CHÙA
BÁO QUỐC
J.
A. LABORDE - Bản dịch Hạnh Viên
LTS.
– Bài viết sau đây giới thiệu một trong những ngôi danh
lam đất thần kinh, chùa Báo Quốc, của J. A. LABORDE, tác giả
người Pháp, đăng trên tạp chí Hội Đô thành Hiếu cổ (Bulletin
des Amis du Vieux Hue) năm 1917. Bài viết này, qua cái nhìn của
một người Tây phương về Phật giáo ở Việt nam vào những
năm đầu thế kỷ 20, tuy còn có chỗ khiếm khuyết, song là
một tư liệu khá xưa và thú vị, cho thấy người Tây phương
trong bước khai phá vùng đất thuộc địa, đã không quên
tiếp cận và tìm hiểu khá thấu đáo về đạo Phật, một
tôn giáo phổ biến trong đại đa số dân Việt. Tập san NCPH
xin phép dịch và đăng nguyên bản tiếng Pháp như một tài
liệu tham khảo.
Xin
mời những người bạn của Huế xưa* hãy cùng tôi đến thăm
một ngôi chùa bình thường ít người thăm viếng, nhưng không
kém phần thú vị, nằm ngay cạnh thành phố Huế trên một
đồi cao vừa phải nhìn xuống nhà ga.
Chùa
hiện mang tên Báo Quốc (報 國), nhưng trước đây đã lần
lượt có các tên Hàm Long, rồi Báo Quốc, rồi Thiên Thọ,
và cuối cùng lấy lại tên Báo Quốc. Trong khuôn khổ bài
viết này, tôi sẽ nói lý do vì sao ngôi chùa đã nhiều phen
thay đổi tên gọi như vậy.
Trước
khi tìm hiểu sâu về chùa, chúng ta hãy xem qua các tài liệu
mà tôi đã có cơ hội tham cứu [1].
Theo
sách Đại Nam nhất thống chí đời Duy Tân [2], chùa này lúc
khởi nguyên có tên là Hàm Long (頷 龍, cái hàm rồng), lấy
theo tên cái giếng nổi tiếng nằm ngay dưới chân đồi nơi
ngôi chùa toạ lạc. Chùa được tạo dựng lúc nào chưa thể
xác định, bởi Hoà thượng Giác Phong, người đã viên tịch
mùa đông năm Vĩnh Thịnh thứ 10, tức năm 1714. Như vậy tính
ra chùa đã tồn tại hàng trăm năm nay [3].
Vào
năm Đinh mão (1747), Hiếu Võ vương [4] cho mở rộng chùa và
long trọng đặt tên là Báo Quốc, ban cho chùa bức hoành sắc
tứ do ông ngự đề; đó là tấm biển với hoa văn và chữ
mạ vàng trên nền xanh lục mà ngày nay ta còn thấy trước
chánh điện.
Bức
hoành Sắc Tứ Báo Quốc Tự
Vào
thời gian này, Hòa thượng Hữu Phỉ (?) [5] lo việc phụng
tự tại chùa cho đến năm 1753 khi ông trở về nơi an trú
cuối cùng, trong một ngôi tháp được tạo lập ngay cạnh
chùa.
Tiếp
đó, chùa đã trải qua những ngày đen tối. Vào năm 1776, khi
quân Tây Sơn tràn vào, chùa không may đã trở thành căn cứ
quân kháng chiến và sau phải hỗ thẹn vì để mất lòng tin
của Hoàng đế nhà Nguyễn [6].
Sau
đó một thời gian khá dài, vào năm thứ 7 triều Gia Long, tức
khoảng 1808, Hiếu Khương Hoàng hậu đã lưu tâm đến chùa
và truyền cho trùng tu. Người ta đã xây dựng ngôi chánh điện
và nhiều điện thờ phụ, các hành lang, cổng Tam quan; hiến
cúng các tượng Phật và một quả chuông; ban cho chùa một
sắc lệnh của Hoàng đế định tên gọi mới của chùa là
Thiên Thọ và rước Hòa thượng Đạo Minh Phổ Tịnh làm trú
trì. Từ đó, khi đã hoàn toàn được khôi phục, chùa không
ngớt tiếp nhận những ân sủng của hoàng gia và phẩm vật
cúng dường của thí chủ. Đến năm 1811, nhờ sự can thiệp
của Hoàng thái hậu, chùa được ban cho 30 mẫu ruộng và 10
mẫu vườn để bảo đảm việc phụng tự trong chùa; và 22
mẫu ruộng khác bị dân chiếm dụng vào thời Tây Sơn cũng
đã được hoàn trả. Những cúng phẩm khác về đất đai,
tịnh tài cũng như đồ tế tự đã được nhiều nhân vật
đặc biệt hiến tặng. Cuối cùng vua Minh Mạng, trong một
dịp ngự giá lễ chùa, đã quyết định lấy lại tên cũ
cho chùa là Báo Quốc [7].
Dưới
triều vị vua này, nhân dịp tứ tuần đại khánh (1830), tất
cả sư sãi trong nước đều vân tập về chùa để tổ chức
những buổi đại lễ trai đàn sám hối và ban phát Giới đao,
Độ điệp cho các bậc cao tăng.
Từ
đó, các vua Thiệu Trị, Tự Đức và Đồng Khánh cũng như
các Hoàng thái hậu đều không ngừng quan tâm đến ngôi chùa
danh tiếng này. Đến triều vua Thành Thái, những cuộc đại
lễ được tổ chức theo triều nghi thời Tự Đức đã qui
tụ chư tăng từ khắp nơi về nghe pháp thoại của những
bậc cao tăng mà lễ đàn được dựng lên để tôn vinh đạo
hạnh; trong số đó người đáng tôn vinh bậc nhất là Hoà
thượng trú trì Diệu Giác, Tăng cang chùa Báo Quốc. Ngài đã
viên tịch một năm sau, vào ngày 7.2.1895, hưởng thọ 90 tuổi.
Theo lời kể, ngài đã tập họp chúng đệ tử lại quanh mình
để ban những lời di giáo rồi điềm nhiên ‘hoá thân’
ngay trước mắt họ.
Ta
cần biết rằng từ ‘hoá thân’ ở đây là thuật ngữ thiêng
liêng để chỉ sự từ trần của một người đạo hạnh.
Với người được coi là đệ tử Phật thì đó không phải
là chết mà đơn giản là thay đổi hình thức sống khác.
Các
vị cao tăng lần lượt kế thừa người quá cố là Hoà thượng
Tâm Quảng, Hoà thượng Tâm Truyền, Pháp hiệu Tuệ Vân, và
cuối cùng là vị trú trì đương nhiệm Tâm Khoan [8], người
cho tới nay đã duy trì được thanh danh cao trọng của chùa.
Trên
đây là vài nét sơ khảo về chùa Báo Quốc. Bài viết khiêm
tốn này mong có thể giúp khách vãng cảnh chùa vài hiểu biết
sơ khởi về nguồn gốc của nó, cho phép họ tìm hiểu sâu
hơn những chi tiết sẽ đề cập sau đây.
