Chùa
thường gọi là chùa Thầy hay chùa Cả, tọa lạc ở chân
núi Sài, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, cách Hà
Nội 25km về phía Tây Nam. Chùa được dựng từ đời Vua Lý
Nhân Tông (1072-1128), lúc bấy giờ là am Hương Hải do Thiền
sư Từ Đạo Hạnh lập để tu hành, sau dần dần xây dựng
thành chùa với quy mô lớn. Trước chùa có nhiều hồ nước
tên Long Trì, giữa hồ có nhà Thủy Đình là nơi diễn rối
nước trong ngày hội. Hai bên chùa có cầu Nhật Tiên và Nguyệt
Tiên do Hoàng giáp Phùng Khắc Khoan cho xây năm 1602. Khu chính
điện của chùa Cả kiến trúc kiểu chữ "Tam". Chùa Thượng
thờ tượng Di-đà Tam Tôn và Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Ơở
đây có một bệ đá kép có hai tầng bệ với hai lớp hoa
sen, các góc có hình thần điểu Garuda có niên đại thời
Trần và một bệ đá thời Lý. Chùa Trung thờ Tam Bảo, ở
đây có 2 pho tượng Hộ Pháp (mỗi tượng cao khoảng 4m). Chùa
Hạ là nơi lễ bái. Chùa là ngôi cổ tự nổi tiếng bậc
nhất ở Việt Nam. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận
là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Chùa Thầy
Nguyễn
Duy

Chùa
Thầy còn gọi là chùa Cả, tên chữ là: "Thiên Phúc Tự" thuộc
xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội khoảng
30 km về phía tây nam. Tương truyền được dựng từ thời
Lý, dựa vào sườn tây nam núi Thầy. Quang cảnh chùa hiện
nay là kết quả của nhiều đợt tu bổ trong các thế kỷ
sau.
Phía
trước chùa bên trái là ngọn Long Đẩu. Giữa núi Thầy và
Long Đẩu là một đầm rộng, mang tên Long Chiểu, ở giữa
có thuỷ đình xinh xắn, nơi thường diễn ra trò rối nước
đặc sắc. Hai chiếc cầu cổ, kiểu "Thượng gia hạ kiểu"
ba nhịp có mái che (dựng năm 1602) làm tôn thêm vẻ đẹp phía
ngoài chùa. Cụm kiến trúc chính của khu thắng cảnh là chùa
Cả bao gồm ba lớp nhà lớn, dựng trên nền cao bó đá hộc
xanh: Lớp ngoài là nhà tiền tế, lớp giữa thờ Phật,
lớp
trong cùng thời Từ Đạo Hạnh, rộng nhưng thấp, kiểu thức
cổ kính. Bộ mái đồ sộ lớp ngói mũi hài to bản và dày,
bốn góc cong vút lên, đặt trên bộ khung gồm 4 cột cái và
12 cột quân bằng đá quý kê trên đá tảng, liên kết với
nhau bằng một hệ thống xà hoành. Khớp mộng vững chắc:
xung quanh dựng ván bễng đố lụa với nhiều mảng trang trí
chạm hình rồng, lân, mây, lửa rất tinh tế.
Trong
chùa có bày 3 pho tượng diễn tả ba kiếp của thiền sư Từ
Đạo Hạnh. Chính giữa là tượng thiền sư đã thành Phật,
đội mũ hoa sen, tay chắp trước ngực, khoác áo vóc vàng.
Tượng đặt trên bệ đá quý chạm hoa sen, chim thần, rồng
uốn khúc, hoa lá cách điệu. Bên trái là tượng toàn thân
thiền sư bằng gỗ bạch đàn chân tay có chốt khớp cử động
được. Tương truyền, khi tu ở am Hương Hải trên đỉnh núi,
thiền sư có làm thuốc chữa bệnh cứu người và bày
trò
múa rối cho dân chơi giải trí. Bên phải là tượng thiền
sư sau khi đầu thai trở thành vua Lý Thần Tông. Tượng đầu
đội mũ bình thiên,mình khoác long bào, ngồi trên ngai vàng.
Trong chùa cón có tượng của cha mẹ thiền sư, đặt trên
ngai. Lưng ngai chạm trổ nhiều hình trang trí phức tạp, bao
gồm các biểu tượng của Nho giáo (phủ việt, đầu rồng),
Phật giáo (quả phúc) và Đạo giáo (sừng tê, ngọc báu) cùng
với hoa văn sóng nước và tia sáng rẻ quạt, phía sau có ghi
rõ niên đại - 1346.
