THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

c
Những Ngôi Chùa Việt Nam
TỈNH THÁI BÌNH

Tìm hiểu kiến trúc chùa Keo
Thu Phương

Sau hơn mười thế kỷ chống Bắc thuộc, từ thế kỷ thứ 10, dân tộc ta giành được quyền tự chủ thì đồng thời bước vào kỷ nguyên dân tộc độc lập cả về chính trị và văn hóa. Miền đất tỉnh Thái Bình, Nam Định hôm nay ngày xưa được coi là một vùng kinh tế mới. Mọi người đến nơi đây để khai hoang lập nghiệp. Cùng với cuộc sống vật chất của họ thì các nhà sư cũng đến đây để xây dựng chùa tháp, đảm bảo cuộc sống tâm linh cho những con người này. Theo sử sách có ghi thì vùng đất này được dân gian gọi là Keo hay vùng đất Giao Thuỷ, là nơi nước sông với nước sông, nước sông với nước biển gặp nhau tạo nên những vùng hồ nước mênh mông. ở đó, con người cảm thấy mình nhỏ bé và cần sự che chở của Thần Thánh, do đó tạo nên kiểu chùa tiền Phật, hậu Thánh.

Chùa là một công trình kiến trúc gắn với tình cảm của người Việt Nam xưa. Người ta khi đi xa về gần, đều nhắc đến chùa làng với những kỷ niệm thân thương. Người làng Keo ở Vũ Thư, Thái Bình rất tự hào với ngôi chùa vừa cổ kính, vừa nguy nga của làng mình. 

Chùa làng Keo tự là Thần Quang, có niên đại xây đựng từ thế kỷ 11, nhưng sau một trận lụt chùa bị cuốn đi tất cả. Năm 1611, Quận công Hoàng Nhân Dũng đi vận động xây dựng chùa. Ròng rã 19 năm chuẩn bị, 28 tháng thi công, chùa được hoàn thành năm 1632. Chùa Keo là một công trình kiến trúc quy mô, phức hợp nhiều khối kiến trúc đa dạng nhất trong tất cả các kiến trúc Phật giáo ở Đồng bằng Bắc bộ. Chùa không chỉ là một bức tranh sinh động cho lịch sử văn hóa nước ta trong 4 thế kỷ, từ thế kỷ 17 đến 20 mà còn là nơi gặp gỡ giữa kiến trúc Trung Hoa và kiến trúc Việt Nam. Sự hòa trộn của hai nền kiến trúc ở đây không bị kiến trúc lai căng mà còn làm giàu thêm kiến trúc Việt Nam, giống như Phật giáo đã từ ấn Độ, Trung Hoa vào Việt Nam đã có thêm màu sắc tín ngưỡng nhân dân, trở thành Phật giáo Việt Nam.

Nghệ nhân Nguyễn Văn Trụ, người thiết kế và chỉ đạo thi công chùa đã khéo lựa chọn cho chùa có một vị trí xây dựng vừa đẹp, vừa đáp ứng mục đích chính của chốn thiền. Chùa xây dựng trên một vùng đất rộng 100.000 mét vuông, dài từ chân đê đến con ngòi của thôn Bồng Tiên, gồm nhiều cụm kiến trúc xếp theo một trục dài cao thấp khác nhau, kiến tạo nhiều lớp nhiều tầng, ẩn hiện dưới những lùm cây, gợi cho khách tham quan, những nhà văn, nhà thơ, nhà nghệ thuật nhiều cảm nhận theo những khoảnh khắc khác của thời gian như: khi thì mái ngói dào lên cơn sóng nắng, khi thì gác chuông chìm xuống ráng chiều tà. Hay trong giây phút tĩnh lặng tâm hồn, một tiếng chuông buông và phút chốc trời đất bốn phương cũng giao hòa. Nếu không phải bị cuốn hút bởi những điều đó thì hãy theo bước chân của những người hành hương vào chùa qua Tam quan ngoài, Tam quan trong, đến gần một hồ rộng để tầm mắt hướng từ cao nhìn xuống sẽ dần dần phát hiện được cái lẽ đời Việt Nam ẩn dấu, hình thành một chuẩn mức thẩm mỹ. Người Hy Lạp xưa khi xây dựng các ngôi đền từ quan niệm các vị thần không tách biệt với đời đã lựa chọn độ hài hòa, có tỷ lệ không to quá, không nhỏ quá, giữ được nét thăng bằng giữa tính uy nghi và sự gần gũi.

Mọi người đến với chùa không có một chút gì ngăn cách về tinh thần, bắt đầu từ thể thức và mực thước của kiến trúc gợi nên vẻ đẹp uyên nhã, khơi dậy những tình cảm vuông tròn như trong nếp nghĩ và sự cầu mong của người nông dân Việt Nam là luôn luôn được mưa thuận gió hòa, là cuộc sống sinh sôi nảy nở mẹ tròn con vuông, là sự sinh tồn lấy lẽ bao dung và đùm bọc làm thước đo chân lý.