Chùa
toạ lạc trên mặt bằng ngọn đồi Hàm Long; vị trí, như
đã nói, nằm phía sau nhà ga Huế, bên phải con đường dẫn
lên Đàn Nam Giao, thuộc địa phận làng Phú xuân, huyện Hương
trà, tỉnh Thừa Thiên. Để vào chùa, trước tiên ta phải
bước lên độ 15 bậc cấp xây bằng đá đế thô sơ, đến
một khoản đất nện bằng phẳng rộng chừng 5 mét, rồi
tiếp tục lên chừng 10 bậc cấp nữa để cuối cùng bước
qua một cánh cổng được kiến trúc hoành tráng với ba lối
vào, được gọi là cổng Tam quan. Cổng Tam quan này đầu tiên
được xây vào năm 1808, đến năm 1873 được tái thiết lại,
đáng để ta dừng chân thưởng ngoạn. Cổng có những khắc
hoạ Hán tự được ghép bằng những mảnh sứ màu xanh [9]
mà thời gian đã tàn phá, rất khó đọc trọn ý nghĩa, khiến
người đi cùng tôi dù là một nhà nho uyên bác cũng còn do
dự về một số điểm. Sau đây là một số bản dịch còn
có thể đọc được:
Mặt
trước cổng:
1:
Phong cảnh
2,2,2:
các bản chữ Phạn
3:
Sắc tứ Báo Quốc tự
4:
(Nguyện) Hoàng triều trường cửu (thể chữ triện) [Đế
đạo hà xương] [10]
5:
(Nguyện) Cương thổ vững bền (thể chữ triện) [Hoàng đồ
củng cố]10[10]
6:
Trùng tu năm Quý dậu, triều Tự Đức (1873)
7:
Một bia đá sẽ mang chữ Báo Quốc, cũng như sẽ lưu truyền
trăm năm công lao và đức độ (của Hoàng đế)
8:
Việc xây dựng chùa này trên đồi Hàm Long sẽ đem đến những
vùng phụ cận những trân bảo
9:
Công trình kiến trúc xinh đẹp này toạ lạc tại xã Phú xuân,
thuận theo hướng Dần Thân.
Mặt
sau cổng:
1:
Phong cảnh
2,2,2:
các bản chữ Phạn
3:
Hàm Long, Thiên Thọ tự
4:
Pháp luân thường chuyển (thể chữ chân phương)
5:
Phật nhật tăng huy (thể chữ chân phương)
6:
Thiền môn vô ngại, tế độ chúng sanh
7:
Như mặt trời soi sáng cõi trần ai, ánh đỏ thắm của cảnh
trí làm tăng thêm nét đẹp của công trình mới xây dựng
này
8:
Bầu trời che chở cái chén vàng (tức cơ nghiệp hoàng triều)…
kiến trúc này nổi tiếng là một danh thắng
9:
Khi bước vào chùa, một phàm phu cũng có cơ trở thành bậc
minh trí [11]
Bản
sơ đồ nguyên thủy mô tả vị thế địa lý của chùa Báo
quốc nằm trên đồi Hàm Long, phía Bắc giáp dòng sông Hương,
đến đây tẻ ra một nhánh nhỏchảy ngangtrước mặt chùa.
Phía Nam xa xa là núi Ngự Bình, xung quanh là các chùa nhỏ lân
cận.
Bước
qua cổng Tam quan, ta sẽ vào một khoảng sân trống và có thể
nhận ra tòa chánh điện của chùa nằm ở cuối sân, một
công trình mà bề ngoài không có vẻ gì đặc biệt. Chúng
ta sẽ trở lại nơi này sau.
Nhìn
về bên phải ta gặp ngay những kiến trúc lăng tẩm xây theo
mô thức riêng mà ta biết là những mộ tháp (stūpa) Phật
giáo, nơi an nghỉ cuối cùng của những vị cao tăng. Đó quả
thật là một thánh địa của chư vị tiền bối.
Tất
cả gồm 19 mộ tháp [12] được tạo lập để tưởng niệm
chư vị Hoà thượng đường đầu và các vị trú trì quá
cố của ngôi chùa. Những kiến trúc này đều theo hình tháp
bát giác có nhiều tầng chồng lên nhau, trên cùng là hình
một hoa sen, biểu trưng của Phật giáo. Được xây dựng bằng
vôi gạch, những ngôi tháp này có chiều cao khác nhau trong
khoảng từ 2 đến 5 mét, và được bao quanh, cách khoảng một
mét, bằng một bức tường rất thấp với cửa ra vào ở
trước mặt tháp. Về hướng đông của mỗi tháp là bia ghi
các danh xưng và đạo vị của người quá cố.
Tháp
số 1: mộ tháp HT Tế Nhân, tự Lưu Quang, hiệu Viên Giác,
Lâm Tế chánh tông đời thứ 36.
Tháp
số 2: “HT Thái Chí, tự Quảng Thông, Lâm Tế chánh tông đời
thứ 37.
Tháp
số 3: chữ đã phai mờ
Tháp
số 4: đệ tử phụng lập, vào ngày đại cát tháng 2 năm
Tự Đức thứ 31(3/1878), HT Hải Khang Diên Miên, Trú trì chùa
Linh Hữu, Lâm Tế chánh tông đời thứ 40.
Tháp
số 5: HT Thanh Tịnh, tự Ấn Lạc, tự Tâm Tuệ, sắc phong
Trú trì chùa Từ Ân.
Tháp
số 6: HT Hoàng Pháp Lữ, pháp hiệu Hải Trường, trú trì chùa
Diệu Đế, phụng lập tháng 3 năm Quý sửu (4/1853), năm
Tự Đức thứ 6, bởi dân làng Trúc Khê, tỉnh Quảng Trị.
Sáu
mộ tháp này thuộc loại nhỏ, có chiều cao trung bình là 2
mét, tất cả đều có ba tầng mà tầng nền hình bát giác
mỗi cạnh đo được 0m,45.
Tháp
số 7: Cao hơn các tháp kể trên rất nhiều với kích thước
đồ sộ, đo được 4m70 chiều cao, gồm sáu tầng, để thờ
xá lợi của HT Bùi Công, tự Viên Giác, người đã trùng tu
chùa Báo Quốc. Tháp do các Hoà thượng và môn đồ của ngài
tạo lập năm Cảnh Hưng thứ 14 (1753).
Tháp
số 8: là ngôi tháp cổ nhất, được xây dựng cách nay hơn
hai trăm năm, vào năm 1714, để tưởng nhớ công lao người
sáng lập chùa. Những dòng chữ còn trên bia ghi rằng: “Do
các cao đệ của Hoà thượng, tỳ kheo Giác…, phụng
lập, ngày 22 tháng chạp năm Vĩnh Thạnh thứ 10 (27.1.1715).
Tháp cao 3m30.
Các
tháp số 9, 10, 11, 12, 13: Một cụm gồm 5 tháp trong cùng một
tường thành; đây là hài cốt cải táng của năm vị sư trước
đây được chôn cất ở nơi khác phải dời vào vì việc
xây dựng một con đường băng qua nghĩa trang nơi an táng họ.
Việc cải táng đã được thực hiện vào năm Thành Thái thứ
10 (1897). Trong đó ngôi tháp ở chính giữa cao 4m10, gồm bốn
tầng. Bốn tháp xung quanh nhỏ hơn.
