Chùa
tọa lạc ở xã Tràng An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Chùa được khởi dựng từ thời Lý. Chùa từng là nơi trụ
trì của nhiều vị Thiền sư danh tiếng như Quốc sư Nguyễn
Minh Không (đời Vua Lý Thần Tông), Thiền sư Pháp Loa (đời
Vua Trần Minh Tông), Thiền sư Chân Nguyên (thời Hậu Lê)...
và trở thành một trung tâm Phật giáo của cả nước từ
lúc Thiền sư Pháp Loa lập Viện Quỳnh Lâm vào năm 1317. Ơở
sân trước chùa có nhiều tháp cổ, trong đó có tháp Tuệ
Quang là tháp mộ Thiền sư Chân Nguyên dựng năm 1726. Đặc
biệt, chùa còn giữ một tấm bia thời Lý cao 2,43m, ngang 1,54m
khắc chữ hai mặt và một số di vật bằng đá, đất nung
cổ. Chùa hiện được Đại đức Thích Đạo Quang tổ chức
trùng tu mở rộng. Năm 1995, chùa đã xây nhà bia và nhà thờ
Trúc Lâm Tam Tổ. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là
Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Chùa
Quỳnh Lâm nằm trên đồi trong dãy núi vòng cung Đồng Triều,
xã Tràng An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Chùa được
khởi dựng từ thời Lý. Chùa từng là nơi trụ trì của nhiều
vị Thiền sư danh tiếng như Quốc sư Nguyễn Minh Không (đời
Vua Lý Thần Tông), Thiền sư Pháp Loa Đồng Kiên Cương,
vị tổ thứ 2 của phái Thiền Trúc Lâm (đời Vua Trần Minh
Tông), Thiền sư Chân Nguyên (thời Hậu Lê)... và trở thành
một trung tâm Phật giáo của cả nước từ lúc Thiền sư
Pháp Loa lập Viện Quỳnh Lâm vào năm 1317.
Trên
cở sở chùa Quỳnh Lâm cũ, năm 1316 Pháp Pháp Loa cho xây dựng
và thành lập viện Quỳnh Lâm với một kiến trúc đồ sộ
và hoàn chỉnh vào năm 1329. Quỳnh Lâm trở thành "Đệ nhất
danh lam cổ tích của nước An Nam". Đây là nơi trung tâm truyền
kinh giảng đạo và đào tạo hàng ngũ sư sãi cho đạo Phất,
nhiều hội lớn có tiếng trong sử sách được tổ chức tại
đây như hội" Thiên Phật bảy ngày, bảy đêm" (1352)...
Hiện
ở sân trước chùa có nhiều tháp cổ, trong đó có tháp Tuệ
Quang là tháp mộ Thiền sư Chân Nguyên dựng năm 1726. Đặc
biệt, chùa còn giữ một tấm bia thời Lý cao 2,43m, ngang 1,54m
khắc chữ hai mặt và một số di vật bằng đá, đất nung
cổ. Chùa hiện được Đại đức Thích Đạo Quang tổ chức
trùng tu mở rộng. Năm 1995, chùa đã xây nhà bia và nhà thờ
Trúc Lâm Tam Tổ. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là
Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Lễ
hội chùa Quỳnh Lâm diễn ra từ ngày mồng 1 đến ngày mồng
4 tháng 2 âm lịch, nhưng không khí lễ hội diễn ra trong suốt
3 tháng xuân với lòng thành kính của tất cả các tín đồ
Phật tử gần xa tín tâm về đây dâng hương lễ Phật.
Chùa
Quỳnh Lâm thời Lý - Trần
Một
hình ảnh dung hợp văn hoá
09-03-
2008 12:00
Hiện
tượng hội nhập ba thành tố Phật, Nho và Đạo là một hiện
tượng đặc sắc hiếm có trong sinh hoạt của cộng đồng
người Việt dưới thời đại Lý - Trần (tạm dùng danh từ
này để gọi chung một thời kỳ lịch sử kéo dài từ năm
938 đến 1406).
