CHÙA
HUYỀN KHÔNG
Ở
sự hài hoà của kiến trúc và phong cảnh những ngôi chùa
trên đất Cố đô xưa, đâu đó là huyền thoại, sử thi và
chuyện đời, chuyện đạo… để mỗi ai nặng lòng với mảnh
đất này, không khỏi tơ vương một phần văn hoá Huế, dưới
những mái chùa đã đi qua phong sương thời gian. Ở đấy nơi
cửa thiền, ngoài tín ngưỡng và ấn đạo… còn là tâm thức
nhân văn. Trong số ấy có chùa Huyền Không.
Chùa
xưa người cũ vạn đời
Đất
thiêng liêng dựng khoảng trời linh thiêng
Theo
con đường ven sông Hương ngược về nguồn ta tìm đến chùa
Huyền Không ở thôn Nham Biền, Hương Trà ngoại vi Thành phố
Huế. Đây là ngôi chùa Phật Giáo Nam Tông, hậu thân của
chùa Huyền Không ở Lăng Cô, Phú Lộc xưa.
Lễ
nghi của phật giáo Nam Tông đơn giản nhưng trang trọng và
tôn nghiêm bởi dựa vào truyền thống Kinh Điển Nguyên Thuỷ,
không nặng về hình thức và phô diễn tín ngưỡng, đạo
Phật dựa trên nền tảng nhân quả, khích lệ Phật tử trau
dồi phước thiện, làm lành tránh dữ. Phật giáo Nam Tông
tại Huế đã đóng góp cho xã hội nhiều mặt tích cực điển
hình như Thượng toạ Tuệ Tâm cùng một nhóm Phật tử đã
thành lập phòng thuốc Đông Y từ thiện - Tuệ Tĩnh Đường
diệu đế chẩn bệnh cứu giúp người nghèo.
(Kiến
trúc của nội thất Phật điện Nam Tông thường cho một cảm
nhận thanh thoát và thiêng liêng, gần gũi với con người).
Chùa được xây bằng vật liệu hiện đại là bê tông cốt
thép, mà vẫn mang dáng dấp cổ kính, hài hoà với đường
nét chung của Cố đô…và được đánh giá là một thể nghiệm
thành công của ý tưởng kiến trúc.
Tôn
thờ vẻ đẹp thiên nhiên, một bức tranh phong cảnh nhân tạo
ngay bên toà Phật điện gọi là Thanh tâm viên. Tên gọi như
cảnh trí, cho ta một không gian tĩnh tâm bởi màu xanh bình
yên của cỏ và dăm ba gốc dương liễu cổ kính. Mái Lương
Đình đỏ thấp thoáng sau mấy gốc sứ, gốc đại và thiên
tuế tuổi tác gần thế kỷ soi bóng xuống mặt hồ Hàm Nguyệt
Trì.
Không
gian cây xanh làm mềm mại thêm các đường nét kiến trúc
của hành lang, mái ngói với các kèo cột, xuyên xà của toàn
bộ khối nhà bê tông sắc cánh dán, tinh vi như gỗ thực.
Mái đao, hai đầu nóc, quyết trang trí và hồi văn cách điệu
những nét mạnh, sắc. Những bức phù điêu đắp lộng biểu
tượng tứ linh long, lân, quy, phượng với hai gam màu xanh lam,
trắng mang đậm nét văn hoá cung đình Huế.
Bên
phải Phật điện là một kiến trúc thu hút sự chú ý của
khách thập phương là Yên Hà Các, với lối kiến trúc ít
nhiều mang phong cách xứ phù tang. Những giỏ phong lan luôn
được chăm sóc và thay đổi mỗi ngày hoa nở, được chọn
trong 500 giỏ phong lan quý nuôi trồng ở vườn dưới sân chùa.
Môi trường cỏ cây được chăm sóc kỹ lưỡng, từ những
chú tiểu nhỏ cũng tham gia cho khung cảnh chùa luôn có màu
xanh hoa lá, Yên Hà Các với những đường nét kiến trúc uyển
chuyển, nhẹ nhàng nằm giữa những quy hoạch tiểu cảnh sân
vườn đầy thẩm mỹ, cho du khách thập phương và Phật tử
một môi trường sinh thái an lành và nhiều mỹ cảm của một
chốn hành thiền không mấy xa Huế.
Ngôi
chùa Huyền Không thứ hai trên đất Phú Xuân là Huyền Không
sơn thượng - là nẻo về chốn thảo am một vùng bán sơn
địa có tên gọi thật lạ: vùng Chằm. Con đường lên núi
Hòn Vượn trong sơn phận xã Hương Hồ, huyện Hương Trà,
cách nay bốn năm còn xa ngái và hiu quạnh. Rừng đi mãi thành
đường dẫu còn ghập ghềnh trắc trở, thì bẩy cây số
đường rừng đủ thêm phong vị cho chuyến đi thảo dã đến
với thiên nhiên và vãn cảnh chùa.