Tháp
số 14: thuộc loại tháp lớn, chiều cao 5 mét, tầng nền mỗi
cạnh dài một mét. Tháp có vẻ mới và ta nhận thấy nó vẫn
được đặc biệt chăm sóc. Đây là nơi yên nghỉ của vị
trú trì tiên nhiệm cuối cùng, thầy của vị trú trì hiện
tại (vào thời điểm ấy, là HT Tâm Khoan. ND.) Lăng mộ này
cao bốn tầng, mỗi cạnh đều được trang trí bằng những
đặc trưng Phật giáo màu xanh nổi trên nền vàng; các cạnh
của tầng nền đều được khảm bằng mảnh sứ xanh. Ta đọc
được trên bia mộ bằng đá: “Do các cao đệ của Hoà thuợng
Phạm Minh, tự Tuệ Vân, tự Tâm Truyền, thuộc dòng Lâm Tế
đời thứ 41; trú trì chùa Báo Quốc và Tăng cang chùa Diệu
Đế, phụng lập tháng 2 năm Mậu thân, Tự Đức năm thứ
2 (1908). Đây là nơi giác linh về quy ẩn; nơi giác linh
thường trụ.
Tháp
số 15: Ta đọc được dòng chữ: “Hoà thượng húy thượng
Trí, hạ Hải, hiệu Hàn Chất, Lâm Tế chánh tông; do các cao
đệ và Đạo túc phụng lập ngày 8 tháng 8 năm Cảnh Hưng
thứ 27 (11.9.1766).”
Tháp
số 16: Các chữ đã phai mờ không đọc được. Mộ tháp thuộc
loại nhỏ.
Tháp
số 17: Nơi yên nghỉ ni cô Nguyễn Thị Hải, pháp danh Thanh
Gian, tự Hòa Gia [13], thọ Da-di giới. Mộ tháp được tạo
lập vào năm Thành Thái thứ 8 (1896), chiều cao 2m80. Kế bên
tháp là một ngôi mộ nhỏ xây theo hình bầu dục, an táng
thân mẫu của vị ni cô.
Tháp
số 18: Cao 2m90, có dòng chữ: “Trú trì chùa Báo Quốc, húy
thượng Thanh, hạ Gian [14], hiệu Tâm Quảng, Lâm Tế chánh
tông đời 41, do môn đồ phụng lập vào ngày huý kỵ, 30 tháng
Giêng năm Thành Thái thứ 8 (13.3.1896).
Tháp
số 19: Dáng dấp đồ sộ, cao 4m50, sáu tầng, được xây dựng
dưới triều Tự Đức (không ghi năm tháng) để tưởng niệm
Hòa thượng Quang Huy.
Trở
lại chùa, ta thấy, trước chánh điện là một khuôn viên
được bao quanh bằng một dãy tường thấp xây dựng công
phu với phần chính giữa tường thành này, hơi lùi về phía
sau, là bức bình phong hình dáng tao nhã vươn lên với chóp
đỉnh là búp sen truyền thống, được trang trí bằng ba chữ
triện lớn Phúc, Lộc, Thọ; chữ giữa được đúc lộng,
hai chữ hai bên được khảm bằng những mảnh sứ xanh.
Tôi
đã nói vẻ ngoài của chùa thoạt trông không có gì đặc
biệt; tôi còn muốn thêm rằng nó chẳng mang nét gì lòe loẹt.
Bốn chiếc trụ chống đỡ hàng hiên ngoài được treo những
câu đối lời văn bóng bẫy miêu tả cảnh đẹp quanh vùng
mà tôi tạm dịch như sau: [15]
“Những
dòng nước từ Tây-Bắc đổ về sông Hương càng trở nên
thanh tịnh”
“Những
dòng nước từ Tây-Nam khúc khuỷu uốn mình bên dòng sông
Lợi Nông càng tăng thêm vẻ đẹp của phong cảnh”
“Ngọn
đồi chính Bắc sóng đôi với đồi Hàm Long và cả hai dường
như cùng một độ cao”
“Dãy
đồi chính Bắc nhìn về núi Ngự Bình điểm tô sắc thái
cho khu vực”
“Hoa
phượng hoà với sông nước, mây bay trên chùa Báo Quốc thấm
vào tâm hồn chư tăng”
“Những
ô trọc và bụi trần không xâm hại được nơi đây và mặt
trăng, khi soi bóng trên chùa Hàm Long, đã mở ra những miền
Phật cảnh”
“Mắt
chư tăng, như vầng nguyệt hoà cùng Tâm của trời”
“Tiếng
chuông chùa, âm vang như sóng vọng về miền tịnh lạc”
“Nguyện
ức vạn sinh linh quy ngưỡng về Như Lai”
“Nguyện
ức vạn sinh linh tán dương đức Tự Tại”
Ngay
trước thềm điện, với cái nhìn đầu tiên chúng ta thấy
nó cũng như bao ngôi điện Phật giáo khác. Cũng những bức
tượng như nhau, những bàn thờ như nhau, được bày trí cùng
kiểu như những ngôi danh lam khác. Ở đây chúng ta thấy cả
một pháp hội của chư Phật mà tôi xin mạn phép ghi lại
vài chi tiết sau đây.
Trên
trần tường gian chánh điện có treo bức hoành tuyệt đẹp
hình chữ nhật, nền xanh lục ghi chữ thếp vàng, bút tích
do chính Võ Vương ngự đề vào năm 1747 mà hàng chữ nhỏ
cũng như dấu ấn trên đó đã xác nhận:
Hàng
chữ lớn chính diện, “Sắc tứ Báo Quốc tự”
Hàng
chữ nhỏ bên phải, “Ngày lành, tháng thứ 2 mùa hạ, năm
Cảnh Hưng [16] thứ 18 [17]”
Hàng
chữ nhỏ bên trái, “bút tự của Quốc vương Từ Tế Đạo
nhân [18]”
Trong
điện, bên phải lối vào, dưới mái hiên bên trong, có một
đại hồng chung. Chữ khắc trên quả hồng chung này cho ta
biết chuông được đúc trong mười hai ngày, vào năm Gia Long
thứ 7 (1808) theo lệnh của Hoàng thái hậu. Chuông cao 3 thước
5 tấc, đường kính đáy 2 thước 8 phân, nặng 826 cân. Chuông
được treo trên giá, bên cạnh là cây chùy gỗ để gióng
chuông, được treo một cách rất kỹ thuật bằng sợi dây
thừng buộc theo hình thang. Trên chuông ngoài những ký tự
ghi nhớ sự bảo trợ của bà Hoàng thái hậu, là những giáo
luật của nhà Phật, những lời cầu chúc và những mô-típ
trang trí khác để tạo hình dáng thanh nhã của đại hồng
chung. Phía trên cùng là những chữ triện lớn khắc tên bốn
mùa trong năm, phía dưới, viền quanh chuông là những đường
gạch huyền bí theo hình Bát quái.
