kagyupa. Từ Khenpo Dondrup Pal, ngài nhận tiểu
giới và đại giới. Hoàn tất việc học, ngài du hành đến
nơi hành hương xứ Tsari ở đây ngài có một thị kiến tốt
lành về thành tựu giả Dombhi Heruka. Về sau ngài nhận chiếc
Mũ Đỏ từ Gyalwa Karmapa công nhận cho sự thành tựu vĩ đại
của ngài và như là biểu tượng chức vụ ngài là một bậc
thầy.
Shamar
Kha Chod Wangpo nhận ra hậu thân tiếp của Karmara là Debzhin
Shegpa, và đưa lên ngôi vị ở tu viện Tsurphu, ở đây ngài
truyền các giáo huấn cho Karmapa. Năm ba mươi bảy tuổi ngài
dựng một trung tâm thiền định rộng lớn ở Gaden Mamo và
nhanh chóng có ba trăm thiền giả tu hành ở đó. Ngài dấn
thân vào sự hoàn thiện các giáo huấn bí truyền và có nhiều
thị kiến về các Hộ pháp và Hộ thần, từ đó ngài nhận
được nhiều lễ truyền pháp.
Ngày
29 tháng 7 năm con Chim cái Mộc (1405), ngài ra đi. Các đệ tử
chính là Karmapa thứ năm, Lạt ma Kazhipa Rinchen và Sowon Rigpe
Raldre. (1350-1405)
(3)
Vị
Tulku Shamar thứ ba, CHOSPAL YESHE, sanh ngày 14 tháng 2 năm con Chó
đực Hỏa (1406) ở Trang Do của tỉnh Kongpo nam Tây Tạng. Khi
còn trong bụng mẹ, người ta đã nghe những tiếng niệm thần
chú “Mani” và khi sanh có vài mống cầu vồng hình cái dù
trên nóc nhà. Dưới bàn chân có một chữ Mông Cổ “Gyel”
(có nghĩa là Chiến Thắng). Ngài tức thời được công nhận
như là hậu thân của Shamarpa, và được vài đệ tử kiếp
trước nhận ra. Mọi chi tiết tiên tri đều phù hợp chính
xác với hoàn cảnh đứa bé sanh ra, bởi thế em được đưa
đến Taktse, trên đường đi, ngang qua trung tâm thiền định
Gaden Mamo.
Năm
lên sáu, ngài leo lên ngọn núi Wonpo hùng vĩ, là chỗ trú ngụ
của một Thần Hộ pháp quan trọng. Ngày 3 tháng 10 năm 1413,
lúc tám tuổi, ngài gặp Karmapa Debzhin Shegpa ở Pang Dor và cùng
trở về Taktse.
Ngày
10 tháng 11 năm ấy, ngài nhận giới Sa di từ Karmapa và được
chỉ dạy các giáo huấn. Về sau, ngài công nhận và đưa lên
ngôi vị Karmapa mới là Tongwa Donden và đem về tu viện mình.
Từ Kenchen Sonam Zangpo ngài nhận giới Tỳ Kheo. Yeshe Ridzin ban
cho ngài vài giáo huấn quan trọng và người đệ tử của
ngài ở kiếp trước Sowon Rigpe Raldre cũng làm thế. Hoàn tất
mọi học vấn, ngài bắt đầu đi giảng dạy. Là một Lạt
ma sắc sảo, ngài có nhiều đệ tử. Sau nhiều năm hòa truyền
chánh pháp ngài ra đi vào ngày 4 tháng 10 năm con Khỉ Thủy
(1452) ở tuổi bốn mươi bảy. Có nhiều cầu vồng hiện ra
bên trên và hoa rơi xuống từ trời. Các đệ tử cao cấp
nhất là Jampal Zangpo, Gelong Zhonu Pal sử gia và Ngampa Chatrel.