Tới
vùng chân núi có độ cao 309m so với mực nước biển. Mọc
lên cao dần cả một rừng thông được trồng 5-6 vạn cây
nên gọi là vạn tùng sơn. Là một vùng rừng 56ha do Nhà nước
giao đất giao rừng từ năm 1989 cho nhà chùa. Trung tâm sơn
lũng mở ra Tả thanh long là một triền đồi thoai thoải, Hữu
bạch hổ là một dãy núi cao liền khối với núi mẹ, um tùm
cây rừng nguyên sinh đang phục hồi. Hướng Tây Nam có một
mỏm núi với cây cổ thụ mọc cheo leo trên đá là Độc thụ
sơn.
Dưới
gốc cây cổ thụ là bức tượng đá nổi tiếng của Viện
sĩ Thống tấn Nghệ thuật Pháp, cố Hoạ sĩ nhà điêu khắc
Điền Phùng Thị đã tạc, gửi tặng chùa một dáng ưu tư
của thiền sư trong bóng núi mây ngàn. Những am cốc ẩn cư
nằm rải rác sâu trong rừng, quanh quanh trên triền núi. Ngược
dòng lịch sử: Nhiều chùa Huế vốn là tổ Đình, nguồn mạch
luân lưu những dòng chảy Phật giáo thiền tông. Giờ đây
trên núi này gần 20 vị sư và chúng điệu là tăng sinh Phật
học viện Huyền Không, chọn cho mình cuộc sống tịch liêu,
tu luyện và trọn vẹn với thiên nhiên.
Một
buổi chiều rời Huế lên thăm chùa trên núi nơi lưng chừng
non xanh, chưa phải là quá xa Cố đô mà tiếng chim tiếng suối
đưa đường, tới Phong Trúc Am như một cánh cửa tượng trưng
luôn mở rộng đón mời tao nhân mặc khách ghé thăm Huyền
Không sơn thượng tựa lưng vào núi Vạn Tùng. Phật điện
bằng gỗ mái tranh thanh thoát, mộc mạc trên nền xanh hùng
vĩ của núi rừng, phong cảnh vừa dân giã, vừa nghệ sĩ để
tâm hồn nhận cảm nét thơ mộng thi ca của tự nhiên:
Nghe
Đạo hương rừng theo gió đến
Đọc
thơ trăng sáng vượt non về
Khiêm
nhường về tầm vóc và sự bề thế Phật điện của Huyền
Không sơn thượng gần gũi với nhân gian, và cả một không
gian thiên nhiên xung quanh xanh màu lá được chăm sóc bởi bàn
tay con người. Sự tinh tế của người Huế trong quy hoạch
kiến trúc sân vườn luôn tôn thiên nhiên lên làm chủ thể.
Hoa cỏ đủ loại với hương thơm phảng phất xa gần của
nhiều loại thảo mộc quý được đưa về trồng ở đây.
Những dò phong lan bên những chậu cây cảnh, cội mai già,
tùng bách bên cỏ giả rêu phong khoe vẻ đẹp tao nhã hoang
sơ. Dường như ở đây với sự hiện hữu của muôn loài,
để đến với Huyền Không là đến với cái vĩnh hằng của
sự sống và tìm thấy sự bằng an thanh tịnh của lòng mình.
Cao
xanh một vùng mây lặng
Hồ
vàng bóng núi không chao
Nhìn
ai rong bèo khẽ động
Tâm
vừa xoá ấn đi đâu
Ẩn
dụ một dòng thơ bay với dáng chữ phong trần nét bút, níu
giữ chân người dừng bước qua đây, trước một mặt hồ
Minh Đường in bóng cây bóng núi, mà lắng lại sự trong sáng
và thanh thản cho tâm hồn vốn có ở mỗi con người. Trong
bức tranh cảnh trí non ngàn ấy, nơi này không thể mang một
cái tên nào khác ngoài hai chữ Huyền Không.
Ở
chùa Huyền Không được xoá mù chữ hết lớp 12, các sư tăng
ban ngày đi học theo các lớp phổ thông, hay các trường cao
đẳng, đại học, ngoại ngữ và vi tính, thời gian còn lại
ở chùa học giáo lý Phật giáo bằng chữ Paly, ngoài ra sư
trưởng còn dành thời gian cho bài học về thẩm mỹ, nhận
cảm về cái đẹp để phát triển văn hoá trong mỗi người
chân tu.
Trong
cái không khí ấm áp thân quen vốn là nét riêng ở chùa Huế,
các thiền sư không chỉ là người giữ chùa mà đang giữ
lấy "hồn chùa". Bạn có thể đến đây đàm đạo với các
thầy vẽ hội họa, học nhiếp ảnh và chia sẻ những bài
thơ mới.
