I. Giới
bổn Bồ tát tại gia
Giới:
Tiếng Phạn Sila, theo nghĩa, dịch là giới. Giới [theo nghĩa
hẹp] là những điều cấm chế, có công năng làm cho hành
giả đề phòng, chế ngự thân, tâm, không cho phạm vào lỗi
lầm (Hán: phòng phi chỉ ác). Giới là tiêu chuẩn quy định
đệ tử Phật hành động thế nào là đúng pháp, hành động
như thế nào là không đúng pháp.
Giới
còn có nghĩa là "mát mẽ (Hán: thanh lương)". Ba nghiệp (thân,
khẩu, ý) giống như cơn lửa phiền não đốt cháy hành giả,
còn giới thì có thể dập tắt cơn lửa phiền não, làm cho
hành giả mát mẽ, cho nên gọi là "thanh lương".
Giới
là bậc thang cho tất cả pháp lành, trong đó có bốn giai tầng
là ngũ giới, bát giới, thập giới, và cụ túc giới. Phật
tử nếu muốn từ địa vị phàm phu vượt lên thánh vị,
phải theo thứ tự này mà tiến bước. (Ðây là nói theo Tiểu
thừa, còn theo Ðại thừa, giới pháp Bồ tát bao quát cả
bốn giai tầng này.)
Giới
có công năng giúp cho hành giả ngăn chận pháp ác, đoạn trừ
tất cả tập khí ác, diệt tận phiền não loạn tưởng, chứng
đắc Niết bàn. Kinh Tăng Nhất A Hàm nói: "Ðược gọi là
giới, bởi vì nó có thể giúp hành giả diệt trừ các việc
ác. Giới có thể giúp hành giả viên thành đạo quả, làm
cho mọi người hoan hỷ. Giới, gọi là anh lạc trang nghiêm,
vì làm cho hành giả hiện tướng trang nghiêm. Giới cấm của
chư Phật, như bình Cát tường, tất cả nguyện cầu đều
được toại ý; tất cả đạo phẩm đều do giới mà thành
tựu. Như vậy, này các tỳ kheo! Kẻ nào tuân hành giới cấm,
thì kẻ đó sẽ được đại quả báo, các điều lành sẽ
đến. Kẻ đó được vị cam lộ, đến quả vị "vô vi", sẽ
được thần thông, diệt trừ loạn tưởng, chứng đắc "sa
môn quả", sẽ được Niết bàn."
Bồ
tát: Bồ tát là gọi tắt của "Bồ đề tát đỏa", là dịch
âm từ chữ Phạn Bodhisattva. "Bồ đề" dịch là giác, còn
"tát đỏa" dịch là hữu tình, hợp lại gọi là "giác hữu
tình", có nghĩa là bất cứ đệ tử nào của Phật, hễ phát
tâm "trên cầu Phật đạo, dưới độ hữu tình", thì kẻ
đó được gọi là Bồ tát.
Tại
gia: Ðệ tử của Phật được chia làm hai hạng xuất gia và
tại gia. Tại gia gồm hai chúng là ưu bà tắc và ưu bà di.
Ưu bà tắc, là dịch âm từ chữ Phạn upasika, theo nghĩa, được
dịch là cận sự nam, hoặc cận thiện nam, hoặc cận túc
nam, v.v... Thế nhưng, chỉ có nghĩa "cận sự nam" là chính
xác nhất. "Cận", có nghĩa là thân cận (gần gũi), "sự" có
nghĩa là phụng sự, tức là thân cận phụng sự Tam bảo.
Người nam gọi là ưu bà tắc, người nữ gọi là ưu bà di.
II. Sáu giới
trọng:
(1)
Giới giết hại:
Chư
Phật tử! Sau khi thọ giới Bồ tát tại gia, dù cho mất thân
mạng, ngay đến loài trùng kiến, cũng không được giết hại.
Nếu phạm giới giết hại, hoặc bảo người giết, hoặc
tự mình giết, sẽ lập tức mất giới Bồ tát; trong hiện
đời, không thể chứng được noãn pháp, huống hồ là thánh
quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm. Kẻ đó là Bồ tát
phá giới, Bồ tát xú uế, Bồ tát cấu ô, Bồ tát chiên đà
la, Bồ tát bị triền phược. Ðây là giới trọng thứ nhất.
Dù
cho mất thân mạng, ngay đến loài trùng kiến, cũng không được
giết hại: Ðối với cảm quan của loài người, cho rằng
trùng, kiến là những loài vật bé nhỏ, cho nên coi thường
sinh mệnh của chúng. Khi giết hại những loài trùng kiến
này, không những không cảm thấy xúc động, mà nhiều khi
lại còn cảm thấy "thích thú". Thế nhưng, đối với Phật
pháp, tất cả sinh mệnh của chúng sanh đều bình đẳng. Sinh
mệnh của loài trùng kiến cũng là sinh mệnh của chính chúng
ta. Nếu chúng ta biết yêu tiếc thân mệnh mình, thì loài trùng
kiến cũng biết yêu tiếc thân mệnh của chúng. Do đó, chúng
ta không có quyền tước đoạt sinh mệnh của bất cứ loài
vật nào.
Vì
lý do này, các ưu bà tắc, ưu bà di đã thọ giới Bồ tát,
dù cho hy sinh thân mạng của chính mình, cũng không được
sát sinh; do đó mới nói: "Dù cho mất thân mạng, ngay đến
loài trùng kiến cũng không được sát hại". Ðến như giết
người, thì tội lại càng nặng hơn. Ngoài việc phá giới,
mất giới thể và chiêu cảm ác báo trong tương lai, lại còn
không thể sám hối (Theo Ðại thừa, tuy có thể sám hối,
song sự sám hối cũng không phải dễ dàng, phải thấy được
điềm lành, như thấy Phật đến xoa đầu, hoặc thấy hương
thấy hoa, v.v..., thì tội phá giới mới tiêu diệt, thế nhưng,
ác báo trong tương lai vẫn không bị trừ diệt).
Ðối
với những loài vật nhỏ trong các dạng thái: như sinh ra từ
trứng, sanh nơi ẩm thấp, sinh ra bằng sự biến hóa, v.v...,
nếu vô ý sát hại, tuy không phạm giới, song vẫn phải sám
hối để tiêu trừ nghiệp chướng. Còn nếu cố tâm sát hại,
thì vẫn là phạm vào điều giới này.
Bảo
người giết: (Hán: giáo nhân sát): Có hai loại, (1) sai: là
dùng lời nói, cử chỉ, hay dấu hiệu, cho kẻ thuộc hạ ra
tay sát hại đối phương, dưới sự hiện diện của mình;
(2) khiển: ra lệnh, bằng lời nói hay thư từ, cho thuộc hạ
truy lùng đối phương để sát hại.
Tự
mình giết: nghĩa là tự mình ra tay sát hại. Có ba loại: (1)
hoặc dùng nội sắc: nghĩa là dùng tay, chân, hoặc các bộ
phận khác của thân thể mình, xúc chạm trực tiếp vào thân
thể của đối phương; (2) hoặc dùng ngoại sắc: nghĩa là
dùng dao, gậy, cây, đá, v.v... quăng, ném, phóng vào đối phương;
(3) hoặc dùng nội ngoại sắc: nghĩa là tay cầm dao, gậy,
cây, đá, v.v... xúc chạm vào đối phương.
Mất
giới: tức là mất giới thể. Theo Tiểu thừa, mất giới
thể là vĩnh viễn mất hẳn, không thể sám hối. Thế nhưng,
theo Ðại thừa, mất giới thể, chỉ có nghĩa là giới thể
tạm thời bị mất đi cái công năng "phòng phi chỉ ác (đề
phòng lỗi lầm, đình chỉ việc ác)". Giả như, hành giả
đem tâm cực kỳ thành khẩn sám hối, theo kinh Phạm Võng Bồ
Tát Giới, nếu thấy được điềm lành, như trong mộng thấy
Phật, Bồ tát đến xoa đầu, thuyết pháp, hoặc thấy hương,
thấy hoa, v.v..., thì tội liền được tiêu diệt, và hành
giả có thể thọ giới lại, khôi phục giới thể thanh tịnh
của mình.
Noãn
pháp: Trong giáo pháp Tiểu thừa, trước tiên cần phải vượt
qua bốn giai đoạn, gọi là bốn gia hạnh vị, tức là Noãn
pháp, Ðảnh pháp, Nhẫn pháp, và Thế đệ nhất pháp, sau đó
mới có thể chứng đắcÕ bốn thánh quả Tu đà hoàn, Tư
đà hàm, A na hàm, và A la hán. Muốn biết thêm chi tiết xin
xem Phật học từ điển.
Huống
hồ là thánh quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm: Theo giáo
pháp Tiểu thừa, người tại gia, tối đa, có thể chứng đến
thánh quả A na hàm, chỉ có hàng xuất gia mới chứng được
thánh quả A la hán.
Phá
giới: tức là hủy phạm những giới trọng mà mình đã thọ.
Theo thuật ngữ giới luật, gọi là phạm Ba la di. Ðối với
bốn giới căn bản, dâm, sát, đạo, vọng, nếu phạm trọng
sẽ mất giới thể. Còn hai giới trọng thứ năm và thứ sáu,
tuy cũng phạm trọng, song không mất giới thể.
Xú
uế: nghĩa là mùi hôi thối, mọi người ngửi đến cảm thấy
nhờm gớm. Trong Phật pháp, tất cả điều ác, đều là do
sự tham muốn sanh tử sanh ra, đều bị coi là ô uế. Cho nên
kẻ phá giới, do vì tâm sanh pháp ác, giống như mùi hôi thối
của xác chết, không ai dám ngửi.