(1406-1452)
(4)
Vị
Tulku Shamar thứ tư, CHOSKYI TRAKPA, sanh ngày 3 tháng 3 năm con
Chim Thủy (1453) ở Kangmar xứ Domed, miền đông Tây Tạng. Trong
đêm ngài sanh ra dân chúng trong vùng thấy hai mặt trăng trên
bầu trời. Khi sanh ra ngài nói cho quyến thuộc chung quanh rằng
ngài biết Gyalwa Karmapa.
Năm
bảy tuổi, ngài được đưa đến tu viện Kangmar và ở đây
ngài đi thẳng đến ngai và ngồi lên đấy. Các đệ tử trước
kia trộn lẫn các cuốn sách và đặt chúng trước mặt ngài,
nhưng ngài đã chọn ra tất cả mọi bản văn do các vị Karmapa
viết và rồi sắp xếp các trang đúng thứ tự.
Shamarpa
được mời đến Chang Mo Sar và đến đại tu viện Surmang,
nơi ngài gặp Chos Trag Gyamtso, vị Karmapa thứ bảy. Buổi lễ
Mũ Đen được cử hành để chúc phước cho ngài và ngài nhận
được nhiều giáo huấn và các lễ truyền pháp. Năm mười
hai tuổi ngài cử hành lễ Mũ Đỏ và được chính thức lên
ngôi vị. Ngài có một thị kiến về nữ thần Sarawasti, vị
thần dâng cúng ngài một trái cây Arura. Kết quả là ngài
có thể học rất nhanh. Ngài đến Gaden Mamo, và thiền định
sáu tháng. Năm con Cọp Kim (1470), lúc mười bảy tuổi, Shamar
Tulku viếng thăm ngắn Mông Cổ và trên đường trở về ngài
nhận mọi giáo huấn kết thúc từ Karmapa. Go Lotsawa Zhonu Pal,
một vị đệ tử kiếp trước dạy ngài Sanskrit và các bản
văn cổ.
Năm
bốn mươi sáu tuổi, ngài trở thành vị pháp chủ tối cao
của Tây Tạng. Ngài lập ra tự viện Gaden Mamo rộng lớn với
một giảng đường có chín mươi tư cột trụ. Công trình
bắt đầu ngày 2 tháng 3 năm 1488 và hoàn tất ngày 10 tháng
6 năm 1490. Năm năm mươi mốt tuổi, ngài xây dựng một tu
viện lớn ở Jang Chen, phía bắc Tsurphu không xa, với bảy
mươi hai cột trong giảng đường chánh. Công trình này bắt
đầu ngày 19 tháng 4 năm 1503, hoàn thành trong tháng 2 năm 1504.
Năm
con Khỉ (1524), ngày 25 tháng 12, Shamar Tulku ra đi, giữa nhiều
điềm lành, vào bảy mươi hai tuổi. Các đệ tử chánh là
Taklung Namgyal Trakpa, Zhalu Lotsawa và Drigung Ratna. (1453-1524)
(5)
Vị
Tulku Shamar thứ năm, KUNCHOK YENLAK, sanh ngày 10 tháng 8 năm con
Chim cái Mộc (1525) ở Gaden Kang Sar quận Kongpo. Khi sanh ra, nhiều
hoa nở dầu đang giữa mùa đông. Vừa mới sanh ra, ngài đã
ca thần chú Mani. Ngài được nhanh chóng công nhận là hậu
thân mới và được Karmapa Mikyo Dorje đưa lên ngôi vị và
bắt đầu truyền thụ cho.
Năm
mười hai tuổi Shamar Tulku hoàn tất việc học. Đạt đến
hoàn hảo trong thiền định, ngài thu hút nhiều đệ tử xuất
sắc. Ngài công nhận vị Karmapa thứ chín Wangchuk Dorje, và
cử hành lễ lên ngôi vị và những năm tiếp theo truyền cho
các giáo huấn bí truyền.