Bát
quái, vốn ít người thông thạo, là một hình tượng mà,
theo quan niệm triết học đông phương, thể hiện, qua sự
phối hợp phức tạp các đường gạch, nguyên lý âm dương
của vạn vật. Các hình tượng này, hay ít nhất là tám, là
kết quả của những phối hợp khác nhau mà ngày nay chỉ còn
được những ông thầy pháp tầm thường dùng để suy đoán
vận mạng. Có lẽ ta cũng không nên ngạc nhiên khi nhìn thấy
hình tượng Bát quái thường được tái tạo trong các ngôi
chùa hay trong nhà dân chúng địa phương, nơi mà, như ta biết,
sự mê tín dị đoan chiếm một phần lớn.
Cũng
trong tiền sảnh này có một mẩu gỗ, đã khô, hoặc là rễ
cây hoặc gỗ Nu, có dáng kỳ lạ như hình bộ xương người.
Chính vì sự giống nhau thô thiển này mà khúc gỗ đã được
đưa vào chùa và trở thành vật được thờ cúng. Tương truyền
một cư dân địa phương sở hữu mẩu gỗ này mà không mấy
quan tâm, cho đến khi ông nằm mộng thấy có người đến
khuyên ông nên đem khúc gỗ đến ngôi chùa nào gần nhất
để tránh tai hoạ. Ông liền vội vã nghe lời. Chuyện này
dường như đã xảy ra cách đây 35 năm, và từ đó nhà chùa
không ngừng lo hương khói cho mẩu gỗ có dáng người này
[19].
Gian
thờ trong chánh điện chùa ngày nay. Trên cùng ở giữa
thờ Tam thế chư Phật hàng giữa chính giữa thờ Phật Thích
Ca, hai bên là tượng Tôn giả A Nan và Tôn gỉa Ca Diếp
Ở
giữa điện là một bàn thờ lớn, được trần thiết theo
nhiều bậc cấp với nhiều hình tượng tôn thờ của Phật
giáo, và lạ thay, bên cạnh những biểu tượng của Lão giáo
[20].
Ở
trên cùng là bệ thờ Tam thế Phật nguyên thủy của Ấn độ,
có tóc quăn. Thấp hơn một chút cũng là ba vị Phật này nhưng
khuôn khổ nhỏ hơn. Cạnh ngôi vị này là bức tượng nhỏ
thếp vàng của Phật Thích ca trong tư thế độc đáo lúc mới
đãn sanh, hai ngón tay trái chỉ lên trời, hai ngón tay phải
chỉ xuống đất. Trên cùng cấp bậc người ta đặt rải
rác những tượng thần cỡ nhỏ bằng đá cẩm thạch Quảng
nam, bằng đất nung hoặc bằng đồng. Có cả tượng Phật
Di Lặc vui tươi với cái bụng to và nụ cười mở rộng nhắc
tín đồ rằng dưới tấm y áo kia ngài đã chôn vùi những
phiền não của thế gian. Có cả đức Quan thế Âm, vị Bồ
tát cứu khổ, và đức Địa Tạng, vị Bồ tát bảo hộ các
linh hồn quá vãng; và có cả tượng Thị Kính người chăm
sóc bảo bọc hài nhi cùng nhiều hình tượng khác ít được
biết hơn.
Trên
bậc thứ nhì ở gian giữa là chỗ thờ Ngọc Hoàng, vị Thượng
đế của các tầng trời trong đạo Lão. Ngài đội mũ vuông,
được vây quanh bởi các vị thần: Hộ pháp, lo xua đuổi
các điều bất thiện; Hộ Phật, lo cứu vớt các cô hồn;
Bắc đẩu và Nam tào. Có hai bài vị bằng giấy cung thỉnh
chư thần nhập tự, một cái gồm những vị thần quen thuộc
như Thổ công, thần đất; Ông Táo, thần bếp núc; Thành hoàng,
thần bảo vệ làng xã; Thần Nông, hộ trì nông nghiệp; Tỉnh
tuyền và Long vương, thần giếng nước và sông suối. Bài
vị kia dành cho chư thần các vì tinh tú.
Dưới
thấp, trên hàng tiền cảnh, ở chỗ trang trọng là một bài
vị bằng gỗ sơn son được phủ lụa vàng, dành cho Hoàng
đế đương tại vị. Xung quanh là những bức hoạ màu đóng
khung tái hiện Bồ tát Quan thế Âm, vị cứu khổ hộ trì
những người đang sống và Bồ tát Địa Tạng, hộ trì những
người đã chết. Thỉnh thoảng những bức hoạ này được
đưa đến nhà những tín đồ thuần thành khi họ thỉnh mời
các vị sư đến làm lễ. Khi cầu an chư tăng sẽ cung thỉnh
tượng Bồ tát Quan thế Âm; khi cầu siêu họ sẽ đưa đến
tượng Bồ tát Địa Tạng. Trên điện thờ này có một bát
hương bằng sứ màu xanh cũ kỹ, xứng đáng thu hút sự chú
ý của người hiểu biết. Trên bát hương được trang trí
bốn chữ Phạn lớn A-DI-ĐÀ-PHẬT và bốn vị sư đang tụng
kinh, chứng tỏ nó đã được đặc biệt chế tác cho nhà
chùa sử dụng. Màu men xanh, hình dáng chữ, những vị sư có
ánh hào quang bao quanh, tất cả chừng như cho thấy đó là
một cổ vật khá xưa.
Các
pháp khí đáng chú ý khác là cái mõ, được làm bằng gỗ
mít, mô tả hình tượng hai cái đầu nhăn nheo của những
con cá hoá rồng [21]; và một cái chuông gia trì đặt cạnh
bên để giữ nhịp [22] khi chư tăng tụng niệm.
Trong
cùng gian chánh điện mà ta vừa mô tả, ở hai bên tả hữu
là những bàn thờ nhỏ đặt sát tuờng:
1.
thờ 18 vị La-hán, 9 ngài bên hữu, 9 ngài bên tả; đây là
18 vị đệ tử Phật mà mỗi vị biểu hiện một tư thái
độc đáo riêng.
2.
thờ Thập điện Diêm vương, mỗi bên có 5 vị, là những
vị thần cai quản địa ngục, để phán xét và trừng phạt
tuỳ theo công hay tội của mỗi người. Những vị thần này
được trình bày dưới hình thức những pho tượng nhỏ thếp
vàng, mang y phục triều quan, mắt nhìn chăm chăm vào cái hốt
cầm trong tay.
3.
thờ Thiên Mẫu, vị nữ thần rất được sùng bái quanh vùng
Huế [23]. Ở đây bức tượng bằng gỗ của bà được đặt
trong một lồng kính nhỏ đặc biệt.
4.
thờ Quan Công, vị anh hùng trong lịch sử Trung quốc, được
phong thần sau khi chết. Ông được thể hiện bằng gương
mặt thuần hậu được viền quanh bởi bộ râu đen ông đang
vuốt trong tay; bên hữu là Quan Bình, con trai ông, và bên tả
là Châu Thương đồ đệ trung thành của ông. Chân dung của
Quan Công (còn gọi là Quan Đế, Quan Thánh) do nhà danh hoạ
Lê Trát Dương vẽ, được đặt trên ngai thờ. Đây là loại
hình hoạ in thạch bản ta thường thấy ở những nơi bán
hình tượng tôn giáo ở Trung quốc. Những hình tượng này,
như các nơi khác, một khi đã được thờ phụng thì không
bao giờ bị đem huỷ bỏ. Nếu vì lý do gì mà sự thờ cúng
không còn nữa thì phải đem chúng vào chùa là nơi sẽ bảo
tồn chúng.