Cấu
ô: Chữ cấu, có nghĩa là trần cấu. Bởi vì thân thể bài
tiết ra những chất bất tịnh, kết thành cấu uế nhơ nhớp.
Trong Phật pháp, đem chất cấu nhớp trên thân ví cho vọng
tưởng điên đảo. Tâm tính xưa nay vốn thanh tịnh, bởi do
vọng tưởng điên đảo (phiền não) làm ô nhiễm, mà trở
thành cấu ô (nhơ nhớp).
Chiên
đà la: là giai cấp thấp nhất trong xã hội Ấn Ðộ, chuyên
làm nghề đồ tể. Kẻ Bồ tát tại gia thọ giới, xưa nay
vốn đầy đủ tất cả thiện căn, nếu không giữ gìn giới
pháp, giống như đem tất cả thiện căn ra giết sạch. Ðiều
này giống như bọn đồ tể chiên đà la, dòng dõi thấp hèn.
Bị
triền phược: có nghĩa là bị trói buộc, tức là hành giả
bị phiền não trói buộc, kết hợp, thành thử bị trói buộc
trong sinh tử luân hồi
.
Giới
giết hại, có năm duyên thành phạm trọng: (1) đối phương
là người, (2) tưởng là người, (3) có tâm sát hại, (4) lập
phương tiện, (5) đối phương bị đoạn mệnh.
(Chú
ý: Ở đây chỉ đề cập đến trường hợp phạm trọng,
mất giới thể, thành thử đối tượng cho sự sát hại là
con người, còn như sát hại những sinh vật khác, sẽ phạm
tội nhẹ hơn. Trong giáo pháp Ðại thừa, tuy công nhận tất
cả chúng sanh đều bình đẳng, song hàng tại gia thọ Bồ
tát giới còn đang ở trong giai đoạn "chập chửng" học tập
Bồ tát hạnh, không thể phán tội quá nặng, giống như các
vị Bồ tát đăng địa được. Giả sử, nếu các Bồ tát
thập địa phạm giới sát, thì sẽ phạm trọng mất giới
thể, không kể đối tượng là ai! Còn như các vị tại gia
sơ cơ, nếu bị phán tội giống như các vị Bồ tát thập
địa, e rằng giới luật sẽ trở thành quá khắc khe, không
ai có thể hành trì được. Có lý có tình, đây là tinh thần
của giới luật.)
(2)
Giới Trộm Cắp:
Chư
Phật tử! Sau khi thọ giới Bồ tát tại gia, dù cho mất thân
mạng, ngay đến một đồng tiền, cũng không được trộm
cắp. Nếu phạm giới trộm cắp sẽ lập tức mất giới Bồ
tát; trong hiện đời, không thể chứng được noãn pháp, huống
hồ là thánh quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm. Kẻ đó
là Bồ tát phá giới, Bồ tát xú uế, Bồ tát cấu ô, Bồ
tát chiên đà la, Bồ tát bị triền phược. Ðây là giới
trọng thứ hai.
Trộm
cắp: Ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp là ba hành vi ác. Ý nghĩa
của chúng gần giống nhau, nghĩa là thừa dịp kẻ khác không
chú ý, hoặc không đề phòng, mà đoạt lấy đồ vật của
họ, về làm của riêng của mình. Trong Phật pháp gọi là
"không cho mà lấy" (Hán: bất dữ thủ).
Kẻ
trộm cắp, đầu tiên là do lòng tham muốn, kế đó bắt đầu
dự mưu, tính toán, sau đó thực hành ý đồ của mình, đoạt
lấy của cải của kẻ khác đem về làm của riêng, để thỏa
lòng tham muốn của mình.
Trộm
cắp, không phải là lấy lầm, mà là biết rõ tài vật đó
là của người khác, không phải của mình, hơn nữa, tự mình
không có món vật tương tự như vậy, đây hoàn toàn là một
hành vi "bất chính".
Ngay
đến một đồng tiền: Ðây là dùng số lượng nhỏ để
ví cho số lượng lớn. Chỉ cần lấy trộm một đồng tiền,
cũng đã phạm vào điều giới này, huống chi là lấy trộm
một số tiền lớn hơn. Theo giới luật quy định, nếu trộm
"năm tiền" sẽ phạm trọng, mất giới thể. Thế nhưng, "năm
tiền" là tính theo đơn vị tiền tệ của nước Ma Kiệt Ðà
của vua Tần Bà Sa La vào thời Ðức Phật còn tại thế. Hiện
nay, "năm tiền" trị giá bao nhiêu, khó mà biết một cách chính
xác. Có một số Luật sư Nam truyền, cho rằng "năm tiền"
tương đương với khoảng "hai mươi đô la Mỹ" hiện nay. Thế
nhưng, theo ý người dịch, chỉ trộm "hai mươi đô la" mà
bị mất giới thể, e rằng quy định như thế là quá "nghiêm
khắc". Chỉ có cách là khuyên các vị ưu bà tắc, ưu bà di,
sau khi thọ giới Bồ tát, đối với điều giới này phải
nên rất cẩn thận.
Giới
trộm cắp có sáu duyên thành phạm trọng: (1) vật có chủ,
(2) biết là vật có chủ, (3) có tâm trộm cắp, (4) vật có
giá trị "năm tiền" hay hơn "năm tiền", (5) lập phương tiện,
(6) di động vật rời chỗ, dù chỉ là xê xích một li.
(3)
Giới đại vọng ngữ:
Chư
Phật tử! Sau khi thọ giới Bồ tát tại gia, dù cho mất thân
mạng, cũng không được nói dối: "Tôi đã chứng được pháp
quán bất tịnh", hoặc: "Tôi đã chứng được thánh quả A
na hàm", vân vân, ... Nếu phạm giới đại vọng ngữ sẽ lập
tức mất giới Bồ tát; trong hiện đời, không thể chứng
được noãn pháp, huống hồ là thánh quả Tu đà hoàn, Tư
đà hàm, A na hàm. Kẻ đó là Bồ tát phá giới, Bồ tát xú
uế, Bồ tát cấu ô, Bồ tát chiên đà la, Bồ tát bị triền
phược. Ðây là giới trọng thứ ba.
Nói
lời không thực, lừa dối phàm thánh, mê hoặc lòng người,
gọi là nói dối. Trong đây phân làm bốn trường hợp: (1)
Vọng ngữ: tức là thấy nói không thấy, không thấy nói thấy;
nghe nói không nghe, không nghe nói nghe, v.v... Trong đây lại
chia làm hai loại: (a) đại vọng ngữ, nghĩa là chưa chứng
pháp quán bất tịnh, lại nói rằng đã chứng pháp quán bất
tịnh, nhẫn đến chưa chứng thánh quả lại nói rằng đã
chứng thánh quả; (b) tiểu vọng ngữ: tức là ngoài những
lời đại vọng ngữ ra, tất cả những lời vọng ngữ thông
thường khác, gọi là tiểu vọng ngữ. (2) Nói lời vô nghĩa
(Hán: ỹ ngữ): tức là nói những lời phù phiếm, hoa hòe,
nhẫn đến bàn tán những chuyện nhãm nhí, không lợi ích
cho mình và người. (3) Nói lời đâm thọc (Hán: lưỡng thiệt):
còn gọi là nói lưỡi hai chiều, tức là đến đây nói kia,
đến kia nói đây, mục đích gây tạo sự chia rẽ, hiềm khích.
(4) Nói lời độc ác (Hán: ác khẩu): tức là nói những lời
tục tằn, chửi rủa, trù ẻo, v.v..., làm cho đối phương
không thể nhẫn chịu được.
Ðiều
giới này là muốn phán tội của sự đại vọng ngữ, nếu
như đại vọng ngữ, sẽ phạm trọng, mất giới thể; còn
như nói các lời hư vọng khác, sẽ phạm trung tội hoặc tiểu
tội, không mất giới thể.
Giới
đại vọng ngữ có chín duyên thành phạm trọng: (1) đối
phương là người, (2) mình biết đối phương là người, (3)
cảnh giới không thật, (4) tự mình biết cảnh giới không
thật, (5) có tâm lừa dối, (6) nói cảnh giới không thật,
(7) tự nói mình chứng được cảnh giới đó, (8) lời nói
rõ ràng, (9) đối phương hiểu ý mình muốn nói.
(4)
Giới tà dâm:
Chư
Phật tử! Sau khi thọ giới Bồ tát tại gia, dù cho mất thân
mạng, cũng không được tà dâm. Nếu phạm giới tà dâm sẽ
lập tức mất giới Bồ tát; trong hiện đời, không thể chứng
được noãn pháp, huống hồ là thánh quả Tu đà hoàn, Tư
đà hàm, A na hàm. Kẻ đó là Bồ tát phá giới, Bồ tát xú
uế, Bồ tát cấu ô, Bồ tát chiên đà la, Bồ tát bị triền
phược. Ðây là giới trọng thứ tư.
Dâm,
được phân làm hai loại là chính dâm và tà dâm. Chính dâm
là sự giao phối giữa hai vợ chồng chính thức. Ưu bà tắc,
ưu bà di đã thọ giới Bồ tát, vẫn có thể làm chuyện "chính
dâm" này. Thế nhưng, trong sáu ngày "bát quan trai" trong tháng,
ngay cả việc "chánh dâm" cũng bị cấm đoán, mà phải hoàn
toàn đoạn dục. Còn tà dâm là sự giao phối với kẻ thứ
ba, không phải vợ hay chồng chính thức của mình, không luận
kẻ đó là nam, nữ, súc sinh, quỷ thần, phi nhân, hoàng môn
(bán nam bán nữ), v.v..., dù là còn sống hoặc đã chết (hành
dâm với thây chết). Nếu hành tà dâm, sẽ phạm trọng, mất
giới thể.
