CƯƠNG
YẾU GIỚI LUẬT (Tiếp Theo)
46.
Sáu trường hợp tâm niệm sám diệt tội Tăng tàn.
47.
Sám hối tội Ba-la-di và Tăng tàn.
48.
Sám hối tội Thâu-lan-giá.
49.
Sám hối tội Ba-dật-đề, Đề-xá-Ni, Đột-kiết-la.
50.
Mười tám việc đưa đến phá hòa hợp Tăng: phá kiết-ma
Tăng, phá Pháp
luân
Tăng
46.
Sáu trường hợp sám diệt tội Tăng tàn.
Lại
có một bổn khác trong Hành Sự Sao quyển hạ, nói ý hơi khác
một chút. Cũng nói có 6 hạng người phạm Tăng tàn có thể
tâm niệm sám (bên Căn Bổn Tát-bà-đa bộ thì đối thủ sám)
của Đạo Tuyên luật sư, Tổ sáng lập Luật tông viết.
1.
Hạng Thượng tọa phạm Tăng tàn. Khi thấy như thế các người
khác sinh tâm kiêu mạn, tức họ cũng có lỗi, cũng mất nhờ,
cho nên đức Phật nói: nếu Thượng tọa đó nhất tâm sinh
niệm sám hối thì được thanh tịnh
2.
Hạng Thượng Tọa mà cả Tăng, tục thiện hữu đa số điều
biết tiếng tăm. Đối với hạng này nếu có phạm Tăng tàn
cũng không xử như người khác, đem ra giữa chúng Tăng đủ
hai mươi Tăng xuất tội, mà họ có thể tâm niệm sám thì
được thanh tịnh.
3.
Hạng đa tàm quý. Là hạng người mà động tịnh gì là biết
tàm quý, nếu đem ra giữa chúng Tăng đông đủ hai mươi Tăng
xuất tội họ mắc cỡ có thể xả giới bỏ tu, hay có thể
xấu hỗ chết đi thôi vì họ nhạy cảm. Nếu họ tâm niệm
sám thì được thanh tịnh.
4.
Là hạng người bịnh quá nặng, giữ không được, không đủ
sức mà sám hối...
5.
Là hạng người ở trú xứ một mình mà phạm Tăng tàn, không
đủ 20 vị Tỳ-kheo thanh tịnh để cầu sám hối, mà đi qua
xứ khác thì gặp giặc, bị giặc hại mà chết, tự nhiên
mọi sự đều hết, nên họ có thể tâm niệm sám.
6.
Là ở trong chúng Tăng của mình đang ở, không có ai thanh tịnh
hết. Vị này biết lỗi, đi qua xứ khác tìm các vị Tăng
thanh tịnh để xin sám hối, nhưng lo đi giữa đường bị
giặc giết chết, sự việc cũng hết.
Sáu
hạng này, đức Phật nói nhất tâm sinh niệm như pháp sám
hối thì người đó được thanh tịnh, khi chết được sinh
Thiên thượng.
47.
Sám hối tội Ba-la-di và Tăng tàn.
Chúng
của Phật có chúng 20 người, có chúng 10 người, có chúng
4 người, có chúng 3 người, có chúng 1 người và tự tâm
sám. Chúng 10 là chúng khi thọ Đại giới. Trong giới của
Phật chế, thì tội Ba-la-di là tội nặng nhất. Muốn sám
hối thì phải sám với 20 người. Nhưng nói tội Ba-la-di mà
sám hối với chúng 20 người được sao? Vì Ba-la-di là tội
bất khả sám. Nhưng khi nói sám với 20 người là trường
hợp người phạm biết ăn năn hối hận, nếu bắt tội không
cho sám thì họ có thể buồn nản và tự tử. Họ thương
chiếc áo Ca-sa, ưa đời sống tu sĩ quá, vì vậy khi phạm
họ cũng rất ăn năn hối hận. Trường hợp này luật cũng
cho phép họ học pháp Ba-la-di. Người muốn học pháp Ba-la-di
cũng đối trước chúng Tăng 20 người để xin phép và chúng
Tăng 20 người kiết-ma cho phép học pháp Ba-la-di. Khi được
phép rồi vẫn không được tham dự Tăng sự, chỉ được
giữ hình thức tu sĩ ở trong chùa. Trường hợp sám với 20
người là trường hợp này, nên chỉ dành cho Tăng chứ Ni
không có chuyện sám này.
