Sau
hơn mười thế kỷ chống Bắc thuộc, từ thế kỷ thứ 10,
dân tộc ta giành được quyền tự chủ thì đồng thời bước
vào kỷ nguyên dân tộc độc lập cả về chính trị và văn
hóa. Miền đất tỉnh Thái Bình, Nam Định hôm nay ngày xưa
được coi là một vùng kinh tế mới. Mọi người đến nơi
đây để khai hoang lập nghiệp. Cùng với cuộc sống vật
chất của họ thì các nhà sư cũng đến đây để xây dựng
chùa tháp, đảm bảo cuộc sống tâm linh cho những con người
này. Theo sử sách có ghi thì vùng đất này được dân gian
gọi là Keo hay vùng đất Giao Thuỷ, là nơi nước sông với
nước sông, nước sông với nước biển gặp nhau tạo nên
những vùng hồ nước mênh mông. ở đó, con người cảm thấy
mình nhỏ bé và cần sự che chở của Thần Thánh, do đó tạo
nên kiểu chùa tiền Phật, hậu Thánh.
Chùa
là một công trình kiến trúc gắn với tình cảm của người
Việt Nam xưa. Người ta khi đi xa về gần, đều nhắc đến
chùa làng với những kỷ niệm thân thương. Người làng Keo
ở Vũ Thư, Thái Bình rất tự hào với ngôi chùa vừa cổ
kính, vừa nguy nga của làng mình.
Chùa
làng Keo tự là Thần Quang, có niên đại xây đựng từ thế
kỷ 11, nhưng sau một trận lụt chùa bị cuốn đi tất cả.
Năm 1611, Quận công Hoàng Nhân Dũng đi vận động xây dựng
chùa. Ròng rã 19 năm chuẩn bị, 28 tháng thi công, chùa được
hoàn thành năm 1632. Chùa Keo là một công trình kiến trúc quy
mô, phức hợp nhiều khối kiến trúc đa dạng nhất trong tất
cả các kiến trúc Phật giáo ở Đồng bằng Bắc bộ. Chùa
không chỉ là một bức tranh sinh động cho lịch sử văn hóa
nước ta trong 4 thế kỷ, từ thế kỷ 17 đến 20 mà còn là
nơi gặp gỡ giữa kiến trúc Trung Hoa và kiến trúc Việt Nam.
Sự hòa trộn của hai nền kiến trúc ở đây không bị kiến
trúc lai căng mà còn làm giàu thêm kiến trúc Việt Nam, giống
như Phật giáo đã từ ấn Độ, Trung Hoa vào Việt Nam đã
có thêm màu sắc tín ngưỡng nhân dân, trở thành Phật giáo
Việt Nam.
Nghệ
nhân Nguyễn Văn Trụ, người thiết kế và chỉ đạo thi công
chùa đã khéo lựa chọn cho chùa có một vị trí xây dựng
vừa đẹp, vừa đáp ứng mục đích chính của chốn thiền.
Chùa xây dựng trên một vùng đất rộng 100.000 mét vuông,
dài từ chân đê đến con ngòi của thôn Bồng Tiên, gồm nhiều
cụm kiến trúc xếp theo một trục dài cao thấp khác nhau,
kiến tạo nhiều lớp nhiều tầng, ẩn hiện dưới những
lùm cây, gợi cho khách tham quan, những nhà văn, nhà thơ, nhà
nghệ thuật nhiều cảm nhận theo những khoảnh khắc khác
của thời gian như: khi thì mái ngói dào lên cơn sóng nắng,
khi thì gác chuông chìm xuống ráng chiều tà. Hay trong giây
phút tĩnh lặng tâm hồn, một tiếng chuông buông và phút chốc
trời đất bốn phương cũng giao hòa. Nếu không phải bị
cuốn hút bởi những điều đó thì hãy theo bước chân của
những người hành hương vào chùa qua Tam quan ngoài, Tam quan
trong, đến gần một hồ rộng để tầm mắt hướng từ cao
nhìn xuống sẽ dần dần phát hiện được cái lẽ đời Việt
Nam ẩn dấu, hình thành một chuẩn mức thẩm mỹ. Người
Hy Lạp xưa khi xây dựng các ngôi đền từ quan niệm các vị
thần không tách biệt với đời đã lựa chọn độ hài hòa,
có tỷ lệ không to quá, không nhỏ quá, giữ được nét thăng
bằng giữa tính uy nghi và sự gần gũi.
Mọi
người đến với chùa không có một chút gì ngăn cách về
tinh thần, bắt đầu từ thể thức và mực thước của kiến
trúc gợi nên vẻ đẹp uyên nhã, khơi dậy những tình cảm
vuông tròn như trong nếp nghĩ và sự cầu mong của người
nông dân Việt Nam là luôn luôn được mưa thuận gió hòa,
là cuộc sống sinh sôi nảy nở mẹ tròn con vuông, là sự
sinh tồn lấy lẽ bao dung và đùm bọc làm thước đo chân
lý.