Nếu
gặp kẻ không phải vợ chồng chính thức của mình, cưỡng
bức mình làm chuyện tà dâm, dù cho mất thân mệnh cũng không
để cho kẻ đó xâm phạm mình. Huống hồ, đã thọ giới
Bồ tát, lại càng không thể cưỡng bức kẻ khác làm chuyện
tà dâm.
Ngoài
ra còn thêm một điều giới liên quan đến sự tà dâm, là
điều giới khinh thứ hai mươi (Hành dâm không đúng thời,
không đúng chỗ).
Giới
tà dâm có hai trường hợp: (1) tự mình tà dâm, (2) bị kẻ
khác cưỡng bức tà dâm.
Tự
mình tà dâm, có năm duyên thành phạm trọng: (1) không phải
người phối ngẫu chính thức của mình, (2) chánh cảnh (người
nữ ba chỗ: nữ căn, miệng, và hậu môn; người nam hai chỗ:
miệng và hậu môn); (3) khởi tâm dâm dục, (4) lập phương
tiện, (5) hợp với chánh cảnh (dù độ sâu chỉ bằng hột
mè).
Bị
cưỡng bức tà dâm, có năm duyên thành phạm trọng: (1) không
phải người phối ngẫu chính thức của mình, (2) chánh cảnh
(người nữ ba chỗ: nữ căn, miệng, và hậu môn; người nam
hai chỗ: miệng và hậu môn); (3) bị cưỡng bức dâm dục,
(4) hợp với chánh cảnh (dù độ sâu chỉ bằng hột mè),
(5) cảm thọ khoái lạc.
(5)
Giới rao nói tội lỗi của bốn chúng:
Chư
Phật tử! Sau khi thọ giới Bồ tát tại gia, dù cho mất thân
mạng, cũng không được rao nói tội lỗi của bốn chúng:
tỳ khưu, tỳ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di. Nếu phạm giới
rao nói tội lỗi của bốn chúng sẽ lập tức mất giới Bồ
tát; trong hiện đời, không thể chứng được noãn pháp, huống
hồ là thánh quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, hoặc A na hàm. Kẻ
đó là Bồ tát phá giới, Bồ tát xú uế, Bồ tát cấu ô,
Bồ tát chiên đà la, Bồ tát bị triền phược. Ðây là giới
trọng thứ năm.
Rao
nói (Hán: tuyên thuyết): có nghĩa là dùng ngôn ngữ, bao hàm
lời nói, văn tự, tranh ảnh, v.v..., để truyền bá cho mọi
người biết.
Tội:
nếu như trong Phật pháp, là chỉ cho sự phá giới, còn như
trong thế gian pháp, là chỉ cho sự phạm pháp.
Lỗi:
tức là những lỗi lầm tương đối nhẹ khác.
Bốn
chúng đệ tử, tuy đã tiếp thọ giới pháp tỳ kheo, tỳ kheo
ni, ưu bà tắc, ưu bà di, nhưng tất cả đều vẫn còn là
phàm phu, vẫn có thể phạm vào lỗi lầm. Trên thế gian, không
có ai là kẻ toàn thiện, trừ đức Phật.
Tỳ
kheo, tỳ kheo ni, có ba nghĩa: (1) bố ma: khi một người xuất
gia thọ giới cụ túc, ma cung liền bị chấn động, đồng
thời, ma vương cũng cảm thấy sợ hãi, cho nên gọi là bố
ma; (2) khất sĩ: trên thì khất (xin) pháp của chư Phật, dưới
thì khất thực (thức ăn) của chúng sanh; (3) phá ác: tỳ kheo,
tỳ kheo ni tu tập giới, định, tuệ, phá diệt tất cả các
pháp ác như tham, sân, si, v.v..., cho nên gọi là phá ác.
Vì
tỳ kheo, tỳ kheo ni có đầy đủ ba nghĩa như trên, cho nên
nếu rao nói tội lỗi của họ, cũng tức là phá hoại Tam
bảo. Còn ưu bà tắc, ưu bà di, là những người hộ trì Tam
bảo, nếu rao nói tội lỗi của họ, sẽ là cho họ thoái
thất tâm hộ trì Phật pháp. Vì những lý do này, đã thọ
giới Bồ tát, nếu rao nói tội lỗi của bốn chúng, sẽ phạm
trọng.
Bốn
chúng tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, là bốn cột
trụ của tòa nhà Phật pháp. Nếu phá hoại một trong bốn
cột trụ đó, thì tòa nhà Phật pháp sẽ bị sụp đổ. Nếu
như thấy có người trong bốn chúng phạm tội, hoặc làm lỗi,
nên khéo léo khuyến cáo họ một cách kín đáo. Nếu như họ
không chịu nghe lời khuyên nhắc, cũng không nên đem tội,
lỗi đó ra mà rao nói cho kẻ khác biết. Ngài Liên Trì có
nói: "Không thấy lỗi của người xuất gia, đây là liều
thuốc hay nhất của hàng cư sĩ." Bởi vậy, cư sĩ tại gia,
tuyệt nhiên không nên nói lỗi lầm của người xuất gia.
Sự
học của các bậc thánh mới thực là sự học "đến nơi
đến chốn". Ðức Khỗng tử nói: "Ba người cùng đi, ắt
phải có vị thầy của mình. Thấy điều thiện thì học hỏi,
thấy cái không thiện thì nhân đó mà cải đổi chính mình."
Các vị Phật tử, nếu thấy người khác có lỗi lầm, nếu
như mình đã khuyên nhắc kín đáo mà họ vẫn không nghe, chỉ
nên đi tìm vị thiện tri thức khác để học hỏi, tuyệt
nhiên không nên rao nói lỗi lầm của họ. Các vị ưu bà tắc,
ưu bà di đã thọ giới Bồ tát, phải nên cẩn thận điều
này.
Giới
nói lỗi của bốn chúng có năm duyên thành phạm trọng: (1)
đối phương là một trong bốn chúng, (2) biết đối phương
là một trong bốn chúng, (3) có tâm rao nói tội lỗi, (4) rao
nói tội lỗi, (5) người nghe hiểu ý mình muốn nói.
(6)
Giới bán rượu:
Chư
Phật tử! Sau khi thọ giới Bồ tát tại gia, dù cho mất thân
mạng, cũng không được bán rượu. Nếu phạm giới bán rượu
sẽ lập tức mất giới Bồ tát; trong hiện đời không thể
chứng được noãn pháp, huống hồ là thánh quả Tu đà hoàn,
Tư đà hàm, A na hàm. Kẻ đó là Bồ tát phá giới, Bồ tát
xú uế, Bồ tát cấu ô, Bồ tát chiên đà la, Bồ tát bị
triền phược. Ðây gọi là giới trọng thứ sáu.
Ðiều
giới này tương tự với điều giới trọng thứ sáu, Không
được bán rượu, của kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới.
Rượu,
là một chất độc là cho người uống mê say, đánh mất nhân
tính. Uống rượu không những nguy hại đến sức khỏe, mà
còn, nếu uống quá lượng, sẽ làm cho người uống trở thành
nghiện ngập, lại còn có thể làm cho họ phát cuồng, phát
điên. Vì thế bán rượu cho người khác uống, thì cũng gần
giống như giết người; hơn nữa, kẻ say rượu lại có thể
làm nguy hại đến luân lý xã hội, cùng những việc nguy hiểm
đến tính mạng kẻ khác, do đó, ưu bà tắc, ưu bà di đã
thọ giới Bồ tát, nếu còn bán rượu sẽ phạm trọng. Kinh
Phạm Võng Bồ Tát Giới có nói: "Tất cả rượu đều không
được bán. Rượu là nhân duyên sinh ra tội lỗi. Là Phật
tử, lẽ ra phải làm cho tất cả chúng sanh có trí tuệ sáng
suốt, mà trái lại đem sự say mê điên đảo đến cho họ.
Phật tử này phạm Bồ tát ba la di tội."
Các
Bồ tát tại gia, nếu trước đó đã làm nghề bán rượu,
thì phải tức khắc đổi sang nghề khác. Tuy có do đây mà
bị thất nghiệp, hoặc cuộc sống bị nguy ngập, cũng không
trở lại làm nghề bán rượu này. Nếu như người nhà phản
đối, thì nên để cho kẻ chưa thọ giới Bồ tát tiếp tục
làm, còn vị ưu bà tắc, ưu bà di đã thọ giới Bồ tát,
tuyệt đối không nên dính líu vào công việc làm của họ.
Nếu không lại phạm vào tội đồng lõa, hoặc phạm vào điều
giới "chỉ dạy cho kẻ khác bán rượu".
Giới
bán rượu có năm duyên thành phạm trọng: (1) đối phương
là người, (2) biết đối phương là người, (3) có tâm bán
rượu cầu lợi, (4) rượu thật, (5) bán cho đối phương.