Muốn
sám hối lội Tăng tàn thì sám hối với ai? Tăng phạm tội
Tăng tàn, nếu không che dấu thì trong sáu đêm hành Ma-na-đỏa,
phải sám hối trước Tăng 4 vị trở lên. Còn Ni thì trong
15 hôm hành Ma-na-đỏa, phải sám hối trước hai bộ Tăng,
mỗi bộ 4 vị trở lên. Khi tác pháp xuất tội, thì phải
đủ 20 vị Tăng xuất tội cho Tăng, và 20 Tăng, và 20 Ni xuất
tội cho Ni. Nếu thiếu thì tội Tăng tàn không hết.
48.
Sám hối tội Thâu-lan-giá.
Muốn
sám hối tội Thâu-lan-giá thì sám với ai? Tùy theo thượng
phẩm, trung phẩm, hạ phẩm Thâu-lan-giá mà sám. Thượng phẩm
sám với 20 người, trung phẩm sám với 4 người, hạ phẩm
sám với 3 người. Tội này thì sám hối được.
49.
Sám hối tội Ba-dật-đề – Đề-xá-Ni – Đột-kiết-la.
Sám
hối tội Ba-dật-đề thì trước một người, Đề-xá-ni cũng
vậy. Còn tội Đột kiết la sám hối với ai? Không sám hối
với ai hết, mà khi xảy ra, mình tự trách lấy lòng mình thôi.
Thí dụ, khi mình làm điều gì đó biết là sai, nghĩ rằng:
Tôi ăn năn quá, bậy quá, mình làm điều đó sai quá, sau này
không nên làm nữa. Thế là hết tội.
Muốn
sám hối thì phải tìm vị Tỳ-kheo nào không có tội mà sám,
còn tìm những vị có tội mà sám thì cá mè một lứa, coi
như huề, không sám chi hết.
Tăng,
Ni là chúng xuất gia, Ni có nhiều giới hơn. Cho nên có những
giới Ni, Tăng đồng nhau, nhưng cũng có những giới Ni, Tăng
khác nhau. Phạm cũng như thế. Trong giới sát, đạo, dâm, vọng,
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni phạm thì ghép vào tội Ba-la-di, còn Sa-di,
Sa-di-ni phạm thì tội Đột kiết la, đuổi ra khỏi chùa mà
thôi. Vì Sa-di, Sa-di-ni không cùng cọng trú kiết giới, cho
nên có phạm cũng không gọi là phạm tội bất cọng trú,
chỉ không cho thọ giới tiếp mà thôi.
50.
Mười tám việc đưa đến phá hòa hợp Tăng.
Trong
Học pháp có một giới cần phải nhận định rõ, là giới
phá hòa hợp Tăng. Tăng từ 4 vị trở lên, không biệt chúng
mà đồng một kiết-ma, đồng thuyết một giới, gọi là Tăng
hòa hợp. Có 18 việc dẫn đến sự phá Tăng hòa hợp:
1.
Pháp nói là phi pháp (như Tám thánh đạo là con đường duy
nhất đưa đến Niết-bàn, lại cho không phải hoặc không
duy nhất).
2.
Phi pháp nói là pháp (trái với trên).
3.
Luật nói là phi Luật (Tám thánh đạo là nền tảng của Luật,
lại nói là không phải. Hoặc bốn Thánh chủng là Luật, lại
cho là không phải Luật).
4.
Phi Luật nói là Luật (trái với trên).
5.
Phạm nói là không phạm.
6.
Không phạm nói là phạm.
7.
Phạm khinh nói là phạm trọng.
8.
Phạm trọng nói là phạm khinh.
9.
Phạm hữu tàn nói là vô tàn (tàn là dư tàn; phạm những
tội có thể sám hối là hữu tàn, còn tội Ba-la-di không thể
sám hối gọi là vô tàn).
