Phật
Giáo Và Cố Đô Huế
Một
bộ phận quan trọng hợp thành di sản văn hóa Huế là những
ngôi chùa và niệm Phật đường trang nghiêm, cổ kính.
Từ
những thế kỷ xa xưa, khi con người đến khai sơn phá thạch
lập ấp dựng làng ở mảnh đất này. Ngôi chùa làm tâm ấm
cúng ở chỗ dừng chân và điểm phát tuệ cho mỗi vùng. Dân
cư dần dần đông đúc hơn, ngôi chùa cũng được phát triển
theo. Những am nhỏ lợp tranh buổi đầu được thay thế bằng
những công trình kiến trúc bền vững về sau. Lớn nhỏ tùy
thuộc vị trí mỗi chùa, nhưng về mặt lịch sử thì đều
xuất phát từ một ý nghĩa. Chùa là niềm an ủi giữa sự
cô đơn xa lạ buổi đầu. Chùa là nơi hướng cho con người
đi vào cõi thiện. Một tiếng chuông ngân, một hồi mõ vọng
cũng đủ cảnh tỉnh lòng người.
Hàng
trăm ngôi chùa trầm mặc nằm 2 bên bờ sông Hương êm đềm
càng làm nên sự thanh tao, thư thái yên lành của Huế. Đến
nay, gần 80% số dân Huế theo đạo Phật.
Gắn
với lịch sử đất nước một thời bị chia cắt ở những
thế kỷ XVII, XVIII chùa ở Huế dường như cũng đã được
thiết lập trong hai thời kỳ khác nhau. Ban đầu mỗi ngôi
chùa có mặt với những đoàn người nam tiến dừng lại bên
bờ sông Hương như một lời khẳng định.
Sau
năm 1813 và nhất là sau khi Đào Duy Từ hiến kế xây đắp
xong lũy Thầy thì mọi quan hệ giữa hai miền đất nước
trong và ngoài sông Gianh đều bị gián đoạn. Lúc này Nho giáo
lâm vào tình trạng khủng hoảng không cứu nổi sự suy sụp
của nhà Lê, Phật giáo trở thành một yêu cầu tinh thần
ở vùng đất mới. Nhưng do tuyệt giao với Đàng Ngoài và
có phần đề phòng quá nghiệt ngã những người từ miền
Bắc vào, trong đó có các nhà tu hành nên việc phục hưng
Phật giáo ở đây gặp nhiều khó khăn. Vì vậy các chúa Nguyễn
đã tạo nhiều thuận lợi để đón các nhà tu hành từ Trung
Quốc sang hoặc từ phía Nam ra. Đây là thời kỳ thứ hai thiết
lập các ngôi chùa ở Huế.
Năm
ất Tî (1665) thời chúa Nguyễn Phúc Tần - Hòa thượng Nguyễn
Thiều sau khi lập chúa Thập Tháp ở Nghĩa Bình đã ra lập
Chùa Hà Trung ở huyện Phú Lộc và chùa Quốc ấn ở phường
Trường An (Huế). Ông là vị hòa thượng đầu tiên truyền
chánh phái lâm tế trên đất Phú Xuân.
Năm
1674 Hòa thượng Giác Phong khai sơn chùa Bảo Quốc.
Năm
1683 Hoà thượng Tử Dung dựng chùa Ân Tôn nay gọi là Từ
Đàm.
Cuối
thế kỷ XVII Hoà thượng Thạch Liêm lập chủa Khánh Vân...
Năm
1708 Hoà thượng Liễu Quân, khai sơn chùa Thuyền Tôn. Từ đó
chùa Thuyền Tôn trở thành tổ đình của phái Liễu Quán.
Dân
cư ngày một đông, Phật giáo ngày càng phát triển. Các ngôi
chùa ở Huế ngày một nhiều thêm. Tuy không nguy nga to lớn
như một số danh lam tiêu biểu ở miền Bắc thuở xưa, nhưng
với vùng đất hẹp miền Trung có lắm núi sông thơ mộng,
những ngôi chùa ở Huế trang nghiêm mà bình dị, tinh tế mà
đơn giản dễ gần. Sự hài hòa giữa nghệ thuật hoa viên,
kiến trúc, điêu khắc... phù hợp với cách tôn trí thờ phụng
bên trong càng làm tăng thêm không khí yên tĩnh, tôn nghiêm
ở mỗi chùa. Ba pho tượng chính (tam thế) nổi lên trên ánh
hào quang rực rỡ gây ấn tượng đẹp đẽ thiêng liêng để
tập trung vào một chủ đề thống nhất. Tượng Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni ở vị trí trung tâm là điểm chú mục của
mọi người.
Từ
sự bố trí hàng chục pho tượng lớn với nhiều chủ đề
trong các ngôi chùa cổ ở miền Bắc xưa gây ấn tượng chật
chội, rối rắm bao nhiêu thì sự khoáng đạt giản đơn ở
đây lại gây được ấn tượng thanh thản bấy nhiêu. Chùa
ở Huế lại khiêm tốn, giản dị, ẩn mình trong bố cục
thiên nhiên. Danh lam và thắng cảnh là một.
Ở
Huế, hầu như đã trở thành một truyền thống, ni giới chiếm
số lượng rất đông, ngày nay có đến 400, tụ tập ở các
chùa có chữ Diệu đứng đầu, Diệu Đức, Diệu Viên v.v...