III. Hai mươi
tám giới khinh:
(1)
Giới không cúng dường cha mẹ, sư trưởng:
Chư
Phật tử! Ðức Phật đã dạy: Nếu Bồ tát tại gia, sau khi
thọ giới, không cúng dường cha mẹ, sư trưởng, thì phạm
vào tội sơ ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa
lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Cúng
dường: có nghĩa là đem vật sở hữu, tùy khả năng của
mình, bố thí cho cha mẹ, sư trưởng và các bậc có đức
sử dụng; mà trong đó, đặc biệt nên "cúng dường" cha mẹ,
sư trưởng. Bởi vì, (1) "thân người khó được", mà cha mẹ
lại là kẻ sinh ra thân mệnh mình; (2) "Phật pháp khó nghe",
mà sư trưởng lại là kẻ giảng dạy Phật pháp cho mình.
Ơn nghĩa của cha mẹ, sư trưởng đối với chúng ta sâu rộng
như trời biển, bởi thế chúng ta phải nên cúng dường phụng
sự.
Kinh
Trang Nghiêm, quyển mười hai, có nói: "Các Bồ tát vì muốn
thành tựu lục độ, cho nên trong mỗi địa, đều nhất định
phải tu sáu việc: (1) phải tu cúng dường, đây là thành tựu
bố thí ba la mật; nếu như không bố thí lâu dài, thì sẽ
không thành tựu bố thí độ, ...." Nếu đã là bồ tát thì
phải tu lục độ. Cúng dường, tức là bố thí ba la mật,
cho nên cúng dường cha mẹ, sư trưởng, tức là để thành
tựu, viên mãn "bố thí độ" vậy.
Nếu
kẻ nào không cúng dường cha mẹ, sư trưởng, thì đó là
kẻ ngỗ nghịch vô đạo. Pháp thế gian còn không dung thứ,
huống hồ là trong Phật pháp! Kẻ không cúng dường cha mẹ,
sư trưởng, là kẻ đi ngược lại bổn nguyện của chư Phật,
Bồ tát, cho nên, tuy họ nhất tâm niệm Phật, niệm Bồ tát,
thì vẫn không thể nào tương ưng với chư Phật, Bồ tát
được.
Tội
sơ ý: có hai lối giải thích, (1) theo ngài Thái Hư Ðại sư,
sơ ý là không chú ý (Anh: unmindful) mà phạm, hành giả có
thể sám hối, và không bị mất giới thể, (2) theo lối giải
thích thứ hai, sơ ý là sự [tạm thời] quên mất tâm Bồ
đề, cùng ý thức về sự lập thệ thọ giới, và ý thức
về vai trò Bồ tát của mình (Anh: not being mindful and losing
the initial intention in taking the precept.)
Nếu
không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Ðó là kẻ nhiễm
ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi (Hán: Bất khởi đọa lạc,
bất tịnh hữu tác): Kẻ nào phạm vào những điều giới
này, nếu không khởi tâm thành khẩn sám hối, sẽ bị đọa
lạc vào ba đường ác, đó là kẻ cấu uế, bất tịnh, tiếp
tục tạo nghiệp sinh tử luân hồi (Anh: If one does not have the
mind of repentance, one will deteriorate. One is impure, and will continue
to create defiled karma that leads to transmigration in the cycle of birth
and death).
(2)
Giới uống rượu:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, ham mê uống rượu, thì
phạm vào tội sơ ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị
đọa lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân
hồi.
Ham
mê (Hán: đam nhạo): nghĩa là quá phần ham thích, đến độ
mê luyến.
Như
điều giới trọng thứ sáu, Giới bán rượu, có nói sơ lược,
uống rượu làm tổn hại sức khỏe, lại còn làm cho tâm
thần mê muội, mất hết nhân tính, nhẫn đến phát cuồng
phát điên. Không những không thể tu hành, mà còn lại không
thể làm những nghề nghiệp sinh sống chánh thường. Do đó,
Bồ tát tại gia không nên uống rượu.
Uống
rượu là nghiệp ác, thế nhưng, vì chỉ tự hại mình, thành
thử phạm tội tương đối nhẹ, song nếu đưa rượu cho người
khác uống, quả báo sẽ nặng hơn. Kinh Phạm Võng Bồ Tát
Giới nói: "Nếu tự tay trao chén rượu cho người uống, sẽ
mang ác báo năm trăm đời không tay (nghĩa là đọa vào loài
súc sanh)". Còn như bán rượu, tội lại càng nặng hơn nữa,
tức là sẽ phạm trọng, và quả báo sẽ ở địa ngục.
(3)
Giới không chăm sóc người bệnh:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, gặp người bệnh khổ,
sinh khởi ác tâm, bỏ phế không chăm sóc, thì phạm vào tội
sơ ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Ðó
là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Ác
tâm: Chữ ác, theo tiếng Hán có ba nghĩa: (1) ác độc, (2) ghét,
(3) nhờm gớm. Nói chung, ác tâm có nghĩa là tâm không lành,
không từ bi, v.v...
Ðiều
giới này và điều giới hai mươi tám (Ði đường gặp người
bệnh không chăm sóc) tương đương với điều giới ba mươi
hai (Không chăm sóc người bệnh) trong quyển Du Già Bồ Tát
Giới. Thế nhưng lời văn của quyển giới bổn Bồ tát tại
gia này quá đơn giản, thành thử phải dựa vào quyển Du Già
Bồ Tát Giới để giải thích, mới có thể giúp cho người
thọ giới Bồ tát tại gia thọ trì đúng pháp.
Ðại
ý của điều giới này và điều giới hai mười tám, muốn
nói là nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, thấy người
bệnh, lại khởi tâm ác, không chăm sóc, lo lắng cho người
bệnh, sẽ phạm tội sơ ý. Còn nếu như không phải vì ác
tâm, mà chỉ vì biếng nhác, vô trách nhiệm, thì cũng phạm,
song tương đối nhẹ hơn. Theo quyển Du Già Bồ Tát Giới,
có mười trường hợp khai duyên, tuy không chăm sóc người
bệnh, mà vẫn không phạm, là khi: (1) tự mình có bệnh; (2)
hoặc mình không đủ khả năng, sức lực; (3) hoặc mình nhờ
kẻ có sức lực, có khả năng, chăm sóc dùm người bệnh;
(4) hoặc mình biết người bệnh có bà con, thân thích, có
thể chăm sóc cho họ; (5) hoặc người bệnh còn sức lực,
có thể tự lo liệu; (6) hoặc bệnh của người đó thường
phát tác (lành rồi lại bệnh, bệnh rồi lại lành); (7) hoặc
người đó bị bệnh kinh niên; (8) hoặc mình đang phải chuyên
tâm tu tập, không thể tạm bỏ phế việc tu hành; (9) hoặc
tự mình là người ám độn, sự tu tập hạnh Bồ tát chưa
được tiến bộ; (10) hoặc mình đang chăm sóc người bệnh
khác.
(4)
Giới không bố thí người đến xin:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, thấy người đến xin,
không tùy sức mình mà bố thí ít nhiều, để cho kẻ đến
xin ra về tay không, thì phạm vào tội sơ ý. Nếu không khởi
tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo
nghiệp sinh tử luân hồi.
Bố
thí: bao gồm cả tài thí, pháp thí, và vô úy thí.
Ðể
cho kẻ đến xin ra về tay không (Hán: không khiển hoàn): Theo
nghĩa chữ Hán, không những không cho mà còn xua đuổi (khiển)
họ đi. Ðiều giới này, đối với Bồ tát Bồ tát tại gia,
vì còn ở trình độ sơ cơ, nên phán tội tương đối nhẹ,
còn nếu y vào Du Già Bồ Tát Giới mà phán tội thì: nếu
có người đến xin mà bỏn sẻn, không bố thí (dù ít dù
nhiều), mà lại còn xua đuổi, sẽ phạm trọng (ba la di tội).
(5)
Giới không chào hỏi lễ lạy các bậc tôn trưởng:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, gặp các vị tỳ khưu,
tỳ khưu ni, hoặc các vị Bồ tát tại gia thọ giới trước,
không đứng dậy tiếp đón, lễ lạy, thì phạm vào tội sơ
ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Ðó là
kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Bồ
tát tại gia thọ giới trước: nghĩa là những kẻ thọ giới
Bồ tát tại gia trước mình (dù một ngày, một giờ, hay một
phút).
(6)
Giới khinh mạn người phạm giới:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, thấy tỳ khưu, tỳ khưu
ni, ưu bà tắc, ưu bà di phạm giới, sinh tâm kiêu mạn, cho
rằng mình hơn họ, họ không bằng mình, thì phạm vào tội
sơ ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Ðó
là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Kiêu
mạn là một trong năm phiền não căn bản, tức là tham, sân,
si, mạn, và nghi. Tự cho mình là cao, rồi từ đó lăng nhục,
khinh miệt kẻ khác, không có lòng bao dung, kính trọng. Do đó
mà tự chiêu lấy rất nhiều phiền não. Kinh Ðại Tập nói:
"Phá núi kiêu mạn, nhỗ cây sinh tử", do đây mà biết rằng
kiêu mạn và sinh tử là hai sự chướng ngại quan trọng ngang
nhau, mà hành giả tu tập Phật pháp cần phải phá diệt trước
nhất.
Hơn
nữa, Phật nói nhân quả, tự mình làm tự mình chịu. Kẻ
trì giới được quả lành, kẻ phạm giới bị quả ác, do
đây, thấy kẻ khác phạm giới, tự mình nên đề cao cảnh
giác, hoặc đem lòng từ bi mà đối đãi với họ. Nếu sinh
tâm khinh mạn, tức là đi ngược lại bổn nguyện của mình,
vi phạm giới pháp mà mình đã thọ, do đó Phật mới chế
định điều giới này để răn cấm chúng ta. Còn như, nếu
lại đi rao nói sự phạm giới của họ, thì sẽ phạm vào
điều giới trọng thứ năm, rao nói tội lỗi của bốn chúng.