10.
Phạm vô tàn nói là tàn (trái với trên).
11.
Tội thô ác nói là phi thô ác.
12.
Tội phi thô ác nói là thô ác.
13.
Thường sở hành nói là phi thường sở hành (pháp thường
sở hành chỉ cho tám Thánh đạo, pháp phi thường sở
hành chỉ cho 5 điều của Đề-bà-đạt-đa).
14.
Phi thường sở hành nói là thường sở hành.
15.
Chế nói là phi chế (Điều luật Phật cấm chế nói là không
phải cấm chế).
16.
Phi chế nói chế (trái với trên).
17.
Thuyết nói là phi thuyết (những điều do chính Phật dạy
nói là không phải).
18.
Phi thuyết nói là thuyết.
Duyên
khởi từ Đề-bà-đạt-đa.
Trong
Luật nói phá Tăng có hai thứ: Phá kiết-ma Tăng và phá pháp
luân Tăng.
–
Phá kiết-ma Tăng: Là ở cùng trong một giới, tách ra để
Bố-tát riêng, hoặc phá không để cho Tăng kiết-ma.
–
Phá pháp luân Tăng: Pháp luân gọi là Bát chánh đạo... Phật
chuyển Pháp luân, chuyển Tứ đế, Bát chánh đạo pháp luân.
Bây giờ khiến Tăng bỏ Bát chánh đạo của Phật để nhập
vào tà đạo gọi là phá pháp luân Tăng. Trường hợp phá
pháp luân Tăng phạm tội ngũ nghịch, nhưng nó là tội khả
hối, chứ không phải là tội Ba-la-di, mà là tội Tăng tàn.
Còn phá kiết-ma Tăng không phải tội ngũ nghịch mà là tội
khả sám thuộc Thâu-lan-giá. Phá pháp luân Tăng ít nhất là
phải có chín người. Trong chúng 9 người đó tách ra 5 người,
một người xưng là Phật và đưa ra một giáo thuyết khác
với Phật, bốn người kia phụ họa theo giáo thuyết tự xưng
là Phật đó. Như vậy là họ phá chúng Tăng đang nghe theo
pháp luân của Phật nên gọi là phá pháp luân Tăng. Phá pháp
luân Tăng chỉ xảy ra khi Phật còn tại thế. Còn sau khi Phật
nhập diệt không còn nạn phá phá pháp luân Tăng nữa. Dầu
các Tổ bên Trung Hoa có lập ra tông này phái nọ, không phải
là phá pháp luân Tăng, bởi vì các Tổ đều tôn Phật làm
giáo chủ. Thứ đến, như hiện nay bà Thanh Hải tự xưng là
Vô thượng sư hay ở nước ta có người tự xưng là U minh
giáo chủ, hay là gì gì đi nữa cũng không thành vấn đề,
vì họ không phải là Tỳ-kheo, nên cũng không phải là phá
pháp luân Tăng, vì họ có thành Tăng đâu mà gọi là phá Tăng.
Phá pháp luân Tăng là Tỳ-kheo Đề-bà-đạt-đa đi tranh với
Phật, rủ thêm bốn người là Tỳ-kheo Tăng-bạt, Kiển-trà-bạt-đà,
Câu-bà-li, Ca-lưu-đề-xá với thầy (tức Đề-bà-đạt-đa)
là năm, kết bạn với nhau, khất thực từ nhà nọ đến nhà
kia. Phật nói các thầy không được biệt chúng khất thực
như vậy, Tỳ-kheo Đề-bà-đạt-đa tức giận mà nói: “Như
lai Sa môn đã chặn đứng miếng ăn của người khác cho nên
thầy rắp tâm phản, tách riêng thành chúng và xướng lên
5 pháp khác với Phật, cho hơn Phật”.
–
Thứ nhất: Phật chế: Thường hành khất thực, thứ đệ
khất thực, nếu có ai mời ăn thì chấp nhận, nếu có ai
hỷ cúng cũng chấp nhận. Bây giờ Đề-bà-đạt-đa làm trái
lại lời Phật. Thầy chủ trương ai cúng cũng không ăn, ai
mời thọ thực cũng không nhận, ai cho thầy cũng không lấy,
chỉ có đi khất thực mà ăn thôi.