Nó
là nét riêng góp phần tạo nên một bầu không khí tinh thần
tự do, phóng khoáng, dễ thở ở nhiều lĩnh vực của đời
sống xã hội mà nhiều thế kỷ về sau dường như không còn
tìm thấy lại; cũng chính nó đã góp phần tạo nên bản sắc
ưu mỹ của văn hoá Việt Nam trong 5 thế kỷ tự chủ buổi
đầu này.
Có
thể coi đây là kết quả của nhiều điều kiện, nhiều nhân
tố khác nhau nhưng trong đó theo chúng tôi, có một điều kiện
hết sức quan trọng đó là sự cởi mở về quan điểm chính
trị của các chính quyền nhà nước đương đại thuở ấy,
do bản lĩnh và sự mẫn cảm phi thường của người nắm
vận mệnh đất nước thấu hiểu được các yêu cầu của
lịch sử, thể hiện cụ thể hoá bằng nhiều chủ trương
chính sách của triều đình.
Những
công việc song song và đan cài vào nhau suốt cả thời kỳ
này, bao giờ cũng biểu hiện sự đối xử cân bằng vị thế
giữa cả Phật, Nho và Đạo, như: vừa cho dựng chùa, lập
các đạo cung, đạo quán, xây đền miếu, vừa cấp độ điệp
cho sư sãi, đặt giai phẩm cho tăng đạo, sắc phong cho các
vị nho thần, lại vừa cho dựng Văn Miếu và Quốc Tử Giám,
mở khoa thi Nho học, đồng thời cũng mở cả khoa thi Tam giáo
dành cho những quan chức chuyên trách việc tôn giáo, tế lễ
hoặc những người làm giám tự các đền miếu, chùa chiền.
Chỉ
dẫn chứng một ông vua là Trần Nhân Tông (1258 - 1308) thôi,
ta thấy vừa đánh xong giặc Nguyên - Mông ít lâu ông đã cởi
hoàng bào đi tu, làm vị tổ đầu tiên của giáo hội Trúc
Lâm Yên Tử. Nhưng ông vẫn quan tâm bồi dưỡng nhân cách
bậc hiền nhân quân tử theo các tiêu chuẩn của đạo Nho
cho ông vua con kế vị và cho hàng ngũ bề tôi rường cột
của triều đình. Mặt khác, ông cũng lo tổ chức cho nhiều
đại thần công khanh thụ giới ưu bà tắc, tức là không
xuất gia nhưng vẫn làm Phật tử tại gia.
Đặc
biệt, chủ trương dung hợp Nho, Phật, Đạo của các vua Trần
thời này lại không hề đi kèm với những biện pháp cứng
rắn, mệnh lệnh, mà được thực hiện khá uyển chuyển,
lấy việc thuyết phục và tự nguyện làm phương châm hàng
đầu.
Khi
vua Trần Anh Tông (1293 - 1320) viết bài thơ Chiêu Ẩn rủ Nguyễn
Trung Ngạn đi tu, ông không theo, nhà vua cũng không ép. Thấy
Trương Hán Siêu là người hăng hái bài Phật, vua Trần Minh
Tông (1314 - 1357) liền cử ông đến làm giám tự chùa Quỳnh
Lâm (khoảng sau 1342), và có lẽ những ảnh hưởng sâu sắc
của sinh hoạt Phật giáo tại chùa này đã làm cho tư tưởng
Trương Hán Siêu về cuối đời thay đổi hẳn:
Đời
lênh đênh trước khác nay,
Thân
nhàn mới biết trước ngày lầm tọ
(Dục
Thuý Sơn)
Và
Trần Thì Kiến, một vị đại thần khác, cũng đã nói lên
được cái ý nghĩa sâu xa của việc dung hợp Phật - Nho bằng
những câu thơ thâm thuý:
Rừng
suối phải đâu là đại ẩn,
Chùa
nhà ấy mới thực chân tu...