Ngày
2 tháng 7 năm con Cừu cái Thủy (1583), vào năm năm mươi chín
tuổi, ngài ra đi. Có nhiều điềm lành lạ thường trong lúc
đó. Các đệ tử thân cận nhất là Karmapa thứ chín, Karma
Tinlaypa, Drigung Chogyal Phuntsok và Taklung Kunga Tashi. (1525-1583)
(6)
Vị
Tulku Shamar thứ sáu, CHOSKYI WANGCHUK, sanh ngày 3 tháng 9 năm con
Khỉ đực Mộc (1584) ở Sholung. Có nhiều điềm lành xảy
ra và còn rất nhỏ ngài đã là một đứa bé đáng chú ý.
Karmapa Wangchuk Dorje công nhận ngài khi ngài năm tuổi và đưa
lên ngôi vị ở Phật học viện Dvagspo Ling. Từ Karmapa ngài
nhận các giáo huấn cao cấp và năm mười hai tuổi được
xem là một hành giả lão luyện trong thiền định. Với Lạt
ma Karma Tinlaypa ngài học Sanskrit và nhanh chóng thông thạo.
Ngày
11 tháng 7 năm con Rắn (1593), ngài lập trung tâm thiền định
Thupden Nyingche Ling. Năm mười sáu tuổi, ngài hoàn toàn thông
thạo Sanskrit và nổi danh là một học giả sâu sắc. Ngài
viếng thăm học viện của mọi tông phái khác, tham dự nhiều
cuộc thi cử và luận đạo và được công nhận là một trong
những học giả vĩ đại của thời ngài. Ngài nhớ thuộc
lòng ba mươi hai bộ kinh điển Phật giáo và trong một dịp
quan trọng đánh bại phái Bonpo trong một cuộc tranh luận lớn.
Shamar
Choskyi Wangchuk có vài thị kiến về Sakya Pandita và nhận được
các giáo huấn quan trọng từ vị này. Ngài viết ra bài cầu
nguyện hay đẹp với Sakya Pandita và với Bồ tát Văn Thù Sư
Lợi. Vị cai quản xứ Jyang mời ngài viếng thăm, và ngài
đến, sửa chữa lại các sai lầm trong các kinh Kanjur của
các tu viện. Ngài trao truyền giáo huấn Đại Ấn và thu hút
nhiều đệ tử xuất sắc.
Ngài
du hành đến đại tu viện Surmang, ban cho các giáo huấn và
lễ truyền pháp cho các vị tăng và Lạt ma ở đó. Tiếp theo,
ngài công nhận và đưa lên ngôi vị Karmapa thứ mười, Chos
Ying Dorje. Rồi ngài hành hương đến Nepal. Đến thung lũng
Kathmandu, ngài đi thẳng đến đại tháp Bodhanath, ở đó ngài
được vua Laksminara Simha Malla tiếp kiến, nhà vua tôn vinh ngài
và trao một vòng hoa. Gây ấn tượng cho các vị Bà la môn
về sự hiểu biết về Sanskrit, ngài tranh luận các chủ đề
giáo lý với họ và truyền bá chánh pháp ở Nepal. Vua Simha
Malla gởi cho ngài một thớt voi lớn để cỡi. Ngài đến
thăm đại tháp Swayambhu và xây bốn bàn thờ bằng vàng ở
bốn phương, thay vì một mái vàng để che như dự kiến ban
đầu. Cuộc viếng thăm tốt lành này vào năm 1640 được ghi
lại nơi cổng vòm mặt nam của ngôi đền thờ.
Shamar
Tulku trở về Tây Tạng, du hành ngược lên Yolmo bắc Nepal.
Đi qua vùng nam Tây Tạng, ngài ban cho các lễ truyền pháp Lama’i
Naljor cho dân chúng và giảng giải luật nhân quả của nghiệp
báo. Ở Tashigang ngài gặp Gyalwa Karmapa, biếu tặng Karmapa một
con chồn diệt rắn độc đem về từ Nepal và trao truyền các
giáo huấn còn lại cho vị này.