(7)
Giới không thọ sáu ngày bát quan trai giới mỗi tháng:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, mỗi tháng không thọ sáu
ngày bát quan trai giới, không cúng dường Tam bảo, thì phạm
vào tội sơ ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa
lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Nếu
mỗi tháng không thọ sáu ngày bát quan trai giới (Hán: Nhất
nguyệt chi trung, bất năng lục nhật thọ trì bát giới): Sáu
ngày bát trai giới, tính theo âm lịch, là các ngày 8, 14, 15,
23, 29, 30 (28, 29, nếu là tháng thiếu). Tám điều giới gọi
là quan (đóng lại), nghĩa là đóng cửa tà ác, còn điều
"không ăn phi thời" gọi là trai, tức là không ăn quá ngọ.
Phụ
chú: Nếu Bồ tát tại gia, vì hoàn cảnh không thuận tiện,
không thể thọ trì sáu ngày bát trai giới trong một tháng,
tốt nhất nên tạm xả điều giới này, sau đó chọn những
ngày thuận tiện trong tháng để thọ bát trai giới, cũng sẽ
hoạch được rất nhiều công đức.
(8)
Giới không đi nghe pháp:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, trong vòng bốn mươi dặm
có chỗ giảng kinh thuyết pháp mà không đến nghe, thì phạm
vào tội sơ ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa
lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Trong
vòng bốn mươi dặm: Bốn mươi dặm là tính theo dặm Tàu,
tức là khoảng mười hai cây số. Thời đức Phật, phương
tiện giao thông chính là đi bộ, cho nên thời gian để đi
bộ mười hai cây số là khoảng bốn tiếng đồng hồ. Hiện
nay, giao thông tiện lợi, khoảng cách có thể tùy đó mà nới
rộng ra.
Phụ
chú: Ðức Như Lai chế định giới luật, không phải là những
giới điều cứng nhắc, mà luôn luôn tùy hoàn cảnh của kẻ
thọ giới mà phán định. Giả như kẻ thọ giới không có
phương tiện giao thông, hoặc bận rộn công việc, lo sinh kế
gia đình, không thể đến nghe pháp, thì có thể mượn băng
giảng kinh về nghe cũng tốt, song công năng phát sinh do sự
nghe băng không thể so với công năng của sự nghe trực tiếp
với vị thầy giảng pháp.
(9)
Giới thọ dụng đồ dùng của chư Tăng:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, thọ dụng đồ dùng của
chư Tăng, như ngọa cụ, giường, ghế, v.v..., thì phạm vào
tội sơ ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc.
Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Thọ
dụng đồ dùng của chư tăng (Hán: thọ chiêu đề tăng ngọa
cụ, sàng, tòa): Trong câu chữ Hán, "chiêu đề tăng", dịch
là tứ phương tăng, nếu nói tổng quát là chỉ tất cả các
bậc xuất gia. Ngọa cụ, theo nghĩa rộng là đồ nằm, tức
là mền, mùng, chiếu, gối, v.v..., sàng tòa, tức là ghế,
bàn, giường, v.v... Hơn nữa, chữ thọ, theo tiếng Hán, có
hai nghĩa: (1) nhận lấy, (2) sử dụng. Thành thử, điều giới
này có hai lối giải thích: (1) không được thọ nhận đồ
của chư tăng (nếu họ cho mình), (2) không được sử dụng
đồ của chư tăng.
Bản
chú giải tiếng Hoa của cư sĩ Trí Minh giải thích như sau:
"Ưu bà tắc, ưu bà di, tuy đã thọ giới Bồ tát tại gia,
song thân tâm vẫn còn "bất tịnh", nếu sử dụng đồ dùng
của "chiêu đề tăng", như đồ nằm, giường, ghế, v.v...,
không phải là không nhiễm ô (bị nhiễm ô), đây là sự bất
kính. Vì lý do này, Bồ tát tại gia không thể sử dụng."
Phụ
chú: Kẻ tại gia sử dụng đồ đạc của người xuất gia,
e rằng đối với các bậc xuất gia sẽ sinh tâm khinh lờn,
vì thế tốt nhất nên giữ khoảng cách, đối với đồ dùng
của các bậc xuất gia, không nên sử dụng.
(10)
Giới uống nước có trùng:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, nghi nước có trùng, mà
vẫn cố ý uống, thì phạm vào tội sơ ý. Nếu không khởi
tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo
nghiệp sinh tử luân hồi.
Nghi
nước có trùng: Chữ trùng ở đây, phải hiểu là những sinh
vật có tầm kích mà mắt có thể thấy được, do đó một
bản giới bổn tiếng Anh dịch là "insect". Nếu như mắt thường
không thể nhìn thấy thì kể như không có, và được xem là
không phạm. Còn nếu như cho rằng chữ trùng có nghĩa là vi
sinh vật (micro-organism), thì e rằng tất cả loại nước mà
chúng ta sử dụng, trừ loại nước thuần khiết (pure water),
đều có trùng ở trong, và như vậy, đã ra ngoài phạm vi của
điều giới này.
Phụ
chú: Ðiều giới này, trong hoàn cảnh hiện nay, tương đối
khó phạm, vì mọi nơi đều có cung cấp nước uống tinh khiết,
chỉ khi nào lâm vào hoàn cảnh bất đắc dĩ, như đi lạc
vào rừng sâu, chẳng hạn, mới phải đặt ra vấn đề này.
Ðiều quan trọng ở đây là sự "cố ý uống", còn nếu như
vô ý, không biết có trùng, thì không phạm.
Ngài
Ấn Thuận, trong bài "Bàn luận về sự ăn chay", đã viết
cảm nghĩ như sau: " ... Có kẻ chủ trương ăn thịt không có
gì phương ngại, hoặc có kẻ cho rằng không thể không ăn
thịt. Những kiến giải của những kẻ ăn thịt này, rất
là phức tạp, nhưng điều mà bọn họ coi thường mọi người
nhất, là treo lên cái chiêu bài giả dối, mệnh danh khoa học.
Bọn họ cho rằng: "Chúng ta không thể không sát sinh, không
sát sinh là điều bất khả". Cho nên theo bọn họ, từ sự
không sát sinh đưa đến sự không ăn thịt, là điều vô ý
nghĩa. Bọn họ cho rằng cây cỏ cũng có sinh mệnh, cho nên
những kẻ ăn rau trái, cũng không tránh khỏi sự sát sinh.
Bọn họ cho rằng: "Ăn chay (không ăn thịt) cũng không phải
là triệt để, như khi uống một hớp nước, trong nước có
biết bao nhiêu sinh vật! Hít một hơi thở vào, trong không
khí cũng có biết bao nhiêu sinh mệnh. Nếu như muốn chân thật
không sát sinh, không ăn thịt, thì phải nên không uống nước,
không hít thở không khí. Như thế, chỉ có sự chết mà thôi!
...
Phật giáo nói đến sự sát sinh và không sát sinh, trong đó
bao hàm tính chất thiện ác (đạo đức, không đạo đức).
Ðiều này chẳng phải thuộc về phạm vi của thế giới khoa
học (vật lý, hoá học, v.v...), mà cũng chẳng phải là những
vật hiện ra dưới kính hiển vi, hay trong kính viễn vọng
(trong khoa học vật lý không có sự phân biệt giữa thiện
và ác), mà đây là sự việc thuộc về phạm vi của thế
giới đạo đức, là nơi có sự pha trộn giữa lý và tình,
có sự tương quan giữa tâm và sắc, cho nên vấn đề phải
được bàn luận qua sự quan hệ của tình và lý, tâm và cảnh.
Trước
tiên, từ đối tượng của sự sát sinh mà nói: sát sinh, nghĩa
là muốn nói đến sự sát hại những sinh vật có tình thức
(cũng gần giống như người thường nói đến động vật).
Các chúng sinh có tình thức, đều có bản năng là "ham sống
sợ chết". Nếu như chúng nó bị tổn thương, hay bị giết
chết, đều sinh khởi sự sợ hãi, thống khổ, oán hận, phẫn
nộ, chống đối. Ví như, nếu có sự giết nhau giữa người
và người, đôi bên sẽ tạo thành sự kết thù, kết oán,
mưu hại lẫn nhau. Còn cây cỏ là những vật không có tình
thức, tuy có những hiện tượng của một sinh mệnh như sinh
sản, dinh dưởng, v.v..., thế nhưng, lúc bị tổn hại, chúng
chỉ có những phản ứng vật lý, mà không có những phản
ứng tâm thức. Chẳng hạn, như khi chúng ta đốn cây, chặt
cỏ, điều này không làm cho cây cỏ sinh khởi sự chống đối,
tàn hại lẫn nhau, vì thế, chúng ta cũng không bị ảnh hưởng
bởi nghiệp lực của sự tàn sát. Cho nên, Phật giáo nói
đến sát sinh, là chú trọng đến vấn đề đối phương có
sinh khởi phản ứng của tâm thức hay không? Nhân đây có
đưa đến liên hệ của sự thù hận, đối địch hay không?
Cái luận điệu "ăn chay là sát sanh", hiển nhiên là do việc
không hiểu rõ sự thực này, mà cũng không hiểu rõ ý nghĩa
thực sự của sự tại sao lại cấm đoán sát sanh! ..."
(11)
Giới đi một mình trong chổ nguy hiểm:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, đi một mình trong chỗ
nguy hiểm, thì phạm vào tội sơ ý. Nếu không khởi tâm sám
hối, sẽ bị đọa lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp
sinh tử luân hồi.