Chùa Diệu Đức (Diệu hàm nghĩa Diệu Trí, Đức Hàm nghĩa
Hạnh Đức) là ni viện đầu tiên ở Huế, được xây dựng
từ năm 1932 để đào tạo ni chúng và được xem là ni viện
đầu tiên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đạo hạnh của
các bậc ni sư tiền bối như Sư bà Kế Châu, Sư bà Chơn Hương,
Sư bà Diệu Hương không hề phai mờ trong tâm tượng các ni
chúng hậu sinh khắp ba miền.
Sắc
áo màu khói hương của ni chúng loáng thoáng trong rừng xanh
ngàn thông reo quả là một nét chấm phá làm cho cảnh quan
Huế thêm phần dịu dàng hiền hòa thanh thoát.
Huế
là một kinh đô nhỏ, chỉ mới được dựng lập lại hai
thế kỷ nay theo thể chế của phong kiến Trung Hoa. Song các
vua quan triều Nguyễn. Nhất là thời Minh Mạng và Thiệu Trị,
lại có nhiều người sùng tín Phật đạo, mà vào bậc nhất
là các vương phi, công chúa, mệnh phụ, phu nhân... Các bà
đó đã truyền dẫn lòng từ bi, đức bố thí, làm điều
thiện... không những trong con cháu tông tộc mà rộng cả ra
ngoài, qua những lễ đàn chay, ngày hội chùa... Sử cụ chép
thời
Thiệu Trị có năm làm đàn chay ở chùa Thiên Mụ đến 28
ngày. Và cũng chính các bà đã tự mình hoặc thúc giục các
đức phu quân xây cất chùa trong gia thất, ở Huế, chùa nhà
có từ hồi đó, bên cạnh chùa làng và chùa nước. Chùa nhà
có thể xây trong vương phủ hoặc trên các gò đồi quanh thành
phố. Ngày nay đến Huế có thể còn thấy một trong các ngôi
chùa thuộc dạng đó là chùa Phò Quang của Phò Quang Quận
Vương Phụ Chánh Tôn Thất Hân ở ấp Ngữ Tây cách trung tâm
thành phố độ bảy cây số. Chùa tọa lạc trên một vạt
đồi thoáng rộng, quanh chùa là lăng mộ của dòng họ xây
cất trang trọng, bao ngoài là rặng thông cao, men theo dòng suối
nhỏ. Cảnh trí thật là u tịch thanh nhã.
Gọi
chùa nước là những chùa do vua cho xây cất như chùa Linh Hựu,
Long Quang, Thúy Vân, Giác Hoàng... hoặc những chùa mà vua quan
và bàn dân thiên hạ có thể đến lễ Phật không phân biệt
tông tộc, làng xã. Chùa Trúc Lâm là một trong loại chùa này.
Chùa có trụ sở đầu tiên của An Nam Phật học hội vào
đầu những năm 30, nơi còn lưu lại sự nghiệp chấn hưng
Phật giáo một thời của các cố hòa thượng Giáo Tiên, Mật
Hiển, cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám.
Từ
trung tâm thành phố Huế có thể nhìn thấy những dải đồi,
rặng núi bao quanh. Chùa thường được xây cất trên các nơi
đất cao đó. Kiến trúc chùa - nhất là chùa cổ - thường
là kiến trúc mở, thoáng. Vào đến trong nhà trai, nhà tổ,
thượng điện rồi mà cứ ngỡ mình đứng ở giữa trời
đất. Thiên nhiên lan tỏa vào trong nhà qua các khuôn cửa sổ
rộng song gỗ (nay nhiều chùa đã thay bằng song sắt), quẩn
quanh bên chiếc đôn sứ, chiếc tràng kỷ, chiếc sạp gụ
sẫm mầu. Ngồi ở đâu đứng đâu trong chùa cũng như thấy
thiên nhiên ấp ủ quanh mình và lại có thể nhìn thấy cây
cối quanh chùa và rặng núi mờ mờ xa. Cũng là một cảnh
quan đặc biệt của chùa Huế vậy.
Các
vị sư tăng ở Huế tụng kinh có giọng sang sảng, cách phát
âm rõ ràng, có giai điệu, nhịp điệu, bố cục... Nghe như
có phần xướng ở âm vực cao và phần xô ở âm vực thấp
khiến cho bài tụng không đều đặn đơn điệu, người nghe
dễ theo dõi và bị cuốn hút, đặc biệt là những nhịp nghịch
phách, đảo phách, sử dụng đúng chỗ cứ như luôn luôn thức
tỉnh con người, giục giã lôi cuốn người nghe đi theo suối
kinh. Người xướng người xô, giọng cao giọng trầm hòa quyện
vào nhau thấm vào từng lời, từng chữ trong kinh, tuôn chảy
như một dòng nước tưới mát tâm tưởng người nghe. Vả
lại nghe cứ như văng vẳng những làn điệu dân ca cổ, rất
cổ của xứ Huế. Lại thêm tiếng chuông rung nghe cứ như
xa vời ra. Quả chuông nhỏ cầm tay to chỉ bằng nắm tay, núm
là một hình Kim Cương (Vajra) chĩa bá, y hệt quả chuông của
các lạt ma ở Mông Cổ và Tây Tạng