CHÙA
MINH TỊNH
Nguyên
năm Giáp Thìn (1902), Đại lão Hòa thượng Chơn Phước, tự
Đạo Thông, hiệu Huệ Pháp, đời thứ 40 thuộc dòng Lâm Tế
Chúc Thánh (Tổ Minh Hải), từ Quảng Ngãi vào Bình Định để
cùng cộng tác với Quốc sư Phước Huệ và Pháp sư Phổ Huệ
mở dạy các khóa Kinh, Luật, Luận cho chư Tăng ở nhiều tỉnh
về học.
Khi
đến Quy Nhơn thì duyên lành Ngài gặp hai Phật tử: Trừng
Quế và Trừng Quy cúng cho Ngài một thảo am tại đồi cát
thuộc khu 3 (lúc bấy giờ), từ đó Ngài xây dựng thành ngôi
Tam Bảo Minh Tịnh trang nghiêm.
Nơi
đây không những dành cho tín đồ Phật tử đến lễ bái
mà còn là nơi tiếp tăng độ chúng, đào tạo không ít học
Tăng nổi danh, cụ thể như Hòa thượng Thích Khánh Anh được
Hòa thượng Chơn Phước giáo dưỡng và đưa vào Nam phụ trách
khóa học tại Phật học đường Lưỡng Xuyên năm 1927 và
nhiều khóa Phật học khác; Hòa thượng Khánh Anh đã nổi
danh là Pháp sư uyên thâm và được Phật giáo miền Nam suy
tôn là vị Pháp chủ.
Cùng
những khóa học do Hòa thượng Chơn Phước trực tiếp dạy
như Hòa thượng Bình Chánh trú trì Tổ đình Sơn Long - Quy
nhơn, Hòa thượng Huyền Quang, Hòa thượng Huyền Ấn, Hòa
thượng Thiện Hòa, Hòa thượng Thiện Hoa và nhiều lớp đệ
tử xuất gia có trình độ học Phật khả dĩ đã đóng góp
cho sự phát triển của Phật giáo nước nhà nói chung và Phật
giáo tỉnh Bình Định nói riêng.
Đến
năm Bảo Đại thứ 19 (1944) được triều đình Huế Sắc tứ
biển ngạch chùa Minh Tịnh và Sắc chỉ khâm ban Đao điệp
tăng cang cho Đại lão Hòa thượng Chơn Phước (Ngài là vị
Tổ khai sơn chùa Minh Tịnh).
Qua
2 câu đối sau đây do Hòa thượng Chơn Phước trước tác,
hiện treo tại nhà Tổ của chùa Minh Tịnh.
Câu
1 :
a)-
Minh tư đạo, giác tư dân, trực chỉ vân phi thiên nguyệt
lãng
b)-
Tịnh bổn tâm, chương bổn Phật, viên âm lôi hưởng hải
phong triều.
Xin
tạm dịch :
a)-
Hiểu đạo và làm được đạo, ấy là ánh sáng trăng, sao
đêm rằm.
b)-
Tâm ta vượt khỏi mê lầm, rõ bày tâm Phật viên âm khắp
truyền.
Câu
2 :
a)-
Minh cảnh tuyệt thân, sơ khứ giả bất lưu, lai bất cự.
b)-
Tịnh tâm vong ký, ức lâm hề phi tịch, thị phi huyên.
Tạm
dịch :
a)-
Tâm ta sáng tỏ như gương, người qua, kẻ lại khỏi vương
vấn lòng.
b)-
Chơn như hai chữ đã thông, dù rằng núi vắng, chợ đông
không phiền.
Với
ý nghĩa của hai câu đối trên, đủ để cho những người
tin đạo suy nghĩ và nhận định về tinh thần tu học và hành
đạo của những bậc thầy Tổ.
Đến
năm 1962 vì chiến tranh bùng nổ, phi trường Quy Nhơn được
thiết lập quy mô hơn, nên ngôi chùa Minh Tịnh bị thiên di
đến vị trí mới thuộc khu 6 (lúc bấy giờ), hiện nay là
đường Hàm Nghi, phường Ngô Mây, TP Quy Nhơn.
Từ
năm 1963 đến nay (2005) Thượng tọa Thích Trí Giác là đệ
tử thừa kế trú trì chùa Minh Tịnh đã lần lượt trùng
tu như: Cổng tam quan, nhà Tổ, Trai đường, Đông đường và
đang tiến hành trùng tu ngôi Chánh điện một cách quy mô hơn
và sẽ tiếp tục xây cất Tây đường và nhiều công trình
khác của chùa còn lại.
Những
sinh hoạt của chùa :
-
Đầu năm 1961 mở Đại giới đàn truyền giới cho hàng xuất
gia và tại gia; Giới tử được thọ giới trên hàng ngàn
vị.
-
Năm 1965 đến 1974 mở trường dạy văn hóa phổ thông cho các
lớp từ tiểu học đến trung học đã giúp cho tăng chúng
và con em đồng bào khó khổ được theo học nơi đây, phần
nhiều là được miễn phí.
- Năm
1974 đến nay (2005) có chữa trị bệnh về thuốc Đông y nhất
là chuyên về khoa “Trật đả” nghĩa là trật gãy xương
và nội thương vì đánh, té, ngã v.v... đã giúp cứu chữa
cho đồng bào ở gần xa nhiều ca bệnh đáng kể được bình
phục.
-
Hằng năm vào những ngày lễ lớn chư Tăng và Phật tử đi
thăm viếng ủy lạo tại các bệnh viện như : Đa khoa tỉnh,
Bệnh viện Phong Quy Hòa, Bệnh viện Tâm thần, nơi con em khuyết
tật chất độc màu da cam, bệnh AIDS ...
- Tổ
chức các khóa tu Bát quan trai cho hàng Phật tử tại gia.
TT
Thích Trí Giác - trụ trì chùa Minh Tịnh