Chỗ
nguy hiểm (Hán: hiểm nạn xứ): tức là, như trong kinh Phạm
Võng Bồ Tát Giới, điều giới khinh thứ ba mươi bảy có
nói rõ: "Chớ đi đến những chỗ có tai nạn, cõi nước hiểm
ác, nhà vua hung bạo, đất đai gập ghềnh, cỏ cây rậm rạp,
những chỗ có sư tử, cọp, sói, cùng những nơi có lụt,
bão, nạn cháy, giặc cướp, hoặc đường sá có rắn rít,
v.v..."
Ði
một mình (Hán: vô bạn độc hành): Dù có bạn cùng đi, cũng
vẫn phải suy xét là có thể cùng nhau giải trừ các hiểm
nạn hay không. Nếu có thể, thì nên đi; còn nếu không, cũng
không nên đi vào những chỗ nguy hiểm.
"Thân
người khó được", nay đã được thân người, phải khéo
sử dụng nó, không thể mạo hiểm một cách phi lý, làm tổn
hại thân mệnh. "Phật pháp khó nghe", những kẻ đã thọ giới
Bồ tát tại gia, đều đã phát tâm Bồ đề, đã phát bốn
hoằng thệ nguyện "trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng
sinh", nếu mạo hiểm gặp sự tổn hại, đây cũng là một
sự "mất mát" cho Phật pháp.
(12)
Giới một mình đến ngủ đêm tại chùa ni (tăng):
Nếu
Bồ tát tại gia nam (nữ), sau khi thọ giới, một mình ngủ
đêm tại chùa ni (tăng), thì phạm vào tội sơ ý. Nếu không
khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô,
tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Ðiều
giới này được phân làm hai trường hợp: (1) Bồ tát tại
gia nam (ưu bà tắc), một mình đến ngủ đêm tại chùa ni,
(2) Bồ tát tại gia nữ (ưu bà di), một mình đến ngủ đêm
tại chùa tăng.
Ưu
bà tắc, vì hộ trì đạo trường, có những nhân duyên như
xây cất, thỉnh tượng, phóng sinh, in kinh, cúng dường, v.v...,
thường tới lui với ni chúng. Nếu như một mình đến ngủ
đêm tại chùa ni, người khác thấy được, sinh tâm nghi ngờ,
hoặc tạo khẩu nghiệp như dị nghị, đàm tiếu, phỉ báng,
v.v... Nếu như thường tới lui, phát sinh tình cảm, và do đó,
một mình đến ngũ đêm ở chùa ni, e rằng sẽ dễ phạm giới
dâm. Vì lý do này, Ðức Phật cấm chế ưu bà tắc không được
một mình đến ngủ đêm tại chùa ni. Cùng những lý do như
trên, ưu bà di cũng không thể một mình đến ngủ đêm tại
chùa tăng.
(13)
Giới vì của đánh người:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, vì tiền của mà đánh
đập chửi rủa tôi tớ, hoặc người ngoài, thì phạm vào
tội sơ ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc.
Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Người
ngoài: nghĩa là không phải tôi tớ, hay người thân thuộc
của mình.
Ðánh
đập là thân nghiệp, chửi rủa là khẩu nghiệp, giận dữ
(nguyên nhân của sự đánh đập chửi rủa) là ý nghiệp.
Như vậy, hành động đánh đập chửi rủa đã tạo tác ba
nghiệp thân khẩu ý bất tịnh.
(14)
Giới bố thí thức ăn thừa cho bốn chúng:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, đem thức ăn thừa bố
thí cho tỳ khưu, tỳ khưu ni, hoặc ưu bà tắc, ưu bà di khác,
thì phạm vào tội sơ ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ
bị đọa lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân
hồi.
Thức
ăn thừa: tức là thức ăn mà mình hoặc người khác đã dùng
qua, còn thừa lại, như cơm, rau, trà, trái cây, bánh mứt,
v.v...
Bố
thí: vốn là một việc làm phúc đức, như trong kinh Phật
Thuyết Hiền Giả Ngũ Phúc Kinh có nói "Người đem thức ăn
bố thí cho chúng tăng, sẽ được năm điều lợi: (1) tướng
mạo trang nghiêm, (2) sức lực dồi dào, (3) thọ mạng lâu
dài, (4) an ổn không bệnh, (5) có tài ăn nói".
Mục
đích của sự bố thí là tập xa lìa sự bỏn sẻn, cho nên,
đối với bốn chúng, phải đem lòng thành kính, bố thí thức
ăn ngon lành tinh khiết. Nếu như, đem thức ăn thừa bố thí
các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, điều này
chứng tỏ tâm bỏn sẻn còn quá nặng, vả lại, cho kẻ khác
ăn thức ăn thừa cũng là một hành vi bất kính, và hơn nữa
làm mất đi ý nghĩa của sự bố thí.
(15)
Giới nuôi mèo, chồn:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, nuôi dưỡng mèo, chồn,
thì phạm vào tội sơ ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ
bị đọa lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân
hồi.
Mèo
chồn: hai loài này tính tình rất hung tàn, thích giết hại
loài vật khác. Loài mèo, ngoài việc bắt chuột, đối với
những động vật nhỏ khác, hễ thấy là sát hại; còn loài
chồn (thợ săn thường huấn luyện để bắt các loại động
vật khác), tính tình cũng giống loài mèo, thích giết hại
các loài vật khác.
Nuôi
mèo, nuôi chồn, để chúng giết hại loài vật khác, thì cũng
giống như tự mình giết, hoặc bảo kẻ khác giết, cho nên
ưu bà tắc, ưu bà di, sau khi thọ giới Bồ tát, không nên
nuôi dưỡng bọn chúng.
(16)
Giới nuôi súc vật:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, nuôi dưỡng voi, ngựa,
trâu, dê, lạc đà, lừa, hoặc các loại súc vật khác, không
chịu tịnh thí cho người chưa thọ giới, thì phạm vào tội
sơ ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Ðó
là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Nuôi
dưỡng voi, ngựa, trâu, dê, lạc đà, lừa, hoặc các loại
súc vật khác: Sáu loài động vật này, đều có thể phục
dịch tối đa cho loài người, hoặc bằng sức lực, hoặc
cung cấp da, lông, v.v..., hoặc cung cấp thực phẩm; còn các
loài súc vật khác như heo, gà, vịt, v.v..., thì đa số cung
cấp thực phẩm. Ðức Phật từ bi, căn cứ trên sự bình
đẳng của sinh mệnh của tất cả chúng sinh, cho nên chế
định ưu bà tắc, ưu bà di, sau khi thọ giới Bồ tát, không
được nuôi dưỡng những loại súc vật này.
Không
chịu tịnh thí cho người chưa thọ giới: Tịnh thí, tức
là trong lúc bố thí, không cầu sự khen ngợi, hoặc phúc báo
thế gian, mà đem công đức của sự bố thí hồi hướng đến
quả báo giải thoát Niết bàn. Còn nếu bố thí với mục
đích mong cầu quả báo thế gian, thì gọi là bất tịnh thí.
Nuôi
dưỡng những loài súc vật này chướng ngại cho sự tu hành,
vì nếu chúng không tuân mệnh, chúng ta sẽ khởi tâm sân hận,
đánh đập, chửi rủa, trù ẻo, v.v..., gây tạo ba nghiệp
ác thân, khẩu, ý. Cho nên, tốt nhất là không nên nuôi những
loài vật này. Còn những loại động vật khác như cá kiểng,
chim kiểng, v.v..., nếu như tịnh thí mà không người nhận,
hoặc không có hoàn cảnh thiên nhiên thích hợp cho sự phóng
sinh, thì có thể nuôi dưỡng, cho đến khi chúng chết già
một cách tự nhiên (không nên đem phóng sinh một cách bừa
bãi, vô trách nhiệm).
(17)
Giới không chứa ba y, bình bát, tích trượng:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, không chứa sẳn ba y, bình
bát, tích trượng để cúng dường chúng tăng, thì phạm vào
tội sơ ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc.
Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Ba
y: tức là (1) tăng già lê (y chín điều trở lên), (2) uất
đa la tăng (y bảy điều), (3) an đà hội (y năm điều). Tỳ
kheo, tỳ kheo ni, thường phải có sáu vật không được rời
thân, (1) tăng già lê, (2) uất đa la tăng, (3) an đà hội, (4)
bình bát, (5) tọa cụ, (6) lọc nước, gọi là tam y lục vật.
Tích
trượng: còn gọi là trí trượng, đức trượng. Bên Hiển
giáo dùng để đi khất thực (khua tiếng cho thí chủ biết
mình đang hiện diện, hoặc để xua chó dữ), hoặc đuổi
trùng (khi ở trong rừng, hay dưới gốc cây, khua tiếng cho
những loài trùng như rắn, rết, đi tránh chỗ khác), v.v....
Các
bậc xuất gia là những kẻ đã xả bỏ tất cả: nhà cửa,
tiền của, vợ con, v.v..., để cầu giải thoát. Các ưu bà
tắc, ưu bà di, đã thọ Bồ tát giới, vì hộ trì Phật pháp,
cúng dường tăng bảo, cho nên phải chứa những đồ vật
mà chúng tăng thường dùng, để có thể tùy thời cúng dường
cho các bậc xuất gia khi họ cần.
Ðiều
giới này thích hợp với thời đại nông nghiệp, vì trong
thời đại đó, vật chất thiếu thốn, phương tiện giao thông
không được thuận tiện, do đó, Ðức Phật đã quy định
Bồ tát tại gia phải chứa sẳn những vật trên để tùy
lúc cúng dường những đồ vật mà chư tăng đang cần dùng.