5.
trong một lồng kính, một pho tượng nữ thần 18 tay mà người
ta gọi là Bà Chuẩn Đề. Vì sao Bà có nhiều tay như vậy?
[24] Ta có thể tưởng là mình đang đứng trước Bà Thiên
Thủ, vị Phật nghìn tay mà ta từng thấy ở miền Bắc. Sở
dĩ gọi như vậy là vì ngài có thần lực cho phép ngài đến
mọi nơi và tiếp nhận mọi lời cầu khẩn. Tuy nhiên, các
vị sư tôi thỉnh ý đã không giải thích như vậy. Họ nói,
mười tám vị La-hán ai cũng muốn vào Niết bàn khi đã cạo
xong râu tóc, vì thế, để các vị không phân bì và có thể
cho tất cả cùng vào Niết bàn một lúc, Bà Chuẩn Đề đã
không ngần ngại hoá ra 18 cánh tay để cạo đầu cho tất
cả cùng một lượt. Người ta giải thích với tôi rằng Chuẩn
Đề không phải là nữ thần mà là một đức Phật thường
thị hiện qua hình dáng nữ thân.
Có
nhiều cờ hiệu, tràng phan được treo từ trên trần điện,
là những biểu hiệu của Phật giáo. Mỗi lòng phan mang danh
hiệu một vị Phật và sẽ được chư tăng thỉnh ra mỗi
khi vị Phật này được tín đồ cung thỉnh cho một nghi lễ.
[25]
Phía
sau chánh điện mà chúng ta vừa lướt qua này là hậu điện,
một phần là bàn thờ của chư tổ và một phần dành để
thờ Hiếu Khương Hoàng hậu, mẹ của vua Gia Long, và như chúng
ta đã biết, cũng là đại ân nhân của ngôi chùa.
Trên
các bàn thờ tổ có những bài vị, tức những khung gỗ sơn
son được chạm trổ và thếp vàng, ghi tên chư vị Hoà thượng
và Trú trì có công đức mà chùa lấy làm tự hào. Ở đây
ta thấy bức chân dung nổi bật của một trong số chư vị
tổ sư ấy, ngài Tâm Truyền [26], hiệu Tuệ Vân, vị tiền
nhiệm của ngài Trú trì hiện tại. Bức chân dung này được
vẽ một cách tinh xảo, là tác phẩm của hoạ sĩ Hường Cao
một nghệ nhân nổi tiếng đối với độc giả của tạp
chí này.
Ngoài
năm thứ đồ thờ cúng như bình hoa, lư hương, chân đèn…,
ta còn thấy treo hai bên bàn thờ nhiều di vật mà ta đoán
là của người quá cố:
1.
Một cây gậy, gọi là Tích trượng, đằng đầu có 12 cái
khoen đan vào nhau bằng một gọng thiếc. 12 cái khoen này tượng
trưng 12 giới luật thiêng liêng [27] tạo nên đạo hạnh của
vị sư. Vị Hoà thượng, khi giảng kinh hay nói pháp, phải
một tay cầm tích trượng và tay kia bưng bình bát và một
cái thìa gỗ; bình bát bằng đất và thìa gỗ ngụ ý chư
tăng chỉ được dùng những đồ vật tầm thường đơn giản
nhất.
2.
Mắc vào tích trượng là cái Như ý, một mẩu thiếc dài chừng
0m60, một loại quyền trượng tôn giáo mà vị tăng chủ sám
thường cầm trong các buổi lễ.
3.
Cái Phủ phất, một loại dụng cụ phủi bụi làm bằng lông
vũ, có nghĩa ẩn dụ để xoá sạch bụi trần. Ta còn thấy
những cây phất trần này trong những đoàn hộ giá của hoàng
gia, có lẽ với cùng ý nghĩa ẩn dụ trên.
4.
Chuỗi hạt Kim cang, mà môn đồ của Phật tự nguyện lần
đếm từng hạt một cách vô tận để giữ tâm luôn tỉnh
thức trước các việc trần tục.
5.
Cuối cùng là chiếc túi lụa cất giữ các chứng từ của
ngôi chùa và bản phả hệ các vị sư tính từ người sáng
lập tông môn, là đức Phật Thích ca mâu ni.
Trên
bàn thờ đặc biệt phụng cúng tưởng niệm Hoàng hậu, thân
mẫu vua Gia Long, nhờ bà mà ngôi chùa sau nhiều năm bị thất
sủng đã lấy lại ngôi vị hàng đầu, treo một bức hoành
với cái tên “Thiên Thọ tự” [28] được vua ban cho lúc
ấy và dấu ấn triện của vị Hoàng hậu ân nhân, ghi ngày
tháng “Tháng hạ năm Mậu thìn, năm thứ 7 triều Gia Long”
(1808). Một cái ngai nhỏ thếp vàng, có hai tán lọng vàng che
hai bên cho biết đây là nơi phụng thờ một bậc mệnh phụ
triều đình.
Chùa
có hai gian nhà rộng dùng làm tăng phòng và một gian khác có
trang bị bàn ghế dùng làm nơi tiếp khách. Phía bên hữu là
nhà ăn, nhà bếp và các công trình phụ.
Trong
gian phòng dùng làm trường cho học tăng người ta thiết đặt
một bàn thờ nhỏ dành cho vong linh các tín đồ vô tự; trong
vòng ba năm các bài vị cá nhân ở đây được thờ cúng kỵ
giỗ riêng, đến hết thời hạn ấy, các bài vị này được
thiêu hoá và tên của người quá cố được chuyển vào ghi
trên một bài vị chung đặt trong một gian thờ khác. Cũng
trong gian thờ này có ghi danh tánh các vị sư bình thường
đã quá cố.
Hiện
giờ, tổ chức tăng chúng áp dụng tại chùa Báo Quốc gồm
có một vị Trụ trì (sư trưởng) và độ mươi nhà sư cùng
các chú tiểu. Trên đây tôi đã nêu ra vài nét về cuộc sống
của tăng chúng; điều này có thể lôi cuốn chúng ta lạc
đề nếu cố đi vào chi tiết.
Trước
khi kết thúc bài khảo cứu này, tôi muốn lưu ý đến những
đề tài trang trí mà ngòi bút lão luyện của nghệ sĩ M. A.
Durier đã nêu ra đó đây, về nhiều nơi khác nhau trong chùa,
dành cho Tạp chí Đô thành Hiếu cổ mà ta thấy có trong bài
viết này [29].
Và
sau cùng, trước khi từ giã chùa, xin đừng quên chào cái “Giếng
cấm”, tức giếng Hàm Long, cái giếng đã tặng tên gọi
cho ngọn đồi nơi nó được đào ra. Dưới lòng giếng này
cất dấu một tảng đá hình hàm rồng mà người ta nói, từ
miệng rồng đó tuôn ra mạch nước mát và trong vắt, thanh
khiết đến mức được dành riêng cho vua ngự dụng. Ngày
nay giếng được để cho dân chúng dùng và nước không còn
trong sạch như ngày xưa đã từng được quý trọng.