Ngày
4 tháng 2 năm con Ngựa đực Kim (1630) Shamar Tulku trở bệnh.
Các đệ tử xin ngài hỗn lại việc thị tịch cho đến khi
Khedrup Karma Chagme đến, vị này còn phải nhận thêm vài giáo
huấn quan trọng. Ngài làm ra một bức tượng nhỏ bằng đất
sét của chính ngài, ban phước và làm phép (bức tượng này
còn giữ ở tu viện Rumtek ở Sikkim và là vật sở hữu của
ngài Shamar Tulku thứ mười ba hiện tại). Khedrup Karma Chagme
đến kịp thời và nhận được các giáo huấn mong cầu. Rồi
ngày 28 tháng 9 cũng năm ấy, vào buổi sáng, ngài ra đi. Có
nhiều điềm lành xảy ra. Các đệ tử cao cấp là Karmapa thứ
mười, Karma Mipham Tsewang Rabten (vị cai quản xứ Jyang) và Khedrup
Karma Chagme. (1584-1630)
(7)
Vị
Shamar Tulku thứ bảy, YESHE NYINGPO, sanh năm con Cừu cái Kim (1631)
ở Golok bên bờ sông Machu, miền đông Tây Tạng. Karmapa thứ
mười công nhận và đưa ngài lên ngôi vị đồng thời cũng
ban cho các giáo huấn. Shamar Tulku viếng thăm Jyang và Lhasa,
ở đó ngài học nhiều giáo pháp và nghiên cứu triết học.
Từ Gyalwa Karmapa, ngài nhận toàn bộ giáo huấn và thực hiện
hoàn mãn chúng.
Ngài
công nhận Yeshe Dorje, vị Karmapa thứ mười một và đưa lên
ngôi vị, trao quyền toàn bộ giáo huấn. Ngày 15 tháng 12 năm
con Chó đực Mộc (1694), ngài ra đi. Đệ tử cao cấp là Karmapa
thứ muời một. (1631-1694)
(8)
Vị
Shamar Tulku thứ tám, PALCHEN CHOSKYI DODRUP, sanh ngày 10 tháng 9
năm con Heo Mộc (1695) ở Yolmo Kangra miền nam Tây Tạng. Những
cầu vồng trắng xuất hiện trên căn nhà khi ngài sanh ra. Còn
là một em bé, ngài diễn tả mọi chi tiết về các đời trước
và liệt kê các tu viện dưới quyền mình. Danh tiếng của
đứa bé kỳ lạ loan truyền nhanh chóng và Gyalwa Karmapa gởi
một phái đoàn đến thăm. Lập tức, ngài được công nhận
là vị Shamarpa mới.
Vua
Nepal (vua Bhaskara Malla ở Kathmandu, 1700-1714) cực lực tôn vinh
ngài và một vị Yogini tên là Zitapuri tiên đoán rằng ngài
sẽ trở thành một thành tựu giả. Năm lên bảy, ngài rời
bỏ Nepal và du hành đến chùa Tagna ở miền tây Tây Tạng,
ở đây ngài rất được trọng vọng và được hộ tống
về Tsurphu. Karmapa đưa ngài lên ngôi vị và ban cho nhiều giáo
huấn. Chính phủ Tây Tạng chính thức cho ngài quyền lưu lại
trong xứ (ngài sanh tại Nepal và được xem như người ngoại
quốc) và ngài giữ địa vị mình ở đại tu viện Yang Chen.
Shamar
Choskyi Dodrup công nhận Situ Tulku thứ tám. Ngài nhận mọi giáo
huấn từ Karmapa thứ mười một và vị sau này được công
nhận là Karmapa thứ mười hai, Changchub Dorje. Ngài trở lại
thăm Nepal rồi qua Trung Hoa với Karmapa. Ngài ra đi ở Trung Hoa
vào ngày 2 tháng 11 năm con Chuột Thủy (1732), hai ngày sau sự
ra đi của Gyalwa Karmapa. Đệ tử cao cấp nhất là Situ Tulku
thứ tám. (1695-1732)
(9)
Vị
Shamar Tulku thứ chín, KUNGCHOK JUNGNES, sanh năm con Bò cái Thủy
(1733) và được Situ Tulku công nhận và đưa lên ngôi vị.