Còn hiện nay, trong thời đại công nghiệp, vật chất phong
phú, phương tiện giao thông tiện lợi, mua sắm dễ dàng, thành
thử Bồ tát tại gia cũng không cần phải tích chứa những
món này. Mà những vật như bình bát, tích trượng, lọc nước,
ngay đến người xuất gia cũng ít ai dùng đến, do đó, tốt
nhất là cúng dường tiền mặt để họ tiện việc mua sắm
những đồ vật mà họ đang cần thiết. (Chú ý: Sự cúng
dường tiền mặt sẽ không vi phạm điều giới "không giữ
tiền bạc" của người xuất gia. Ðiều giới "không giữ tiền
bạc" của tỳ kheo đã được khai duyên trong bộ luật "Thuyết
Nhất Thiết Hữu Bộ")
(18)
Giới không lựa chỗ nước sạch, đất cao ráo để trồng
trọt:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, làm nghề canh tác sinh sống,
không tìm chỗ nước sạch, đất cao ráo để trồng trọt,
thì phạm vào tội sơ ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ
bị đọa lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân
hồi.
Sinh
sống (Hán: vị thân mệnh): tức là duy trì sự sinh hoạt của
chính mình hoặc gia đình mình, nếu nói rộng ra, bao hàm cả
sự sinh hoạt của các vị xuất gia, cùng những kẻ ăn xin.
Vì sao? Vì các vị xuất gia, cùng những kẻ ăn xin, đều phải
nương nhờ vào sự cúng dường của người tại gia.
Không
tìm chỗ nước sạch: nghĩa là chỗ nước không có trùng (có
thể thấy được bằng mắt thường). Như khi trồng lúa, cần
phải dẫn nước vào ruộng; vì trong nước, hoặc ao, hoặc
sông, hoặc hồ, thường có những sinh vật (mà mắt thấy
được), e rằng sinh mệnh của chúng bị tổn hại bởi sự
cầy cấy, cho nên, lúc dẫn nước vào ruộng, nên cho qua lưới
lọc, hầu tránh sát hại những sinh vật này (nếu mắt thường
không thấy được thì không kể đến --- như điều giới
khinh thứ mười đã có nói qua).
Ðất
cao ráo (Hán: lục chủng xứ): Theo tiếng Hán, lục chủng là
những loại thực vật có thể được trồng ở nơi cao ráo
(không cần nhiều nước như lúa gạo), như lúa mạch, bông
vải, khoai, đậu, rau cải, dưa, trái cây, v.v... Các loại thực
vật này, vì không cần phải dẫn nước, không đến nỗi
tạo thành nghiệp sát sanh nghiêm trọng như trồng lúa gạo.
Thế nhưng, khi canh tác, trồng trọt, vẫn phải cố gắng hết
sức mình, để tránh sự ngộ sát các loài côn trùng. Không
nên tùy tiện dùng thuốc hóa học cố ý sát hại. Chớ vì
một chút lợi nhỏ trước mắt mà không nghĩ đến quả báo
trong tương lai. Nếu đã thọ giới, phải nên cẩn thận chú
ý vấn đề này.
(19)
Giới buôn bán không chân chánh:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, làm nghề mua bán: lúc bán
hàng, một khi đã đồng ý giá cả, không được lật lọng,
đem bán cho kẻ trả giá đắt hơn; lúc mua hàng, nếu thấy
người bán cân lường gian lận, phải nói lỗi họ, để họ
sửa đổi. Nếu không làm như thế, thì phạm vào tội sơ
ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Ðó là
kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Nếu
thấy người bán cân lường gian lận, phải nói lỗi họ,
để họ sửa đổi: Ưu bà tắc, ưu bà di, sau khi thọ giới
Bồ tát, khi mua đồ vật, nếu thấy người bán trong lúc cân,
lường, dùng cân non, giạ non, v.v..., nghĩa là thấy rõ đối
phương dùng tâm dối trá, gian lận, lúc đó nên bảo rõ cho
họ biết, để họ chỉnh đốn lại hành vi, cân lường chân
chánh. Nếu như thấy rõ đối phương dùng những thủ đoạn
gian giảo, lừa dối, mà không nói rõ cho họ biết, âm thầm
chịu thiệt thòi, tức là đã vô tình khuyến khích đối phương
tiếp tục làm ác. Vị Bồ tát tại gia đó đã không từ bi
cứu vớt bọn họ; không những để cho bọn họ tiếp tục
tạo tội, mà chính mình cũng đã tạo nghiệp (tán thành việc
ác của kẻ khác). Vì thế, Bồ tát tại gia, trong những trường
hợp này, phải nên rất tế nhị, dùng những phương tiện
khéo léo để khuyên nhắc, đề tỉnh đối phương. Còn nếu
mình biết rằng đối phương là kẻ bất lương, hung ác, không
biết phục thiện, lời mình nói ra có thể sẽ đem đến sự
nguy hiểm tính mạng cho chính mình, thì có thể im lặng, chờ
cơ hội khác.
(20)
Giới hành dâm không đúng thời, không đúng chỗ:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, hành dâm không đúng chỗ,
không đúng thời, thì phạm vào tội sơ ý. Nếu không khởi
tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo
nghiệp sinh tử luân hồi.
Không
đúng chỗ (Hán: phi xứ): có hai nghĩa: (1) ngoài bộ phận sinh
dục của người nữ ra, tất cả các chỗ khác trên thân đều
gọi là phi xứ (không đúng chỗ); (2) ngoài phòng ngũ chính
thức của hai vợ chồng ra, tất cả những nơi khác, như phòng
khách, phòng ăn, nhà bếp, ngoài đồng trống, v.v..., đều
gọi là phi xứ.
Không
đúng thời (Hán: phi thời): cũng có hai nghĩa: (1) lúc người
vợ đang có thai, hoặc vừa mới sanh đẽ xong chưa được
bao lâu; (2) trong những ngày rằm, ngày vía, hoặc những ngày
bát quan trai (một tháng sáu ngày, như đã nói rõ trong điều
giới thứ bảy).
Nên
chú ý, trong những ngày bát quan trai, dù là vợ chồng chính
thức cũng không được hành dâm, nếu không, sẽ phạm giới
trọng thứ tư (không dâm dục), mất giới thể.
Phụ
chú: Nếu vợ chồng cùng đến ở trong chùa, không được
hành dâm, nhẫn đến không được ngũ cùng phòng. Hoặc ở
nơi thờ phượng, dù là trong nhà mình, hoặc ở nơi có treo
tranh ảnh, hoặc đặt để tượng Phật, Bồ tát, cũng không
được hành dâm; nếu như buông lung không kiêng cử, làm việc
bất tịnh ở những nơi tôn nghiêm, sẽ bị đọa vào địa
ngục vô gián, như trong kinh Ðịa Tạng đã nói. Hơn nữa,
những kẻ dù chưa thọ ngũ giới, nếu xâm phạm tiết hạnh
của người xuất gia, dù họ đồng ý hay không, sẽ phạm
biên tội. Kẻ đó, trong đời hiện tại sẽ không được
thọ ngũ giới, bát giới, không được xuất gia. Cho nên, khuyên
các vị tại gia, đối với các bậc xuất gia, phải nên rất
cẩn thận, không nên khởi tâm bất chính.
(21)
Giới gian lận thuế:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, làm nghề thương mại,
công nghiệp, v.v..., không chịu nộp thuế, hoặc khai thuế
gian lận, thì phạm vào tội sơ ý. Nếu không khởi tâm sám
hối, sẽ bị đọa lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp
sinh tử luân hồi.
Không
chịu nộp thuế (Hán: bất du quan thuế): Chính phủ tuy quy
định nhiều loại thuế, song thuế hàng hóa và thuế lợi
tức là hai nguồn thuế chính yếu. Nộp thuế là nghĩa vụ
mà tất cả mọi công dân trong nước phải tuân hành. Nếu
không nộp thuế, tức là vi phạm luật pháp quốc gia. Các
vị đã thọ giới ưu bà tắc, ưu bà di, dù làm bất cứ nghề
nghiệp nào, cũng phải nên trung thực nộp thuế cho nhà nước.
Khai
thuế gian lận (Hán: đạo khí khứ giả, Anh: report dishonestly):
tức là tuy nộp thuế, song báo cáo gian lận tiền thuế đáng
lẽ phải nộp cho nhà nước. Ví dụ, một công xưởng sản
xuất một số lượng sản phẩm, thông thường phải khai
báo đầy đủ số lượng sản xuất để nộp thuế, song
lại báo cáo gian lận, hầu mong trả thuế ít hơn số ngạch
đã quy định. Hoặc giả, tuy báo cáo trung thực, song đến
lúc nhà nước ấn định số thuế phải nộp, lại không chịu
nộp thuế, bỏ phế nghĩa vụ đóng thuế của mình.
Phụ
chú: Không chịu đóng thuế, hoặc khai báo gian lận, sẽ phạm
hai tội, một là vọng ngữ, hai là trộm cắp. Nếu số tiền
thuế gian lận lớn hơn một số lượng nào đó, sẽ phạm
vào giới trọng thứ hai (không trộm cắp), mất giới thể.
Nếu không thọ giới thì thôi, còn nếu đã thọ, phải cố
gắng cẩn thận giữ gìn.
(22)
Giới phạm luật pháp quốc gia:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, vi phạm luật pháp quốc
gia, thì phạm vào tội sơ ý. Nếu không khởi tâm sám hối,
sẽ bị đọa lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử
luân hồi.