Thượng
toạ Giới Đức đã có nhiều đóng góp trong kho tàng
văn học nước nhà. Sau những buổi đàm đạo về văn chương
thơ phú với các học giả Huế, những tác phẩm văn thơ của
ông đã được đăng ở nhiều báo, tạp chí sông Hương. Ngoài
những sách về Đạo phật, ông đã xuất bản nhiều tiểu
thuyết và truyện ngắn.
Bên
cạnh đó thượng toạ còn được kể đến như một người
tiên phong viết thư Pháp chữ Việt trong sách "sự kỳ diệu
của chữ viết Việt Nam hiện đại", nghệ thuật thư pháp
của ta bắt đầu từ chữ Hán nôm đã có từ lâu đời, phát
triển ở khắp Bắc – Trung – Nam. Trên đất Huế, có lẽ
do nhu cầu tình cảm của những người làm thơ tiếng phổ
thông, muốn thể hiện những bài thơ của mình bay bướm và
phóng khoáng nên thư pháp tiếng Việt đã ra đời. Đó là
một cách biểu hiện, một kiểu chơi chữ Việt độc đáo.
Và ở Am Mây Tía chùa Huyền Không, bên cạnh những buổi bình
thơ, còn là những buổi thảo thư pháp của các hoa bút nổi
tiếng miền Hương ngự.
Trong
những ngày Festival Huế sắp tới, nơi này được chọn để
tổ chức triển lãm thư pháp. Đây là một thú vui tao nhã,
giàu tính nhân văn mang nét đẹp của truyền thống văn hoá
phương Đông. Người viết thư pháp một lần nữa được
trải hồn mình qua nét chữ của bài thơ. Và sự sống động
của chữ Việt đã lôi cuốn cả người viết và người thưởng
thức trên những chất liệu khác nhau như giấy dó, quạt,
lụa hay gỗ…
Thượng
toạ giới đức cùng các nhà thư pháp ở Huế đã tham gia
rất nhiều các cuộc triển lãm thư pháp trong Nam ngoài Bắc,
đóng góp vào sắc thái văn hoá đặc sắc qua những cuộc
triển lãm và viết thư pháp Hán Việt. Thượng toạ Thích
Phước Thành là một trong những người viết thư pháp chữ
Hán nổi tiếng nhất ở nước ta. Với nét chữ thảo như
bay thầy đã từng được triển lãm thư pháp trên toàn
quốc và ở Pháp, ở Đức.
Với
các thế thư pháp là chân thư, hành thư, thảo thư, triện
thư và hoạ thư, đủ nói lên phong cách các nét bút, qua cái
tâm để nói được cái hồn của chữ. Chữ dưới bàn tay
phóng bút tài hoa, mẫn cảm mà thành một tác phẩm nghệ thuật
thực thụ, có ẩn chứa ý tứ: trông chữ thấy hình, trông
hình thấy chữ. Thế mới có câu rằng: nhất chữ, nhì tranh,
tam sành, tứ kiểng, đủ nói lên thư pháp được trân trọng
trong kho tàng văn hoá dân tộc.
Và
cửa thiền Huyền Không ngoài tôn giáo, ngoài chốn thảo an
vãn cảnh, còn là một góc nhân văn của xứ Huế mộng mơ.
Ai lên chùa là gặp ngay ở triền núi dọc con đường vào
– những tấm đá khắc chữ bằng thư pháp - đã phôi pha
màu thời gian, cho ta nhiều suy ngẫm và triết lý, ở đấy
bằng thơ bằng chữ, qua cảnh qua tình, mà thấy đạo thấy
đời.
Ảnh
hưởng định hướng của thượng toạ giới Đức, một số
tăng sĩ của Huyền Không đã bước vào con đường nghệ thuật
như kiến trúc, mỹ thuật và văn học. Họ gửi gắm tâm tưởng
sáng tạo trong hội hoạ, điêu khắc hay thiết kế mỹ thuật
đồ hoạ. Ngoài ý nguyện chung là cùng sư trụ trì tạo dựng
chùa như một nơi đến ngoài tâm linh là văn hoá - để cái
đẹp mang đến sự thiện chí và sáng tạo khôn cùng.
Mỗi
ngày trong cuộc đời sư tăng nơi thiền tự Huyền Không ở
sơn thảo vùng Chằm, khoá sớm hay khoá chiều hành thiền để
trả lại sự quân bình, tìm lại sự tĩnh lặng cho tâm hồn,
phải chăng sự định tĩnh nội tâm để người chân tu vượt
qua những tình huống cuộc đời.
Sau
khoá thiền ban mai và kinh sớm, những thiền sư xuống núi
khất thực với truyền thống Y bát của Chư phật cả ngàn
năm trước, trong bước đi của họ từ sáng tới chiều để
giữ gìn hạnh vô sản bần hàn, tập hạnh nhẫn nhục, giữ
tâm bình trước kẻ giàu nghèo, sống cuộc đời vô ngã…
và có lẽ là:
Rong
trời ba cõi mười phương Phật
Để
biết hư vô đạo có tình
VTV-Ban
Khoa Giáo