Situ Tulku đã từng là đệ tử của ngài trong kiếp trước.
Chánh quyền Gelugpa đã ban hành một đạo luật cấm bất kỳ
ai tiên đoán hoặc tôn ngôi cho bất kỳ hậu thân Shamar nào,
nhưng Situ Tulku chống lại luật lệ ấy giữa Thượng viện
và đã thắng cuộc.
Lạt
ma Khatog Rigdzin Chenmo đã tiên đoán rằng nếu lễ lên ngôi
vị được cử hành ở chùa Khatoggon xứ Kham thì đứa bé
sẽ sống lâu. Không may vị Lạt ma chết, và các Lạt ma khác
của chùa từ chối, không cho Situ Tulku cử hành lễ ở đó
vì sợ tu viện mình sẽ bị mất với phái Gelugpa. Shamar Tulku
nhỏ tuổi ra đi vào năm lên tám, năm con Chim cái Kim (1741),
chỉ đã nhận yếu chỉ của các giáo huấn. (1733-1741)
(10)
Vị
Shamar Tulku thứ mười, MIPHAM CHOSDRUP GYAMTSO, sanh năm con Chó
Thủy (1742) ở Tashi Tse tỉnh Tsang. Ngài sanh làm em của Panchen
Rinpoche, Lobzang Palden Yeshe (1738-1780), và được công nhận bởi
Karmapa thứ mười ba và Situ Tulku thứ tám.
Từ
Situ Tulku ngài nhận sơ giới và đại giới, và mọi giáo huấn
được truyền cho ngài. Sau này ngài công nhận Situ Tulku thứ
chín và dạy cho mọi thứ. Shamar Tulku để nhiều năm làm sống
lại Chánh pháp ở Tây Tạng và rồi hành hương qua Nepal.
Trong
khi ngài đang ở Nepal, chiến tranh xảy ra giữa xứ này và
Tây Tạng. Ở Lhasa, một tổng trưởng có thế lực của phái
Gelugpa là Tagtsag Tenpai Gonpo, ý thức được cơ may chính trị
và tố cáo rằng Shamar Tulku xúi giục chiến tranh với Nepal.
Ông tịch thu đại tu viện Yang Chen của Shamarpa và một lệnh
được chính phủ thông qua tuyên bố rằng mọi chùa của Shamarpa
phải trở thành phái Gelugpa và ngài sẽ không tái sanh lại
nữa. Chiếc Mũ Đỏ để làm lễ được chôn dưới nền chùa
của Shamarpa ở Lhasa và công trình này trở thành một nhà
nghị viện. Thật ra Shamar Tulku cố gắng hòa giải với người
Nepal và ngài thăm Nepal chỉ vì lý do hành hương. Ngài trao
tặng một chuông lớn cho tháp Swayambhu ở Kathmandu (hiện vẫn
còn) và ra đi ở Nepal vào năm năm mươi tuổi. Ngài có nhiều
đệ tử quan trọng. (1742-1792)
Ghi
chú : Từ lúc Shamar Tulku thứ mười ra đi vào năm 1792 cho đến
cuối thế kỷ thứ mười chín không có vị Shamarpa nào được
chính thức công nhận. Nếu không như thế sẽ lãnh chịu sự
giận dữ của các viên chức nhà nước của phái Gelugpa, họ
đã tịch thu tất cả tu viện và tài sản của Shamar Tulku.