(Tặng
An Lãng tự Phổ Minh thiền sư)
Chính
là từ nhiều dạng thức hoạt động phong phú và mềm dẻo
như trên, nền chính trị của các vương triều thuở bấy
giờ đã có tác dụng cố kết lòng dân, giải toả dần mọi
ức chế, ổn định tâm lý xã hội, và đưa ba hệ thống
giáo lý, tư tưởng vốn rất xa cách là Phật, Đạo và Nho
xích lại gần nhau; mặt khác quan trọng hơn, nó tạo điều
kiện xuất hiện một đội ngũ trí thức cấp tiến tinh thông
về nhiều mặt, tài hoa sắc sảo về trí tuệ, đáp ứng được
mọi yêu cầu đa dạng của đời sống chính trị, xã hội
và cả nhu cầu vi diệu của tâm linh, có thể gọi là một
lực lượng xã hội định hướng, một động lực thiết
yếu làm rường cột xã hội cho bất kỳ giai đoạn phát triển
nào của lịch sử. "Đại Việt sử ký toàn thư" phải nói
là bấy giờ "nhân tài đầy rẫy", và nhà sử học Lê Quý
Đôn cũng nhận định: "Bởi vì nhà Trần đãi ngộ sĩ phu
rộng rãi mà không bó buộc, hoà nhã mà có lễ độ, cho nên
nhân vật trong một thời có chí khí tự lập, hào hiệp, cao
siêu, vững vàng vượt ra ngoài thói thường, làm rạng rỡ
sử sách" (Kiến văn tiểu lục).
Lê
Quý Đôn tuy hình dung họ như những gương mặt nhà nho tiêu
biểu, nhưng muốn hiểu được sức mạnh tinh thần của những
con người ấy thì phải nhìn sâu hơn vào những nhân tố nhiều
mặt kết hợp ở bên trong - một tổng lực thâm hậu - mà
phải trải qua một quá trình mới có thể tạo nên được.
Như
vậy, không thể không thừa nhận sự cởi bỏ những ràng
buộc khắt khe về một hệ tư tưởng độc chuyên nào đấy,
về một thứ tôn giáo độc trị nào đấy, nhằm đi đến
một sự hỗn dung, điều hoà, đa dạng về tư tưởng, là
một thực tế có ý nghĩa tích cực ở thời Lý - Trần, đã
giúp cho sự hội nhập văn hoá dưới thời Lý - Trần diễn
ra thuận lợi, dễ dàng.
Là
một trong những trung tâm văn hoá Phật giáo tiêu biểu bậc
nhất thời Lý - Trần, chùa Quỳnh Lâm chắc chắn phải có
những bằng chứng về sự hội nhập Phật, Nho và Đạo đã
nói. Nhưng ngày nay, thời gian đã làm cho tất cả những gì
tồn tại ở đây đều bị tàn phá. Để tìm ra dấu vết
của sự hội nhập, thế tất phải dựa vào các cứ liệu
gián tiếp, nhằm dựng lên một giả thuyết cho người nghiên
cứu. Có ba loại cứ liệu:
1.
Sự tích các nhân vật "truyền thừa" ở chùa Quỳnh Lâm còn
biết được, như Không Lộ, Pháp Loa...
2.
Những truyền thuyết, giai thoại về chùa Quỳnh mà nhân dân
quanh vùng vẫn kể.
3.
Thơ văn của Bích Động thi xã, một thi xã gắn bó mật thiết
với chùa Quỳnh Lâm vào thời Lý - Trần.
Lần
lượt, các mảng tài liệu nói trên sẽ bổ sung cho nhau, rọi
một vài tia sáng vào màn tối của quá khứ, giúp nhận dạng
phần nào các lớp nền đã bồi đắp thành bề dày văn hoá
ở Quỳnh Lâm. Với nhân vật Không Lộ (? - 1119) và các truyền
thuyết xoay quanh Không Lộ thời Lý, như việc đúc tượng
đồng chùa Quỳnh Lâm cao 6 trượng 6 thước (bia trước chùa
còn ghi lại), hoặc các phép thuật siêu việt của con người
này, ta thấy hiện diện ở đây một nền văn hoá Phật giáo
bắt rễ sâu vào văn hoá dân gian bản địa cổ truyền, kể
cả tín ngưỡng Đạo giáo đã được dân gian hoá từ lâu
đời (Không Lộ là một trong những bằng chứng của sự kết
hợp chặt chẽ giữa Thiền và Phật giáo).