Vi
phạm luật pháp quốc gia: luật pháp quốc gia, tức là những
điều lệ mà quốc gia đã quy định, như chế độ, pháp lịnh,
quy ước, nhẫn đến những phong tục tập quán thuần lương
của nhân gian. Phạm luật pháp quốc gia, tức là vi phạm vào
chế độ, pháp lịnh, quy ước của nhà nước, hoặc có những
hành vi đi ngược với phong tục thuần lương của nhân
gian.
Các
vị đã thọ giới Bồ tát, nếu vi phạm luật pháp quốc gia,
không những làm cho kẻ khác chê cười, phỉ báng, tạo khẩu
nghiệp, mà còn làm chướng ngại cho việc hoằng dương của
Phật pháp.
(23)
Giới được thực phẩm mới mà không cúng dường Tam bảo
trước:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, lúc lúa, trái cây, rau cải
được mùa, không dâng cúng Tam bảo trước, thì phạm vào
tội sơ ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc.
Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Lúc
lúa, trái cây, rau cải được mùa (Hán: tân cốc, quả,
lỏa, thái, nhứ): tức là lúa mới gặt, hoặc những trái
cây, rau cải lúc mới được thu hoạch lần đầu trong mùa.
Không
dâng cúng Tam bảo trước: Những vị đã thọ giới Bồ tát,
làm nghề canh nông, khi thu hoạch được thóc lúa, hay trái
cây, rau cải đầu mùa, trước tiên nên đem cúng dường cho
Tam bảo để tỏ lòng thành kính, rồi sau đó mới đem bán
chác, hoặc thực dụng. Còn các vị Bồ tát tại gia khác,
tuy không làm nghề canh nông, song mỗi khi có cây trái đầu
mùa, cũng nên mua sắm, trước là để cúng dường Tam bảo,
rồi sau đó thọ dụng.
Phụ
chú: Cúng dường rau trái đầu mùa, có nghĩa là chỉ mỗi
năm vào đầu mùa gặt hái, thì mới cúng dường rau quả gặt
hái lần đầu, chứ không bắt buộc là mỗi khi mua sắm đều
phải đem cúng dường. Nếu không, sự cúng dường Tam bảo
sẽ trở thành một gánh nặng phiền toái cho hàng cư sĩ tại
gia. Cư sĩ tại gia, mỗi khi mua sắm thức ăn, rau trái, v.v...,
tuy không bắt buộc đem đến chùa để cúng dường, tuy thế,
cũng nên đem cúng ở bàn Phật trong nhà, trước khi thọ dụng,
để tỏ lòng tôn kính.
(24)
Giới Tăng già không cho thuyết pháp mà tự chuyên:
Bồ
tát tại gia, sau khi thọ giới, nếu Tăng già không cho phép
thuyết pháp, mà vẫn cứ làm, thì phạm tội sơ ý. Nếu không
khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô,
tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Tăng
già không cho phép thuyết pháp: Các vị ưu bà tắc, ưu bà
di đã thọ giới Bồ tát, nếu chúng tăng không cho phép thuyết
pháp, thì không được đi ngược lại lời khuyến cáo của
Tăng già.
Thuyết
pháp, có nghĩa là tụ hợp một số đông người lại để
giảng giải Phật pháp. Thuyết giảng Phật pháp, xưa nay vốn
là trách nhiệm của hàng tỳ kheo, tỳ kheo ni, vì các vị này,
đã lãnh ngộ được ý nghĩa tương đối thâm sâu của kinh
điển. Còn các vị cư sĩ đối với kinh điển, nếu chỗ
lãnh ngộ chưa được thấu triệt, thì sự giảng giải Phật
pháp của họ có thể không hoàn toàn phù hợp với ý nghĩa
chân thực của kinh điển, và như thế sẽ dễ dàng đem đến
sự hiểu lầm đối với giáo nghĩa của Ðức Thế Tôn.
Ðối
với các vị ưu bà tắc, ưu bà di đã thọ giới Bồ tát,
nếu như Tăng già nhận thấy chưa đủ trình độ thuyết pháp,
và đã lên tiếng khuyến cáo không nên giảng kinh, mà vẫn
ngoan cố không tuân hành lời khuyến dạy của Tăng già, sẽ
phạm vào điều giới này. Còn như, nếu vị cư sĩ đó có
đủ khả năng, hơn nữa, Tăng già đã đồng ý, thì vị đó
nên nỗ lực hổ trợ tăng già trong việc hoằng dương chính
pháp của đức Như Lai.
(25)
Giới đi trước năm chúng xuất gia:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, nếu ra đường đi trước
các tỳ khưu, sa di, v.v..., thì sẽ phạm tội sơ ý. Nếu không
khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô,
tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Năm
chúng xuất gia: tức là tỳ kheo, tỳ kheo ni, thức xoa ma na,
sa di, sa di ni.
Nếu
ra đường đi trước (Hán: đạo lộ nhược ... tiền hành):
Các vị đã thọ giới Bồ tát tại gia, khi ra đường, phải
nên đi sau các vị xuất gia, không được cố ý đi trước.
Nếu như lúc đang đi, phía trước có chướng ngại, có thể
đi đến phía trước để dẹp trừ, hoặc nếu phía trước
có những sự nguy hiểm, thì có thể đi ra phía trước để
ngăn chận, bảo hộ cho các vị ấy, hoặc vì một lý do nào
đó, các vị xuất gia cho phép đi phía trước, thì cũng phải
tuân hành chỉ thị của họ.
Phụ
chú: Ði phía sau các vị xuất gia, mục đích là tôn kính Tam
bảo; nếu đi phía trước, đây là sự biểu hiện của hành
vi bất kính. Theo sự chế định của đức Phật, khi đi, thứ
tự trước sau phải là: tỳ kheo, sa di, tỳ kheo ni, thức xoa
ma na, sa di ni, ưu bà tắc, ưu bà di.
(26)
Giới phân phối thức ăn cho chư Tăng không bình đẳng:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, trong lúc phân phối thức
ăn cho chư Tăng, lại sinh tâm thiên vị, lựa những món ngon,
nhiều hơn phần người khác, để cúng dường thầy mình,
thì phạm vào tội sơ ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ
bị đọa lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân
hồi.
Phân
phối thức ăn cho chư Tăng: Chư Tăng, là chỉ chung cho các
vị xuất gia, tụ họp để thọ thực, chứ không phải chỉ
có một vị xuất gia hiện diện.
Sinh
tâm thiên vị ... thầy mình (Hán: nhược thiên vị sư): Chữ
thầy, có nghĩa, hoặc là thầy bổn sư mà mình quy y, hoặc
là thầy truyền giới, hoặc là thầy giáo thọ, hoặc là những
vị thầy mà mình có cảm tình hoặc kính trọng. Sinh tâm thiên
vị, nghĩa là đặc biệt trọng đãi các vị thầy mà mình
ưa thích, kính trọng, còn đối với các vị thầy khác thì
chỉ đối đãi lơ là, hoặc lấy lệ. Tâm thiên vị này đi
ngược lại tinh thần bình đẳng của Phật giáo.
Lựa
những món ngon: tức là lúc dâng thức ăn, lại phân biệt,
lựa chọn món ăn ngon, quý, v.v..., đem dâng cho các vị thầy
mà mình ưa thích, kính trọng. Cái tâm thiên vị này, không
những là nhân duyên chướng đạo cho chính mình, mà lại còn
làm cho các vị thầy được ưu đãi sinh tâm ngã mạn, cống
cao, tham lam, v.v..., tức là tạo thành nhân duyên chướng đạo
cho họ.
(27)
Giới nuôi tằm:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, nuôi tằm lấy tơ, thì
phạm vào tội sơ ý. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị
đọa lạc. Ðó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân
hồi.
Nuôi
tằm lấy tơ, là làm tổn hại đến sinh mệnh của loài vật,
vì khi lấy tơ, phải trụn kén vào trong nước sôi, giết chết
con nhọng trong kén, trước khi nó cắn đứt bọng kén để
chun ra ngoài.
Ở
đây, cấm chế việc nuôi tằm, do đó nếu nuôi tằm sẽ phạm
điều giới này. Còn như, nếu nuôi tằm lấy tơ, làm tổn
hại sinh mệnh của loài vật, sẽ phạm vào giới trọng thứ
nhất, cấm sát sanh.
(28)
Giới đi đường gặp người bệnh không chăm sóc:
Nếu
Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, đi đường gặp người
bệnh, không tìm phương tiện chăm sóc, hoặc tìm cách gửi
gắm cho người khác chăm sóc, thì phạm vào tội sơ ý. Nếu
không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Ðó là kẻ nhiễm
ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Ði
đường gặp người bệnh, phải nên ghé đến xem xét, tìm
tất cả phương tiện để giúp đỡ, hoặc giao phó cho những
người ở lân cận chăm sóc, đây là nghĩa vụ của tất cả
mọi người con Phật, trong việc cứu khổ cứu nạn tất cả
chúng sanh. Nếu như thấy mà lại làm lơ bỏ đi, không có
một chút lòng thương xót, thì đây là đã đi ngược với
lòng từ bi của Phật giáo. Vì vậy, đức Thế Tôn chế định
điều giới này là để khuyến nhắc các đệ tử thực hiện
hạnh từ bi của Bồ tát.
Phụ
chú: Ðiều giới này tương tự với điều giới khinh thứ
ba, không chăm sóc người bệnh. Xin xem lại điều giới thứ
ba phía trên.
04-05-2008
06:34:55