Chùa
là chốn thiền, điều bắt buộc người kiến trúc sư kiến
tạo một không gian khép kín, không gian ấy không giống với
chốn tu hành, thiên về sự khổ hạnh. ở đây là một chốn
thiền bao la trong suy tưởng cốt tìm đến trí và tuệ để
giải thoát cuộc đời bể khổ. Từ hai ý tưởng đó trong
kiến trúc chùa, khiến kiến trúc sư khi xây dựng chùa Keo
đã có nhiều sáng tạo để khi đến chùa ta thấy một không
gian khép kín nhưng không hề bị chật hẹp, tù túng mà bao
trùm một vẻ đẹp vươn tỏa bao la. Bí quyết để giải quyết
điều này là ở chỗ kiến trúc chùa Keo đã mạnh dạn sử
dụng mặt nước rộng ở cả 3 mặt trước và hai bên để
thế chùa vừa mở rộng, vừa vươn cao trong ảo giác để
hình bóng dáng chùa lẩn dần vào chiều sâu mặt nước, khiến
cái ranh giới cụ thể nhằm đáp ứng tinh thần kín như văn
bia Thần Quang Tự đã ghi: "Ngăn che khách trụ ghé nhòm"
được xóa mờ với cảm giác bao la trong tâm tưởng khi muốn
vươn tới chốn thiền. Ngoài cái sâu lắng trong tình cảm
thẩm mỹ thì thực tại mặt nước soi bóng những hàng cây
cổ thụ, bên nếp chùa có dáng thuyền rồng có những đường
cong bờ nóc, như mãi lưu lại những vầng trăng khuyết là
một thực tại cảnh quan như một nhà thơ về thăm chùa đã
viết:
"Rõ
là cảnh đấy, người đây
Chùa
Keo ơi nước non nào nên duyên"
Cũng
giống như các chùa làng khác, bên ngoài là chữ Quốc, bao
bọc bởi hai dãy hành lang bên tả, bên hữu gồm 42 gian, phía
nước là hai cổng vào tòa nhà Hộ, phía sau là nhà thờ Tổ
và gác chuông. Bên trong là chữ Công, nhưng là chữ Công kép
vì chùa thờ tiền Phật hậu Thánh. Cụm kiến trúc chữ Công
phía trước là nơi thờ Phật còn cụm kiến trúc chữ Công
phía sau là thờ Thánh Không Lộ. Không Lộ là người đã đi
tu và khởi đầu xây dựng chùa từ thời Lý thế kỷ thứ
11. Giữa hai cụm kiến trúc thờ Phật, thờ Thánh có tòa Giá
Roi. Tòa nhà này trang trí không nhiều nhưng có cấu trúc đơn
giản, hợp lý, có độ dựng thẩm mỹ được tính toán từ
những hài hòa của tỷ lệ. Tỷ lệ của chúng từ chiều
cao, độ to cột, hình dáng, đường nét đục chạm của bộ
rui xà chặt chẽ đến mức không dư thừa, và như nhiều nhà
nghệ thuật nói thì không thêm, không bỏ được điều gì
ở đó.
Tòa
Giá Roi mang nhiều chức năng của ngôi đình. Tìm hiểu kỹ
thì được biết làng không có đình, mãi sau mới xây đình
nhưng sự gắn bó của người dân ở đây không giống như
ở những ngôi đình làng khác. Trong ký ức của họ thì Tòa
Giá Roi vẫn là nơi giải quyết các việc làng, và Thần Hoàng
làng của họ là Thánh Không Lộ. Và Tòa Giá Roi ở đây thể
hiện một phần ý nghĩa nơi thờ Thần Hoàng làng.
Trong
số các ngôi chùa được công nhận là di tích văn hóa nghệ
thuật cần được bảo vệ như một gia tài qúy báu thì Chùa
Keo được xếp vào hàng ưu tiên. Công bằng mà nói, ngoài
mức độ của sự uy nghi thì việc xây dựng chùa trước hết
là tâm huyết của hàng vạn con người trong một thời gian
dài non nửa thế kỷ. Chùa Keo là một giá trị, những giá
trị về nghệ thuật, văn hóa, về tâm đức lòng người.
Xét về mặt kiến trúc thì không thể không nhấn mạnh tổ
chức không gian các tòa nhà trong cụm kiến trúc. Thoạt nhìn
có sự giống nhau, và đồng nhất về mặt kích cỡ, nhưng
thực ra lại có sự khác nhau trong từng tỷ lệ của cấu
trúc, trong sự phong phú, trong nguyên tắc bố trí mặt bằng
theo nhịp điệu thay đổi đúng mức, chỗ thì mở ra, chỗ
thu hẹp vào rồi lại mở ra, tạo độ sâu trong không gian
ngôi chùa, thu hút sự chú ý đến liên tục, gợi tạo sự
phong phú của nội thất. Mặt bằng bên trong của ngôi chùa
vẫn trong khiêm tốn về kích thước. Người Việt xưa trong
những công trình kiến trúc của mình thường không ưa vẻ
đồ sộ nhưng kiến trúc không nghèo nàn, vẫn dẫn ta từ
không gian này đến không gian khác. Sự dãn cách của các công
trình đã đạt được mục đích cố tình của nghệ thuật
tổ chức không gian, làm không gian trong chùa không những có
nhiều khu mà còn gợi ra khoảng không gian có nhịp điệu nhạc
tính khi thưởng ngoạn.
Chùa
Keo đã tồn tại ngót 400 năm. Trong suốt thời gian ấy, chùa
Keo vẫn trọn vẹn là một tác phẩm nghệ thuật, ghi đậm
một tình cảm thẩm mỹ vừa thực, vừa huyền thoại của
văn hóa Việt Nam./.
Thu
Phương 24/08/2001
Bài
Đọc Thêm:
2.
Tìm Hiểu Kiến Trúc Chùa Keo
3.
Một Lần Đến Với Chùa Keo
4.
Đến Thăm Chùa Keo
5.
Rủ Nhau Đi Hội Chùa Keo