Lời bình luận của đức Karmapa thứ mười sáu Gyalwa Karmapa
về giai đoạn này :
“Phước
đức càng ngày càng giảm sút, có nhiều sự can thiệp của
chính trị. Đen bị thành trắng. Thật trở nên giả. Trong
thời gian ấy không có thích hợp để có bất kỳ vị Shamarpa
nào được công nhận và lên ngôi. Mọi sự việc đều giữ
kín. Các hậu thân vẫn xuất hiện, nhưng không được khám
phá.”
(11)
Vị
Shamar Tulku thứ mười một, JAMBYANG RINPOCHE, sống hầu hết
ở miền bắc Tây Tạng. Ngài là con của Karmapa Kha Chab Dorje
nhưng âm thầm không được biết. Ngài thực hành thiền định
trong các vùng xa vắng, nhận các giáo huấn và lễ truyền
pháp, nhưng không hề tham dự vào đời sống tu viện. Ngài
trở thành hoàn hảo như là một thành tựu giả, để lại
dấu chân trên những tảng đá ở Shawa Trak, bắc Tây Tạng.
Ngài là một Lạt ma rất thánh thiện và ra đi vào năm 1947,
nhưng chỉ ít người biết. (1895-1947)
(12)
Vị
Shamar Tulku thứ mười hai, TINLAY KUNCHAP, sanh ngày 1 tháng 1 năm
con Cọp đực Kim (1948). Ngài được công nhận bởi Karmapa
thứ mười sáu và ở tu viện Tsurphu. Ngài ra đi vào lúc một
năm hai tháng tuổi. (1948-1950)
(13)
Vị
Shamar Tulku thứ mười ba, CHOSKYI LODRU, sanh ngày 3 tháng 8 năm
con Rồng đực Thủy (1952) ở lâu đài Athup xứ Derge, miền
đông Tây Tạng. Trước khi ngài sanh, Situ Tulku thứ mười một
đã tiên báo rằng một trong những hậu thân cao cấp nhất
của phái Kagyu sẽ sanh tại đó. Khi ngài sanh ra, bầu trời
đầy cầu vồng, một cái làm thành hình cái lều ngay trên
lâu đài. Mọi nước trong vùng biến thành trắng sữa, báo
hiệu cho dân chúng biết một cuộc đản sanh kỳ diệu. Ở
tu viện cổ Yang Chen của các vị Shamarpa có một pho tượng
Bồ tát Hộ Pháp cưỡi một con ngựa. Vào thời điểm ngài
Shamar Choskyi Lodru ra đời, con ngựa đã khạc ra vài miếng
xương cừu. (Sau khi tu viện bị sung công, các miếng xương
này được đặt trong mõm ngựa.)
Lúc
sáu tuổi, em bé được đưa đến tu viện. Người bảo mẫu
cõng ngài trên lưng, đi vòng quanh lâu đài, thình lình ngài
chỉ vào những Lạt ma và các vị tăng đi từ phía cửa tây
đến và nói : “Đây là các vị Lạt ma và các tăng sĩ của
tôi.” Họ là người đến từ tu viện Yang Chen.
Vị
Gyalwa Karmapa thứ mười sáu xác nhận đây là hậu thân mới
của Shamarpa nhưng vì luật của các nhà lãnh đạo phái Gelugpa,
cấm nhận ra các hóa thân của Shamar nên ngài không tiết lộ
sự kiện này một cách công khai. Trước khi rời Tây Tạng,
cậu bé được bí mật đưa tới tu viện Yang Chen, ở đây
cậu chỉ ra các bức tượng của những hóa thân trước của
mình và mô tả những sự kiện của mỗi lần tái sanh đó.
Khi chín tuổi, Shamar Tulku được vị Gyalwa Karmapa đương nhiệm
đưa đến Sikkim. Karmapa đã thảo luận về sự nhìn nhận
của ông với đức Đạt Lai Lạt Ma. Đức Đạt Lai Lạt Ma
trắc nghiệm bằng thiền định và bằng giấc mơ, có được
kết quả hữu lý. Đặt ra ngoài mọi sự can thiệp chính trị
trong quá khứ, đức Đạt Lai Lạt Ma cho phép phục hồi tước
danh của Shamar Tulku.