Chùa là chốn thiền, điều bắt buộc người kiến trúc sư kiến tạo một không gian khép kín, không gian ấy không giống với chốn tu hành, thiên về sự khổ hạnh. ở đây là một chốn thiền bao la trong suy tưởng cốt tìm đến trí và tuệ để giải thoát cuộc đời bể khổ. Từ hai ý tưởng đó trong kiến trúc chùa, khiến kiến trúc sư khi xây dựng chùa Keo đã có nhiều sáng tạo để khi đến chùa ta thấy một không gian khép kín nhưng không hề bị chật hẹp, tù túng mà bao trùm một vẻ đẹp vươn tỏa bao la. Bí quyết để giải quyết điều này là ở chỗ kiến trúc chùa Keo đã mạnh dạn sử dụng mặt nước rộng ở cả 3 mặt trước và hai bên để thế chùa vừa mở rộng, vừa vươn cao trong ảo giác để hình bóng dáng chùa lẩn dần vào chiều sâu mặt nước, khiến cái ranh giới cụ thể nhằm đáp ứng tinh thần kín như văn bia Thần Quang Tự đã ghi: "Ngăn che khách trụ ghé nhòm" được xóa mờ với cảm giác bao la trong tâm tưởng khi muốn vươn tới chốn thiền. Ngoài cái sâu lắng trong tình cảm thẩm mỹ thì thực tại mặt nước soi bóng những hàng cây cổ thụ, bên nếp chùa có dáng thuyền rồng có những đường cong bờ nóc, như mãi lưu lại những vầng trăng khuyết là một thực tại cảnh quan như một nhà thơ về thăm chùa đã viết:

"Rõ là cảnh đấy, người đây
Chùa Keo ơi nước non nào nên duyên"

Cũng giống như các chùa làng khác, bên ngoài là chữ Quốc, bao bọc bởi hai dãy hành lang bên tả, bên hữu gồm 42 gian, phía nước là hai cổng vào tòa nhà Hộ, phía sau là nhà thờ Tổ và gác chuông. Bên trong là chữ Công, nhưng là chữ Công kép vì chùa thờ tiền Phật hậu Thánh. Cụm kiến trúc chữ Công phía trước là nơi thờ Phật còn cụm kiến trúc chữ Công phía sau là thờ Thánh Không Lộ. Không Lộ là người đã đi tu và khởi đầu xây dựng chùa từ thời Lý thế kỷ thứ 11. Giữa hai cụm kiến trúc thờ Phật, thờ Thánh có tòa Giá Roi. Tòa nhà này trang trí không nhiều nhưng có cấu trúc đơn giản, hợp lý, có độ dựng thẩm mỹ được tính toán từ những hài hòa của tỷ lệ. Tỷ lệ của chúng từ chiều cao, độ to cột, hình dáng, đường nét đục chạm của bộ rui xà chặt chẽ đến mức không dư thừa, và như nhiều nhà nghệ thuật nói thì không thêm, không bỏ được điều gì ở đó.

Tòa Giá Roi mang nhiều chức năng của ngôi đình. Tìm hiểu kỹ thì được biết làng không có đình, mãi sau mới xây đình nhưng sự gắn bó của người dân ở đây không giống như ở những ngôi đình làng khác. Trong ký ức của họ thì Tòa Giá Roi vẫn là nơi giải quyết các việc làng, và Thần Hoàng làng của họ là Thánh Không Lộ. Và Tòa Giá Roi ở đây thể hiện một phần ý nghĩa nơi thờ Thần Hoàng làng.

Trong số các ngôi chùa được công nhận là di tích văn hóa nghệ thuật cần được bảo vệ như một gia tài qúy báu thì Chùa Keo được xếp vào hàng ưu tiên. Công bằng mà nói, ngoài mức độ của sự uy nghi thì việc xây dựng chùa trước hết là tâm huyết của hàng vạn con người trong một thời gian dài non nửa thế kỷ. Chùa Keo là một giá trị, những giá trị về nghệ thuật, văn hóa, về tâm đức lòng người. Xét về mặt kiến trúc thì không thể không nhấn mạnh tổ chức không gian các tòa nhà trong cụm kiến trúc. Thoạt nhìn có sự giống nhau, và đồng nhất về mặt kích cỡ, nhưng thực ra lại có sự khác nhau trong từng tỷ lệ của cấu trúc, trong sự phong phú, trong nguyên tắc bố trí mặt bằng theo nhịp điệu thay đổi đúng mức, chỗ thì mở ra, chỗ thu hẹp vào rồi lại mở ra, tạo độ sâu trong không gian ngôi chùa, thu hút sự chú ý đến liên tục, gợi tạo sự phong phú của nội thất. Mặt bằng bên trong của ngôi chùa vẫn trong khiêm tốn về kích thước. Người Việt xưa trong những công trình kiến trúc của mình thường không ưa vẻ đồ sộ nhưng kiến trúc không nghèo nàn, vẫn dẫn ta từ không gian này đến không gian khác. Sự dãn cách của các công trình đã đạt được mục đích cố tình của nghệ thuật tổ chức không gian, làm không gian trong chùa không những có nhiều khu mà còn gợi ra khoảng không gian có nhịp điệu nhạc tính khi thưởng ngoạn.

Chùa Keo đã tồn tại ngót 400 năm. Trong suốt thời gian ấy, chùa Keo vẫn trọn vẹn là một tác phẩm nghệ thuật, ghi đậm một tình cảm thẩm mỹ vừa thực, vừa huyền thoại của văn hóa Việt Nam./.

Thu Phương 24/08/2001

Bài Đọc Thêm:
2. Tìm Hiểu Kiến Trúc Chùa Keo
3. Một Lần Đến Với Chùa Keo
4. Đến Thăm Chùa Keo
5. Rủ Nhau Đi Hội Chùa Keo


 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Document VNI Times E-mail Sitemap