–
Thứ hai: Phật chế: Phấn tảo y, tức y lượm vải vứt bỏ
ở bãi tha ma, đem về tẩy rửa cho sạch mà may y. Tuy nhiên,
nếu có ai cúng y cũng nhận lãnh. Bây giờ thầy chủ trương:
phấn tảo y là y chính, còn ai cúng y mới thầy cũng không
nhận.
–
Thứ ba: Phậl chế: Lộ địa tọa hay thọ hạ tọa, nhưng
nếu có ai cúng tinh xá, cúng chùa thì cũng ở. Thầy nói không
được, thầy chỉ ngồi đất trống hay dưới gốc cây mà
thôi. Còn nếu ai cúng chùa, tinh xá, giảng đường thầy cũng
không nhận.
–
Thứ tư: Phật chế: Không được ăn bơ, dầu để cách đêm.
Thầy nói không cách đêm cũng không được ăn.
–
Thứ năm: Phật chế: Tùy thí đắc thực, được phép thọ
tam tịnh nhục là bất kiến, bất văn, bất nghi (tức không
thấy người ta giết, không nghe tiếng kêu của vật bị giết
và không nghi người ta giết để cúng cho mình). Thầy chủ
trương,
dầu có cúng cũng không ăn.
Năm
pháp đó ngược lại bổn ý của Phật. Thầy chế ra giới
của thầy không dính gì với Bát chánh đạo. Bát chánh đạo
là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh
mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Phật cho
tu như vậy mới đắc đạo, nhưng thầy nói tu như thầy mới
đắc đạo, bằng cách chế năm đỉều như trên, không cần
Bát chánh đạo. Thầy chế ra một giáo thuyết và thầy tự
xưng Phật, nên thầy bị ghép vào tội phá pháp luân Tăng.
Nhưng tội đó theo Luật là tội Tăng tàn. Nếu phá như vậy
mà không ai can ngăn cả, cũng không phải là tội Tăng tàn.
Tội Tăng tàn như trong Luật nói là nếu có bạch tứ kiết-ma
can gián xong, mà thầy không bỏ mới mắc tội, nhưng mới
bạch nhị kiết-ma mà thầy bỏ thì chỉ phạm Thâu-lan-giá.
Có những trường hợp làm nhưng không phạm là trường hợp
mới ngăn đã bỏ. Thứ hai là khi Phật chưa chế giới đó.
Thứ ba, nếu chúng Tăng muốn kiết-ma một tội nào mà phi
pháp biệt chúng kiết-ma, phi pháp hòa hiệp chúng kiết-ma,
như pháp biệt chúng kiết-ma, như pháp tương tợ biệt chúng
kiết-ma, như pháp tương tợ hòa hợp chúng kiết-ma, thì đều
vấp phải kiết-ma phi tướng, dầu có 3 lần khuyên, mà vì
kiết-ma không đúng đó, kết tội cũng không thành.
Cho
nên bên xử tội phải đúng tư cách một ông Luật sư làm
đủ thủ tục mới kết tội được, trái lại, không phải
là Luật sư, làm không đúng thủ tục thì lại càng không
kết tội người ta được, mặc dầu người đó có tội.
Ví dụ, nếu thầy là ông Tăng, thầy đang sửa soạn phá hòa
hợp Tăng, nhưng tôi chặn hành động phi pháp ấy lại dầu
tình giữa thầy và tôi có sức mẻ, cũng không gọi là phá
Tăng. Hoặc kết tập một, hai, ba người làm kiết-ma để
phá Tăng, cũng không gọi là phá Tăng, vì không đủ 5 người.
Hoặc phá những kẻ ác tri thức, những người muốn làm tổn
hại hay sắp sửa làm tổn hại cho Tăng, cho pháp, cho Hòa thượng,
cho A-xà-lê, làm cho mất chỗ ở, cũng không gọi là phá Tăng.