Một
tháng trước dự kiến tôn phong ngài Shamar Tulku, ngài đi với
người anh, Jigme, viếng thăm Dharamsala và được diện kiến
đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn đương nhiệm, người
đã xác quyết sự phục hồi chính thức của ngài. Sự việc
được xếp đặt không bị sự phản đối nào. Vào ngày 15
tháng 4 năm con Rồng Mộc (1964), Shamar Tulku Choskyi Lodru tái
sanh thứ mười ba, được tôn phong bởi Ngài Karmapa trong tu
viện cũ Rumtek ở Sikkim. Ngài hiện đang theo học với đức
Gyalwa Karmapa ở tu viện Rumtek mới. Lúc này ngài hai mươi mốt
tuổi (1972).
PHỤ
LỤC (B)
DÒNG
SITU
HẬU
THÂN
Thứ
I CHOSKYI GYALTSEN (1377-1448)
Thứ
II TASHI NAMGYAL (1450-1497)
Thứ
III TASHI PALJOR (1498-1541)
Thứ
IV CHOSKYI GOCHA (1542-1585)
Thứ
V CHOSKYI GYALTSEN PALZANG (1586-1657)
Thứ
VI MIPHAM CHOGYAL RABTEN (1658-1682)
Thứ
VII NAWE NYIMA (1683-1698)
Thứ
VIII CHOSKYI JUNGNES (1700-1774)
Thứ
IX PADMA NYINGCHE WANGPO (1774-1853)
Thứ
X PADMA KUNZANG CHOGYAL (1854-1885)
Thứ
XI PADMA WANGCHUK GYALPO (1886-1952)
Thứ
XII PADMA DONYO NYINGCHE WANGPO (1954-)
CÁC
HÓA THÂN CỦA DÒNG SITU
(Phái
Mũ Đỏ Karma-Kargyudpa)
Trước
khi có vị Situ Tulku đầu tiên, dòng được thành lập bởi
ba vị đại sư Yogi :
(1)
Drogon Rechen (1088-1158)
(2)
Naljor Yeshe Wangpo (1220-1281)
(3)
Rigowa Ratnabhadra (1281-1343)
Drogon
Rechen sanh tại Nyamo Shung ở Yarlung, miền nam Tây Tạng. Khi
còn bé, vầng cầu vồng thường được thấy trên đầu cậu.
Lúc chín tuổi, đi học xa với thầy Drogompa. Cậu nhận được
những giáo huấn về nội hỏa và nhập môn pháp Chakra-samvara.
Cậu có một linh kiến về Dusum Khyenpa, vị Karmapa thứ nhất,
và được ngài dạy những giáo huấn bằng một phương pháp
bí truyền. Những điều này ngài đã truyền đạt cho Gyalsay
Bom Trakpa. Sau một đời đắm chìm trong thiền định, ngài
ra đi ở tuổi bảy mươi. Có rất nhiều điềm lành hiện
ra. Dòng thiền của ngài đã truyền lại cho ngài Naljor Yeshe
Wangpo và chuyển tiếp đến Rigowa Ratnabhadra.
(1)
Vị
Situ Tulku đầu tiên, CHOSKYI GYALTSEN, sanh tại miền Karma Gon.
Ngài trở thành môn đồ của Debzhin Shegpa, Karmapa thứ năm
và từ vị này, ngài được nhập môn và dạy dỗ toàn bộ
Đại Ấn. Ngài đã hoàn thiện các giáo lý và du hành đến
Trung Hoa với Karmapa. Hoàng đế Trung Hoa Tai Ming Chen (Yung Lo)
phong tặng danh hiệu danh dự Tai Situ cho ngài. Ngài đã trải
qua phần lớn cuộc đời trong thiền định nơi hang sâu và
là một Lạt ma sâu sắc. (1377-1448)
(2)
Vị
Situ Tulku thứ hai là ngài TASHI NAMGYAL, sanh trong gia đình hoàng
tộc ở Tây Tạng và được ngài Thongwa Donden, vị Karmapa thứ
sáu tìm thấy. Ngài được thầy tôn phong và trao cho toàn bộ
giáo huấn. Ngài là vị Lạt ma xuất sắc, trở thành vừa
là bạn vừa là thầy của Chodrag Gyalsho, vị Karmapa thứ bảy.