Lễ
hội chùa Quỳnh rất nổi tiếng trước đây có gốc rễ xa
xưa trên cơ sở đó. Triết lý dân gian đã làm cho tư tưởng
nhà Phật thêm khoẻ mạnh, và các hình thức sinh hoạt phong
phú của dân gian giúp nó thâm nhập vào nhiều mặt của đời
sống. Màu sắc của sinh hoạt phồn thực rất đậm nét trong
các hình thức lễ hội vùng này, còn được thơ ca dân gian
trong vùng ghi lại:
Vua
tu Phật hoá vui vui nhỉ,
Chả
trách ngày xưa gái lộn chồng
Với
các hoạt động của nhân vật Pháp Loa (1284 - 1330) vào thời
đại Trần, chùa Quỳnh Lâm bước vào chặng đường phát
triển thứ hai, trở thành một Thiền viện, một trường sở
Phật học quy mô, bề thế, nơi đào tạo rất bài bản người
tu Phật thông qua kinh sách và mọi nghi thức thụ giới nghiêm
ngặt của nhà chùa.
Nhưng
nói chung, cách thức giảng tập đạo Thiền lại không phải
là khô khan trừu tượng, cũng không phải thụ động theo lối
thầy nói trò nghe, mà diễn ra như những sinh hoạt văn nghệ
dân gian lý thú, có đối thoại, có diễn xướng, có lời
ca, thậm chí có cả những động tác có tính chất đóng trò
rất sinh động.
Mặt
khác, quan điểm Phật giáo chiếm ưu thế ở các bài giảng
của Pháp Loa là tư tưởng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, nó
nặng phần nhập thế, hiện hữu và không cứng nhắc trong
tư duy, cũng không xoá bỏ mất bản ngã. Phật giáo ở đây
rõ ràng đã được điều chỉnh bởi tinh thần thực tiễn.
Với
phần thơ văn còn lại của Bích Động thi xã, Quỳnh Lâm còn
là nơi trú ngụ của các nhà thơ - chính khách - cư sĩ, rất
gắn bó với thiên nhiên, biết tìm cho mình những phút giây
thanh tịnh, có lúc thấm đậm tinh thần thoát ly của Đạo
giáo quyện lẫn với tư tưởng Thiền, như nhiều bài thơ
của Trần Quang Triều, Nguyễn Sưởng, Nguyễn ức, Nguyễn
Trung Ngạn, mà ở đây chỉ xin dẫn một bài:
Nguội
ngắt lòng danh lợi,
Am
thiền rảo gót qua.
Xuân
chầy, hoa mỏng mảnh,
Rừng
thẳm, ve ngân nga.
Mưa
tạnh, da trời biếc,
Ao
trong, ánh trăng ngà.
Khách
về, sư biếng nói
Thông
rụng, nức mùi hoạ
(Đề
Gia Lâm tự - Trần Quang Triều).
Tuy
nhiên, trong chỗ sâu nhất của tâm hồn, tư tưởng, lớp người
này vẫn ẩn giấu tình cảm sâu nặng của những nhà Nho nhập
cuộc, không thôi thao thức về ý thức trách nhiệm đối với
nước và dân:
Gió
vờn trụ đá hạc lên tiên,
Mây
phủ nhà tranh rồng ngủ yên.
Chợt
nghĩ đến dân rầu khúc ruột,
Chuông
Quỳnh lạnh thấm ánh trăng đêm.
(Trùng
đáo Quỳnh Lâm Bích Động am lưu đề - Nguyễn Sưởng).
Tóm
lại, dưới hình thức một Thiền viện, Quỳnh Lâm thời Lý
- Trần thực chất là hình ảnh thu nhỏ của một sự dung
hợp văn hoá, bắt nguồn từ mạch sống của một xã hội
đang tự phát hay tự giác kéo dãn những ràng buộc khắt khe
về hệ tư tưởng, làm cho mọi tiềm năng ngày càng nảy nở.
Chỉ
từ giữa thế kỷ XV trở đi, Nho giáo trở thành độc tôn,
hiện tượng dung hợp nói trên mới bị quan điểm chính thống
của vương triều Lê sơ xoá bỏ. Tuy vậy, trong tâm lý và
trong sinh hoạt lâu đời của người dân, việc xoá bỏ không
phải là dễ dàng.