Phá
pháp luân Tăng này, bất kỳ Tăng cùng ở nội giới, ngoại
giới đều phá được hết. Còn phá kiết-ma Tăng là cùng
ở trong một giới mới phá kiết-ma Tăng được. Phá pháp
luân Tăng chỉ có Tỳ-kheo, còn Ni không phá được, vì Ni không
làm Phật được, nên không phá được. Phá kiết-ma Tăng là
phải ngồi chung lại kiết-ma, bỏ thăm, tách ra mới phá, chứ
không phải tới ngày Bố-tát bỏ đi chơi gọi là phá Tăng.
Thí dụ hôm nay có 20 người, mới vô giới trường 12 người,
còn 8 người bỏ đi chơi. Tám người không vô đó gọi là
phá được không? Không được. Khi nào ngồi lại bỏ thăm,
có người xúi sử không chịu ngồi chung với nhau nữa, tách
ra Bố-tát riêng biệt giới mới gọi là phá kiết-ma Tăng.
Nếu có ai vô trong giờ Bố-tát mà la lối ồn ào cũng không
phải là phá kiết-ma Tăng. mà chỉ phạm tội ô cấu Tăng,
phá pháp lục hòa, phạm pháp nhưng không phạm giới. Nếu
biết một số người muốn phá Tăng, thì các vị Tỳ-kheo
nên can họ đừng phá, vì phá Tăng mang tội nặng lắm, bị
đọa địa ngục, khổ sở vô cùng. Và dụ dỗ họ: Nếu thầy
cần y tôi cúng y, cần áo tôi cúng áo, cần tứ sự cúng dường
tôi xin cúng hết. Nếu thầy đó không chịu thì nên đến
vị ưu-bà-tắc thân cận thầy đó, nhờ khuyên họ đừng
phá Tăng mà mang tội, thôi đừng nên phá Tăng, nếu cần gì
tôi xin cúng dường hết. Thậm chí, nếu thầy tu không được,
thì tôi sẽ cưới vợ cho, nhưng thầy đừng phá Tăng. Thế
cho hay, trong Luật nói, khi một người làm ông Tăng, Phật
thấy quý lắm, vì thấy quý cho nên thầy lỡ có phạm giới
thì cũng tìm đủ mọi cách để giải sự phạm giới của
thầy, chứ không trị liền. Phải ba lần can gián đã, trước
khi can gián thì phải nhờ ông này bà kia có thân có thế đến
can đến khuyên, dụ dỗ vật chất khuyên đừng phá Tăng.
Nếu tu không được thì tôi cưới vợ giúp đỡ, chứ đừng
phá Tăng. Nếu cố tình không chấm dứt, thì bắt thăm, khu
xuất ông đi ra khỏi chỗ ấy mà thôi. Khi đã đuổi ra khỏi
địa phương ấy rồi thì phải xướng lên rằng: “Các Đại
đức, ông phá Tăng đi đến chỗ đó nên thận trọng, chớ
để cho người khác họ lầm, đi theo”. Cho nên, khi đã kiết-ma
trục xuất thì ông đi đến đâu phải thông báo cho họ biết,
để cảnh báo họ kẻo họ không biết chúng Tăng đuổi ông
đó.
Nói
tóm, có 2 cách phá hòa hợp Tăng:
1.
Phá pháp luân Tăng: Trường hợp Đề-bà-đạt-đa phá pháp
luân Tăng khi Phật tại thế. Sau khi Phật nhập diệt không
có phá pháp luân Tăng. Cách thức phá là: tự xưng Phật riêng,
có pháp riêng, không nghe theo pháp luân của Phật.
2.
Phá kiết-ma Tăng: Trường hợp trong cùng một kiết giới,
cùng một thuyết giới, cùng một kiết-ma, đồng giới. Tất
cả mọi việc gì cũng cùng một kiết-ma hết. Nhưng bây giờ
có người sinh sự, lập ra một nhóm tạo ra sự bất hòa,
rồi đưa đến kiết-ma, tập hợp lấy biểu quyết kiết-ma
tách ra làm hai nhóm, gọi là phá kiết-ma Tăng.