Hai
bên chùa là hành lang dài thờ 18 vị La Hán. Phía sau là gác
chuông treo quả chuông cổ, tương truyền đúc từ thời Lý,
và lầu trống, có trống lớn đường kính tới 1,50m. Quanh
chùa Thiên Phúc còn có các hang Phật Tích, Cắc Cớ, Gió, còn
có chùa Cao, đền Thượng, chùa một Mái, Hoàng Kinh.
Danh
thắng chùa Thầy
Tương
truyền chùa được xây vào thời Lý Nhân Tông (1072-1128) là
nơi tu đạo của vị cao tăng Từ Đạo Hạnh người làng Láng,
quận Đống Đa, Hà Nội, sống khoảng đầu thế kỷ 12, tục
truyền có nhiều phép lạ và là kiếp trước của vua Lý Thần
Tông (Lý Dương Hoán, 1128-1138). Ngoài việc tu hành, cao tăng
Từ Đạo Hạnh còn làm thuốc cứu người, thích múa hát.
Ông thường dạy dân làm trò múa rối nước nên dân gọi
thiền sư là thầy. Đến nay, ngôi chùa và ngọn núi mà hằng
ngày Từ Đạo Hạnh trèo lên để tĩnh tọa gọi là chùa Cao
và núi Thầy.
Trước
mặt chùa về phía tả là núi Long Đẩu, hình thể cao vút,
bay bướm. Giữa 2 núi có hồ Long Trì (đầm rồng). Tại đây
có hai chiếc cầu với 3 nhịp mái ngói, bên tả là Nhật Tiên
Kiều trông vào đền tam phủ, bên hữu là cầu Nguyệt Tiên
Kiều có đường dẫn lên chùa Cao trên núi. Hai cây cầu này
đã được Phùng Khắc Khoan xây năm 1602 sau khi ông đi sứ
nhà Minh về.
Giữa
hồ có Thủy Đình như một đóa hoa sen duyên dáng soi mình
trên mặt nước, xưa được dùng làm nơi múa rối nước,
một loại hình nghệ thuật độc đáo của dân tộc.
Thủy
Đình
Đối
diện với Thủy Đình là chùa Cả bao gồm 3 cấp, mỗi cấp
là một tòa nhà mái cong. Lớp ngoài là nơi tế lễ, lớp giữa
thờ Phật, lớp trong cùng thờ Từ Đạo Hạnh. ở đây có
ba pho tượng, tượng trưng cho ba kiếp của Từ Đạo Hạnh:
đi tu, làm vua, hiển thánh. Chung quanh chùa lát gỗ có chạm
nhiều mảng rồng, kỳ lân cùng với những ngọn lửa nhọn
hoắt chĩa ra 2 bên cân đối, đây là kiểu trang trí thời
Lê thế kỷ 16-17. Trong chùa có ngôi tượng Phật Tuyết Sơn
nổi tiếng đẹp.
Tượng
tổ Từ Đạo Hạnh
ở
gian giữa chùa trên cao có bức hoành phi với 4 chữ "Hương
Hải Lưu Phương"nghĩa là "Biển thơm lưu tiếng tốt", đây
cũng là nơi thờ Đức Tam Đế. Dưới là tượng Từ Đạo
Hạnh lúc thành Phật, hai tay chắp trước ngực, đội mũ hoa
sen, mặc áo vóc vàng, đặt trên một tòa sen xòe ra, dưới
là phần trang trí chính, bốn góc bệ tạc chim thần Garuda
(một loại chim hung ác nhưng đã được đức Phật cảm hóa),
giữa các đường gờ có chạm rồng và hoa lá cách điệu
rồng và chim Garuda được đặt cùng với nhau, điều đó thể
hiện lòng từ bi trắc ẩn của đạo Phật. Bên tả là tượng
gỗ toàn thân thiền sư, được để trong một cổ long đình,
từ xưa tượng đã có hệ thống lò xo tự động, có thể
đứng lên ngồi xuống như một con rối. Đây là một tác
phẩm nghệ thuật có giá trị, nghệ nhân xưa khi thể hiện
hẳn đã liên tưởng tới vị tổ sư trò múa rối nước.