Trên
Phật điện ở các chùa chiền Việt Nam, bên cạnh bàn thờ
Phật bao giờ cũng có một toà riêng thờ Mẫu, biểu tượng
của Đạo giáo và tôn giáo dân tộc. Và cuộc đấu tranh dai
dẳng giữa Nho và Phật cũng đã diễn ra, sôi nổi kéo dài
suốt nhiều thế kỷ mà thơ ca dân gian xung quanh chùa Quỳnh
Lâm còn ghi lại:
Một
bên Phật giáo thách đố:
Quỳnh
Lâm khánh đá chuông đồng,
Muốn
chơi thì bỏ của chồng mà chơi.
Một
bên Nho giáo thách đố lại:
Của
chồng lắm lắm em ơi,
Bao
giờ trả hết đi chơi chùa Quỳnh.
Cuộc
đấu tranh không phân thắng bại này chính là một biểu hiện
tự phát của người dân chống lại những chủ trương cực
quyền của giai cấp thống trị phong kiến muốn dùng Nho giáo
để duy trì sự thống trị của nó.
Nguyễn
Huệ Chi
Video:
Chùa Quỳnh Lâm
Đệ
nhất danh lam cổ tích của nước An Nam
Từ
Hà Nội, xuôi theo quốc lộ 18, đến ngã tư Đông Triều (Quảng
Ninh), rẽ trái và đi khoảng 3,5 km nữa, du khách sẽ đến
một trong những di tích Phật giáo một thời vang bóng: chùa
Quỳnh Lâm.
Chùa
Quỳnh Lâm nằm trên đồi trong dãy núi vòng cung Đông Triều,
thuộc xã Tràng An, huỵện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Chùa
nằm ở trung tâm ba xóm Thượng, Hạ, Sinh. Phía trước cửa
chùa là hồ nước lớn, ba phía còn lại là đồi núi bao bọc.
Thế đất này được gọi là thế ngai vàng, hay thế "Rồng
chầu hổ phục".
Chùa
được khởi dựng từ thời Lý. Vào thời này, khi Quốc Sư
Minh Không trụ trì, ngài đã đã cho đúc một pho tượng Di
Lặc bằng đồng cao 6 trượng 6 thước, được coi là một
trong "An Nam tứ đại khí" (bốn báu vật lớn của Việt Nam)
và một tấm bia đá lớn cao 2,43 m, ngang 1,54 m, khắc chữ ở
hai mặt với hoa văn hình rồng uốn lượn mềm mại. Hiện
tấm bia này vẫn còn được lưu lại tại Chùa.
Chùa
Quỳnh Lâm trở thành một trung tâm Phật giáo của cả
nước từ lúc Thiền sư Pháp Loa – đệ nhị Tổ Thiền phái
Trúc Lâm lập Viện Quỳnh Lâm vào năm 1316. Viện Quỳnh Lâm
có kiến trúc đồ sộ và được hoàn chỉnh vào năm 1329.
Khi đó, Quỳnh Lâm trở thành "Đệ nhất danh lam cổ tích của
nước An Nam". Đây là nơi trung tâm truyền kinh giảng đạo
và đào tạo hàng ngũ sư sãi cho đạo Phật. Tương truyền
chùa rộng đến nỗi các chiến mã chạy một vòng quanh chùa
cũng mệt đổ mồ hôi.
Năm
1319, Thiền sư Pháp Loa đã kêu gọi tăng nhân và Phật tử
chích máu in hơn 5.000 quyển kinh Đại Tạng cất giữ ở Quỳnh
Lâm viện. Năm 1328 Ngài lại cho đúc một pho tượng Di Lặc.
Sau đó Ngài tâu xin nhà vua cho được kéo tượng từ nền
điện lên bảo toạ để dát vàng. Năm 1329, Thiền sư Pháp
Loa cho đem theo một phần tro hài cốt của vua Nhân Tông (vị
tổ thứ nhất của thiền Trúc Lâm) về đặt trong tháp đá
của ở Quỳnh Lâm.