Chúng
ta cũng nên thêm đôi dòng tưởng niệm ông Trần Viết Thọ,
một vị quan đáng được ghi nhớ trong lịch sử chùa. Lúc
sinh thời, ông làm Đốc học, hiệu trưởng trường tỉnh
hạt Quảng Trị. Đến năm ông 59 tuổi, mặc dù các quan cấp
trên, học trò, và gia đình ông can ngăn, ông vẫn quyết định
xin nghỉ hưu và dâng hiến đời còn lại để vào chùa tu
hành. Lòng nhiệt thành cầu đạo của ông cao đến độ sau
nhiều năm tinh cần tu khổ hạnh, vào một ngày đẹp trời,
ông cho vợ con biết rằng từ đây ông đã thuộc về Phật
tổ và đã sẵn sàng từ bỏ nhục thân này; và ngay hôm đó
ông đã tự thiêu trong túp lều tranh nơi ông lui về ẩn dật
bấy lâu. Ngồi an nhiên tự tại giữa ngọn lửa hồng, bình
thản khêu ngọn lửa cháy rực với một cuốn kinh cầm trong
tay, ông đã hiến mình một cách kiên cường đạo hạnh.
Đó
không phải là chuyện hoang đường. Việc ra đi một cách sùng
tín của ngài Trần Viết Thọ mọi người đều biết; và
các nhân vật cao cấp ở Huế lúc ấy, đứng đầu là các
Thượng thư Trương Quang Đãn, Nguyễn Thuật, Cao Xuân Dục,
Hoàng Cao Khải đều đã đến viếng tang.
Phụ
chú của ND.
Được
sự giúp đỡ của HT Thích Thiện Hạnh, qua khảo sát, ngày
nay chúng tôi thấy trong chùa còn các câu đối và bức hoành
sau:
1.
Ngoài bức hoành “Sắc tứ Báo Quốc tự” đã nói trên,
được treo giữa chánh điện, hai bên còn có hai bức hoành
nhỏ hơn:
(bên
phải): “Tuệ nhật trường minh” 慧 日 長 明
(bên
trái): “Từ phong vĩnh phiến” 慈 風 永 扇
Tạm
dịch: Sáng hoài ánh trí tuệ. Mát mãi ngọn gió từ.
2.
(Ở giữa điện, mặt trước):
Cổ
tự xuất vân sơn hữu ý nhân lai xao thạch khánh.
Thiền
cư lâm thủy bạn vong cơ long đáo thính kim kinh.
古寺
出 雲 山 有 意 人 來 敲 石 磬
禪居
臨 水 畔 忘 機 龍 到 聽 金 經
Tạm
dịch:
Chùa
cổ vượt tầng mây, khách hữu ý về khua khánh đá
Nhà
thiền ven bến nước, rồng vô tâm đến tụng kinh vàng. [30]
3.
(Ở giữa điện, mặt sau):
Phật
bất ly tâm tâm bất ly Phật thùy vân thân ngoại hữu bồ
đề.
Sắc
tức thị không không tức thị sắc tu tín tánh trung vô quái
ngại.
佛不
離 心 心不 離 佛 誰 云 身 外 有 菩 提
色即
是 空 空 即 是 色 須 信 性 中 無 罣 礙
Tạm
dịch:
Tâm
không xa Phật, Phật không xa tâm, ngoài thân ai nói có bồ
đề.
Sắc
tức thị không, không tức thị sắc, trong tự tính hãy tin
Vô ngại.
4.
(Trước bàn thờ Bồ tát Quán thế Âm và Bồ tát Dược Sư):
Chúc
thánh thọ tán hoàng đồ diệu nhật nguyệt quang huy vạn cổ.
Ký
dân an kỳ vật phụ tịnh sơn hà tráng đế thiên thu.
祝聖
壽 讚 皇 圖 耀 日 月 光 輝 萬 古
冀民
安 祇 物 阜 靖 山 河 壯 帝 千 秋
Tạm
dịch:
Mừng
tuổi thọ vua, khen cơ đồ hoàng đế, vầng nhật nguyệt rạng
soi từ vạn cổ.
Mong
dân an, cầu vật thịnh, non nước yên bình vua vững muôn năm.
5.
Nơi hậu điện thờ chư tổ, chúng tôi thấy có bức hoành
ghi ba chữ VÔ TẬN ĐĂNG, 無 盡 燈, ngụ ý: ngọn đèn chánh
pháp sẽ đời đời truyền lưu vô tận.
Và
các đôi câu đối:
6.
(Phía ngoài, hai bên cửa vào hậu điện):
Hương
giang kỳ bắc Ngự lĩnh kỳ nam thiên vạn thế từ phong truyền
tự cổ.
Cảnh
Hưng dĩ tiền Vĩnh Thịnh dĩ hậu sổ bách niên Phạm Vũ tráng
vu kim.
香江
其 北 御 嶺 其 南 千 萬 世 慈 風 傳 自 古
景興
以 前 永 盛 以 後 數 百 年 梵 宇 壯 于 今
Tạm
dịch:
Sông
Hương phía bắc, núi Ngự phía nam, ngàn vạn đời từ xưa
truyền gió mát.
Cảnh
Hưng đầu triều, Vĩnh Thịnh cuối triều, hàng trăm năm chùa
tháp vẫn huy hoàng.
7.
(Bên trong, trước bàn thờ chư tổ):
Trang
nghiêm tịnh giới khai sáng ngưỡng thần công cổ điện trường
tồn dữ ngã quốc triều tịnh thọ.
Hùng
tráng đế kinh hộ trì tư Phật lực linh quang tự tại tố
Lê Cảnh Hưng nhi kim.
莊嚴
淨 界 開 創 仰 神 功 古 殿 長 存 與 我 國 朝 並 壽
雄壯
帝 京 護 持 資 佛 力 靈 光 自 在 溯 黎 景 興 而 今
Tạm
dịch:
Nơi
thanh tịnh trang nghiêm, kính ngưỡng công khai sáng, điện cũ
trường tồn cùng nước nhà vững mãi.
Kinh
đô hùng mạnh, nhờ Phật lực giúp cầm, ánh linh tự tại
từ Lê Cảnh Hưng đến nay.
8.
(Sau bàn thờ tổ, treo sát tuờng):
Hàm
Long tái ngọ đàm kinh phù luật xuất chơn thuyên ứng vật
khúc trần huề đăng thực địa.
Báo
Quốc trùng quang bát hoả ma chuyên truyền tổ đạo đương
cơ trực chỉ bất lạc kỳ đồ.
含龍
再 午 談 經 扶 律 出 真 詮 應 物 曲 陳 攜 登 寔 地
報國
重 光 撥 火 磨 磚 傳 祖 道 當 機 直 指 不 落 歧 途
Tạm
dịch:
Hàm
Long ngày tháng bàn kinh hộ luật bày ra chân lý, ứng theo vật
uyển chuyển dẫn về nơi rốt thực.