Bên hữu là tượng thiền sư lúc làm vua Lý Thần Tông ngồi
trên ngai gỗ, lưng ngai chạm đầu rồng, sừng tê ngọc báu,
đầu đội mũ Bình Thiên vàng, mặc áo vóc vàng.
Quanh
chùa còn dãy nhà cổ, có hành lang nơi thờ các vị La Hán,
phía sau là gác chuông đồng to do Từ Đạo Hạnh đúc thời
Lý Nhân Tông (1109) và một chiếc trống.
Cầu
Nhật Tiên
Qua
cầu Nguyệt Tiên leo lên núi đến chùa Cao nơi mà xễa kia
Từ Đạo Hạnh hằng ngày thắp hương thiền định. Sau chùa
là động Phật Tích (hang thán hóa). Tục truyền đây là nơi
Từ Đạo Hạnh đã hóa để đầu thai làm con trai Sùng Hiền
Hầu và sau làm vua Lý Thần Tông. Trong động có mạch nước
ở khe đá từ trên núi quanh năm chảy xuống qua miệng một
con rồng đắp nổi vào một bể nước trong suốt. Trên vách
đá thẳng đứng có đặt một pho tượng đồng đen. Trong
hang đã có một số vết lõm, tễơng truyền rằng đó là
vết chân, vết trán của Thiền sư lúc ông ngã xuống và hóa.
Tới
thăm chùa Thầy du khách được hưởng thú leo núi vừa cheo
leo hiểm trở, vừa thú vị tuyệt vời với những cây đại
già gân guốc, cành lá sum suê, hoa thơm ngào ngạt. Leo lên
đỉnh núi, nơi đây có một khoảng đất phẳng phiu. Chung
quanh là những mỏm đá trông giống như những chiếc bàn,
chiếc ghế, bầu rượu, túi thơ đó là chợ Trời. Tương
truyền vào những đêm trăng thanh gió mát, có bầy tiên nữ
xuống đây họp chợ, đánh cờ. Từ chợ Trời - đỉnh cao
nhất của thắng cảnh, du khách có thể nhìn bao quát bốn
phương, tám hướng, cảm nhận sự cao rộng của bầu trời
cùng không khí thanh khiết nơi cửa thiền.
Trở
lại chùa Cao, đi vòng ra phía sau lên hang Cắc Cớ, nơi đây
trai gái vào các dịp lễ hội vẫn tụ tập ngắm cảnh tự
tình:
"Gái
chưa chồng đến hang Cắc Cớ
Trai
chưa vợ đi hội chùa Thầy"
Đến
đây ta lại nhớ tới bài thơ vịnh hang Cắc Cớ của Hồ
Xuân Hương:
Trời
đất sinh ra đá một chòm
Nứt
ra đôi mảnh hỏm hòm hom...
Đi
tiếp theo sườn núi đến đền Thượng. Sau miếu có nhiều
mỏm đá lô nhô trông giống tượng phật nên gọi là hang
Bụt Mọc. Đầu năm 1947, trên đường lên Việt Bắc, Hồ
Chí Minh đã dừng chân nghỉ ở chùa Một Mái và làm việc
ở hang Bụt Mọc. Ngày nay, đồng bào địa phương gọi đó
là hang Hồ. Xuống ít nữa là đến hang Bò, hang sâu, âm u,
tĩnh mịch, ta có cảm giác như đi vào một nơi bí hiểm rùng
rợn. Đây được gọi là đường xuống âm phủ.
Cách
hang này không xa là hang Hút Gió, trống cả hai đầu, quanh
năm gió lùa, đây cũng là nơi ngắm cảnh vịnh thơ của bao
văn nhân tài tử vì trên vách đá còn lưu lại nhiều bài
thơ.
Sau
cùng du khách sẽ tới thăm chùa Một Mái (còn gọi là Bối
Am tự) vì mái kia dựa vào động tự nhiên mà làm thành, phía
ngoài là một ngôi nhà ngói 3 gian, nơi thờ dòng họ Phan Huy,
một dòng họ thi thễ nổi tiếng cuối thế kỷ 18 đầu thế
kỷ 19.
Đó
là những nét chính của khu danh thắng chùa Thầy. Nơi đây
có động, có hồ, có chợ Trời, đất điểm trời tô thật
mỹ lệ và hấp dẫn.
Nguyễn
Duy