Có
một câu chuyện thú vị và hy hữu xảy ra dưới thời vua
Trần Minh Tông, một nhà nho đã làm giám tự chùa Quỳnh Lâm.
Số là thấy nhà Nho Trư¬ơng Hán Siêu là ng¬ười hăng hái
bài Phật, nhà vua liền cử ông đến làm Giám tự chùa Quỳnh
Lâm (khoảng sau 1342). Và có lẽ những ảnh hưởng sâu sắc
của sinh hoạt Phật giáo tại chùa này đã làm cho tư tưởng
Trương Hán Siêu vào cuối đời thay đổi hẳn :
Đời
lênh đênh trước khác nay,
Thân
nhàn mới biết trước ngày lầm to.
Sang
đầu thế kỷ 15 chùa bị phá huỷ nặng nề, phải trùng tu
rất nhiều lần. Đến thế kỷ 18 (1727), chùa dựng tháp Tịch
Quang bằng đá xanh (tháp mộ của nhà sư Chân Nguyên - một
nhà sư có công lớn đối với chùa), tháp gồm 7 tầng cao
10 m, đỉnh tháp hình búp đa, trên tháp có gắn tấm bia ghi
lại tiểu sử của sư Chân Nguyên. Đến giữa thế kỷ 18,
chùa được trùng tu lớn, có cả chuông đồng, khánh đá.
Kiến
trúc nổi bật của chùa Quỳnh Lâm hiện nay là tháp chuông
ba tầng, với ba quả chuông từ lớn đến nhỏ được treo
ở ba gác mái. Từ lầu chuông có thể nhìn ra một không gian
rộng lớn và nên thơ.
Tiếp
theo tháp chuông là chính điện. Giống như chính điện của
các ngôi chùa theo Thiền phái Trúc Lâm, phía ngoài cùng là
tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn, tiếp theo
là các lớp tượng truyền thống như Phật Thích ca niêm hoa,
hai bên là tôn giả Ca-diếp và Anan, Phật A Di Đà, hai
bên là Bồ Tát Đại Thế Chí và Bồ Tát Quán Thế Âm, lớp
tượng trên cùng là Tam thế Phật.
Hai
gian hai bên của chính điện thờ Đức Ông và Tam tòa thánh
mẫu.
Nối
tiếp gian chính điện là nhà thờ Tam Tổ Trúc Lâm, giữa là
tượng đệ nhất Tổ Trần Nhân Tông, bên trái là Đệ nhị
Tổ Pháp Loa, bên phải là đệ tam Tổ Huyền Quang
Chùa
đã được Bộ Văn hóa Thông tin cấp bằng di tích lịch sử
cấp quốc gia từ năm 1991.
Tại
chùa Quỳnh Lâm, các nhà khảo cổ tiến hành đào thám sát
8 hố, đã cho kết quả xuất lộ dấu vết nền móng
kiến trúc, đường đi, gạch, ngói múi lá, cánh sen, loại
hình dị vật, gồm đồ sành sứ, gốm sứ (trong đó có tìm
thấy 4 chiếc bát vẽ lam chân cao còn men sống) và vật liệu
kiến trúc... thời Trần; ngoài ra còn phát hiện 1 con đường
lát gạch vuông được dẫn thẳng vào chùa, 2 lan can đá chạm
rồng thời Lý, cùng dấu tích lò nung ngói hình chữ nhật
ở khu vực trước cửa (có niên đại khoảng thời Lê - Trịnh).
Đến
với chùa Quỳnh Lâm hôm nay, du khách không khỏi ngậm ngùi
về một thời huy hoàng của Phật giáo đã xa. Chùa Quỳnh
Lâm hiện nay giống như một phế tích hoang tàn. Việc trùng
tu, xây dựng chùa còn ngổn ngang, bừa bộn và chậm chạp.
Cột gỗ tháp chuông còn bị bôi vẽ, khắc tên khắp nơi.
Trong khi Yên Tử được đầu tư rất nhiều thì một di tích
khác cùng thời, cách đó không xa lại ít được quan tâm.

Trọng
Hoàng (tổng hợp)