Báo
Quốc sáng trưng đốt lửa mài gạch truyền đạo Tổ, đúng
người chỉ thẳng không để lạc đường chơn.
9.
Cũng trong điện thờ tổ, trước có đôi câu đối nay đã
mất, nhưng chúng tôi thấy còn ghi trong tập Thủy Nguyệt Tùng
Sao của cố HT Bích Phong, hiệu Thạch Sơn Thị, chùa Quy Thiện,
Huế. Xin chép lại: (Đại Báo Quốc tự phụng tổ liên)
Bồ
đề phi thụ minh kính phi đài y bát gia phong tại thử.
Đông
độ bất lai Tây thiên bất khứ truyền thừa đạo mạch vu
tư.
菩提
非 樹 明 鏡 非 臺 依 缽 家 風 在 此
東土
不 來 西 天 不 去 傳 承 道 脈 于 斯
Tạm
dịch: (Câu đối thờ tổ tại chùa Báo Quốc)
Bồ
đề chẳng cây, gương sáng chẳng đài, gia phong y bát là đây.
Đông
độ không đến, Tây thiên không về, đạo mạch truyền thừa
từ đó. [31]
10.
Ở Tây đường, nay là phòng khách, có đôi câu đối:
Báo
ứng vô biên phước quả tường hoa tam bảo địa.
Quốc
gia hữu đạo từ vân pháp vũ thập phương thiên.
報應
無 邊 福 果 祥 花 三 寶 地
國家
有 道 慈 雲 法 雨 十 方 天
Tạm
dịch:
Báo
ứng không ngần, đất già lam sinh hoa lành quả phúc. Quốc
gia có đạo, trời bao la rải mây từ mưa pháp. [32]
Ngoài
ra, còn một số câu đối phơi sương gió nơi các mộ tháp:
11.
- Nơi cụm mộ tháp được qui tụ, mặt trước cổng vào :
Chỉ
đồ kiến tánh ngôn hạ tri quy thuỳ thị can đầu tấn bộ.
Bát
thảo tham huyền thanh tiền ngộ chỉ thỉ năng tâm nội thừa
đương.
指圖
見 性 言 下 知 歸 誰 是 竿 頭 進 步
撥草
參 玄 聲 前 悟 旨 始 能 心 內 承 當
Tạm
dịch:
Chỉ
bày thấy tánh, trong lời rõ nghĩa, nào ai đầu sào thêm bước.
Trừ
vọng cầu chơn, nói ra hiểu ý, ai từng tâm nội đảm đương.
[33]
12.
- Mặt trong sân:
Hàm
Long trụ tích Báo Quốc lưu quang truy tố đê đầu hoài tổ
đức.
Bảo
tháp lăng tiêu phương danh trì địa cổ kim củng thủ hướng
linh đài.
含龍
住 錫 報 國 流 光 緇 素 低 頭 懷 祖 德
寶塔
凌 宵 芳 名 馳 地 古 今 拱 手 向 靈 臺
Tạm
dịch:
Cắm
gậy đất Hàm Long, rạng ngời chùa Báo Quốc, tăng tục cúi
đầu nhớ ơn tổ.
Dựng
tháp cao lồng lộng, danh thơm tỏa một vùng, cổ kim cung kính
bái linh đài. [34]
13.
- Nơi tháp giữa, trước bia mộ Tổ khai sơn Giác Phong:
Tàng
bách niên sanh tử 藏 百 年 生 死
Qui
nhất lộ Niết bàn 歸 一 路 涅 槃
Tạm
dịch: Cất trăm năm sinh tử.
Về
một lối Niết bàn.
14.
- Nơi tháp Tổ Tử Dung:
Khứ
lai như thị trú 去 來 如 是 住
Không
sắc cổ kim đồng 空 色 古 今 同
Tạm
dịch: Đến đi là như vậy.
Không,
sắc xưa nay đồng.
15.
- Nơi tháp HT Trí Thủ [35], mặt trước hai trụ biểu:
Quảng
đại hạnh phát thâm tâm bát thác mê vân bất quyện hối
nhân bồi Phật chủng.
Cứu
chơn không minh diện chỉ xung quan huệ nhật phùng trường
trác tích chấn tôn phong.
廣大
行 發 深 心 撥 拓 迷 雲 不 倦 誨 人 培 佛 種
究真
空 明 妙 旨 沖 關 慧 日 逢 場 卓 錫 振 宗 風
Tạm
dịch:
Nuôi
hạnh lớn, phát thâm tâm, vạch tan mây mù, vun bồi Phật chủng
không nại khó khăn.
Phá
tánh không, tỏ diệu chỉ, dương cao tuệ nhật, khai mở giới
trường chính lý tông phong. [36]
16.
- Nơi tháp HT Thích Trí Thủ, mặt trong hai trụ biểu:
Thạch
thất biểu thiền tâm dữ Ngự lĩnh Hương giang trường tại.
Hoa
đài hàm linh cốt sử tăng đồ pháp quyến thâm tư.
石室
表 禪 心 與 御 嶺 香 江 長 在
花臺含
靈 骨 使 僧 徒 法 眷 深 思
Tạm
dịch:
Thạch
thất biểu lộ Thiền tâm, cùng núi Ngự sông Hương còn mãi.
Đài
hoa ôm ấp Linh cốt, khiến tăng đồ pháp quyến không quên.
[37]
17.
- Nơi tháp HT Thích Thanh Trí [38], mặt trước hai trụ biểu:
Khiêm
nhẫn hữu dư phát ý viên thành tam tụ giới.
Trí
bi vô ngại chung thân bất thối tứ hoằng tâm.
謙忍
有 餘 發 意 圓 成 三 聚 戒
智悲
無 礙 終 身 不 退 四 弘 心
Tạm
dịch:
Đức
khiêm nhẫn có thừa, khởi ý vẹn toàn ba tụ giới.
Trí
tuệ và từ bi vô ngại, cả đời không bỏ bốn hoằng tâm.
18.
- Nơi tháp HT Thanh Trí, mặt trong hai trụ biểu:
Sanh
tử thị đồng quan đồng hội hạc lâm đăng tịnh tháp.
Niết
bàn tịnh biệt xứ biệt siêu trần giới nhập vô sanh.
生死
是 同 關 同 會 鶴 林 登 淨 塔
涅槃
并 別 處 別 超 塵 界 入 無 生
Tạm
dịch:
Sống
chết có đồng quan, đồng hội, rừng hạc lên tịnh tháp.
Niết bàn cùng nơi khác, cõi khác, trần thế vào vô sanh. [39]
H.V.
Nguyên
bản tiếng Pháp
* Nguyên
văn les Amis du Vieux Hue, một hiệp hội đương thời được
gọi là Đô thành hiếu cổ. – ND.
1.Bài
viết này chủ yếu dựa trên nguồn tư liệu chép tay dành
riêng của chùa.
2.Quyển
2, tờ 43.
3.Có
tài liệu ghi chùa do Hoà thượng Pháp Hàm, hiệu Giác Phong
Lão tổ, khởi dựng năm Giáp Dần (1674). Tuy năm tháng cụ
thể chưa được xác định, song
chúng
ta có thể đoan chắc là chùa đã được gây dựng vào cuối
thế kỷ 17, vì vào năm 1690, lần đầu tiên ra Huế, Tổ Liễu
Quán đã đến cầu đạo nơi đây. – ND.