Ngài đã thăm viếng, giảng dạy và làm lễ nhập môn cho rất
nhiều nơi ở Tây Tạng. Lúc ngài viên tịch, có rất nhiều
điềm lành. (1450-1497)
(3)
Vị
Situ Tulku thứ ba, TASHI PALJOR, được Karmapa thứ bảy tìm thấy,
tuyên phong và trao cho toàn bộ giáo huấn. Ngài đã hoàn thiện
chúng và sau đó ngài xác nhận vị Karmapa thứ tám, Mikyo Dorje.
Ngài truyền thụ tất cả giáo huấn cho Karma Tinlaypa. Sau đó,
ngài viên tịch tại Karma Gon. (1498-1541)
(4)
Vị
Situ Tulku thứ tư, CHOSKYI GOCHA, sanh tại Tse Chu gần Surmang.
Ngài được Mikyo Dorje, vị Karmapa thứ tám nhận ra và tôn
phong. Từ vị thầy ngài đã nhận tất cả các giáo huấn.
Sau đó ngài tìm ra Wangchuk Dorje, vị Karmapa thứ chín. Không
bao lâu sau đó ngài viên tịch, có rất nhiều điềm lành.
(1542-1585)
(5)
Vị
Situ Tulku thứ năm, CHOSKYI GYALTSEN PALZANG, sanh năm con Chó Lửa
đực (1586). Ngài được vị Karmapa thứ chín Wang-chuk Dorje
nhận ra và giáo huấn. Ngài xây tu viện Yer Mo Che (với một
trăm sáu mươi cột ở chánh điện) và được đức Karmapa
tặng cho một Mũ Đỏ. Ngài viên tịch vào năm con Chim Hỏa
(1657), có nhiều điềm lành tột bực. (1586-1657)
(6)
Vị
Situ Tulku thứ sáu, MIPHAM CHOGYAL RABTEN, sanh tại Meshod. Ngài
được vị Karmapa thứ mười, Chos Ying Dorje tìm ra và tôn phong.
Ngài thi triển thần thôngï : treo cái y và chuỗi tràng hạt
của ngài trên một tia nắng và để lại những dấu chân
trên tảng đá. Ngài dành một ít thời gian để nghiên cứu
tại các tu viện Tsurphu và Karma Gon. Ở đó, trí huệ sâu sắc
và sự học uyên bác của ngài đã in sâu trong lòng mọi người.
Situ
Tulku là một đại học giả tiếng Sanskrit, một chiêm tinh,
một bác sĩ và là họa sĩ tài hoa. Ngài làm những Thangkas
đẹp đẽ, và ngài cũng viết những bản “Sung Bum” (bảng
tóm tắt về tất cả kiến thức). Ngài được vị Karmapa
thứ mười truyền cho toàn bộ giáo huấn. Ngài báo trước
chi tiết của sự tái sanh trong tương lai và rồi đến Ri Wo
Cha Gang ở Trung Hoa, ở đó ngài viên tịch. Lúc đó có nhiều
điềm lành. Môn đệ của ngài rất nhiều. (1658-1682)
(7)
Vị
Situ Tulku thứ bảy, NAWE NYIMA, là con trai của gia đình hoàng
tộc họ Ling. Ngài được nhận ra lập tức là một tái sanh
và được nhận vào học tại một học viện của phái Sakya.
Ngài viên tịch khi còn rất trẻ, chỉ mới nhận được điều
cốt lõi của giáo huấn. (1683-1698)