4.Tức
Chúa Nguyễn Phúc Khoát, ông nội của vua Gia Long. Ông sinh năm
Giáp Ngọ 1714, thọ Bồ tát giới pháp danh Phật Tâm, hiệu
là Từ tế Đạo nhân; mất
năm
1765. – ND.
5.Cách
đọc của tác giả, tức Hữu Bùi, hay Hòa thượng Bùi Công,
tự Tế Nhân Viên Giác, một cao túc của Tổ Liễu Quán, đã
vâng sắc chỉ trú trì chùa trong thời
gian
này cho đến năm 1753 khi ngài viên tịch. Đại sư Hàn Chất
kế thế trụ trì đến năm 1766. – ND.
6.Trong
thời kỳ chiếm đóng của quân Tây Sơn, hầu hết chùa chiền
quanh kinh thành đều bị tàn phá chỉ trừ chùa Báo Quốc,
được dùng làm kho chứa diêm
tiêu
và xưởng đúc súng.
7.Lúc
này chữ Thiên Thọ đã được dùng để đặt tên lăng vua
Gia Long.
8.Theo
năm bài viết này đăng trên báo Bulletin des Amis du Vieux Hue,
1917. – ND.
9.Loại
đồ sứ tráng men xanh rất nổi tiếng của Huế, quen thuộc
trong giới khảo cổ với tên gọi ‘Bleu de Hue’, màu lam Huế.
– ND.
10
Nguyên văn Hán đã thất lạc. Ở đây chúng tôi tạm phục
hồi theo suy đoán. –ND.
11.Một
số câu ở cả hai mặt này ngày nay đã hoàn toàn hư hỏng,
không thể đối chiếu với nguyên văn Hán. – ND.
12.Năm
1957, hội đồng môn phái chùa Báo Quốc, do Hoà thượng Thích
Trí Thủ chủ trì, đã quyết định di dời và quy tụ về
vị trí bên phải sau chánh điện thành
cụm
gồm 14 tháp; ngày nay hai bên cụm tháp này có hai tháp mới,
bên phải là tháp vọng của HT Thích Trí Thủ và bên trái
là tháp của HT Thích Thanh Trí. (về
các
câu đối nơi các mộ tháp này, xem phần bổ sung ở cuối
bài). Còn cụm tháp 5 cái (từ số 9 – 13) vẫn giữ nguyên
vị trí cũ.– ND.
13.Theo
cách phát âm của tác giả. Đối chiếu theo bia mộ là Thanh
Nhàn, tự Hoà Nhã.
14.Như
cht 13. ‘… húy Thượng Thanh hạ Nhàn.’
15.Các
câu này nay không còn để đối chiếu; chúng tôi chỉ dịch
theo nguyên tác Pháp ngữ.
16.Niên
hiệu Hoàng đế triều Lê ở Thăng Long. Các chúa nhà Nguyễn,
tuy trị vì độc lập ở Huế, vẫn dùng niên hiệu của Hoàng
đế ở Bắc kỳ trong các văn kiện
chính
thức.
17.Chỗ
này có nhầm lẫn về tháng năm. Năm 1747 là năm Cảnh Hưng
thứ 8. Nguyên văn Hán ghi trên bức hoành: Cảnh Hưng bát niên
mạnh hạ cốc nhật, tức
ngày
lành tháng 4 năm C.H. thứ 8. – ND.
18.Nguyên
văn Hán ghi trên bức hoành: Quốc vương Từ tế Đạo nhân
ngự đề. – ND.
19.Ngày
nay mẩu gỗ này không còn. –ND.
20.Nền
tảng tôn giáo xứ An nam là một tổng hợp ba tôn giáo
Phật, Lão và Khổng; vì thế ta thường thấy ba tôn giáo này
tập họp trong cùng một ngôi chùa, dù
những
thuộc tính của ba giáo thuyết rất khác nhau từ nguồn gốc.
21.Mõ
các chùa thường khắc hình đầu con cá chép. Nguyên văn tác
giả dùng chữ serpents dragons, rắn rồng, (có lẽ muốn nói
là con giao) e có chỗ nhầm
lẫn.
– ND.
22.Chính
xác hơn, chức năng của chuông này, như tên gọi, là để
nhắc nhở và giữ sự tập chú của chư tăng khi tụng niệm.
– ND.
23.Thiên
Mẫu là vị nữ thần theo quan niệm của đạo Lão.
24.18
tay, tượng trưng 18 pháp bất cộng (đặc hữu) của Phật.
–ND.
25.Các
mô tả này ngày nay hầu hết đã thay đổi. Trong chánh điện
nay thờ Tam thế chư Phật, dưới thấp hơn một chút là bàn
thờ Phật Thích-ca, hai bên có
hai
tượng nhỏ tôn giả A-nan và tôn giả Ca-diếp. Bên phải bàn
thờ chính là bàn thờ Bồ tát Dược Sư, bên trái là bàn
thờ Bồ tát Quán thế Âm. Trên tường ở giữa
treo
bức hoành ‘Sắc tứ Báo Quốc tự’, bên phải có bức hoành
‘Tuệ nhật trường minh’, bên trái có bức hoành ‘Từ
phong vĩnh phiến’. –ND.
26.Nguyên
văn ghi Tâm Tuyên, dit Tuệ Vân, e nhầm lẫn trong cách phát
âm. – ND.
27.Chỉ
12 hạnh đầu đà. – ND.
28.Bức
hoành này nay không còn thấy, có lẽ đã bị hư hay cháy trong
hai lần chùa bị hoả hoạn, nhất là vào năm Mậu thân 1968.
– ND.
29.Các
hình vẽ minh hoạ này vì lý do kỹ thuật đã không thể in
lại, vả chăng chúng cũng không còn giá trị thực tế sau
nhiều biến đổi trong gần 90 năm qua. –
ND.
30.bản
dịch của T.T. Tuệ Sỹ.
31.bản
dịch của HT Thích Thiện Hạnh.
32.bản
dịch của HT Thích Thiện Hạnh.
33.bản
dịch của HT Thích Thiện Hạnh.
34.bản
dịch của HT Thích Thiện Hạnh.
35.HT
Thích Trí Thủ, nguyên Viện trưởng Viện Hoá Đạo GHPGVNTN,
Trú trì chùa Báo Quốc, Giám viện PHV Báo Quốc, viên tịch
năm 1984, nhục thân được
an
táng tại bảo tháp ở Tu viện Quảng Hương Già Lam, SG. Tháp
tại đây là tháp thờ vọng.
36.bản
dịch của HT Thích Thiện Hạnh.
37.bản
dịch của HT Thích Thiện Hạnh.
38.HT
Thích Thanh Trí, nguyên Chánh đại diện GHPGVNTN tỉnh Thừa
Thiên-Huế, Giám tự chùa BQ, viên tịch năm 1984, nhục thân
được an táng tại bảo tháp
này.
39.bản
dịch của HT Thích Thiện Hạnh.