THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

c
Những Ngôi Chùa Việt Nam
Phật Giáo Và Cố Đô Huế

Một bộ phận quan trọng hợp thành di sản văn hóa Huế là những ngôi chùa và niệm Phật đường trang nghiêm, cổ kính.

Từ những thế kỷ xa xưa, khi con người đến khai sơn phá thạch lập ấp dựng làng ở mảnh đất này. Ngôi chùa làm tâm ấm cúng ở chỗ dừng chân và điểm phát tuệ cho mỗi vùng. Dân cư dần dần đông đúc hơn, ngôi chùa cũng được phát triển theo. Những am nhỏ lợp tranh buổi đầu được thay thế bằng những công trình kiến trúc bền vững về sau. Lớn nhỏ tùy thuộc vị trí mỗi chùa, nhưng về mặt lịch sử thì đều xuất phát từ một ý nghĩa. Chùa là niềm an ủi giữa sự cô đơn xa lạ buổi đầu. Chùa là nơi hướng cho con người đi vào cõi thiện. Một tiếng chuông ngân, một hồi mõ vọng cũng đủ cảnh tỉnh lòng người.

Hàng trăm ngôi chùa trầm mặc nằm 2 bên bờ sông Hương êm đềm càng làm nên sự thanh tao, thư thái yên lành của Huế. Đến nay, gần 80% số dân Huế theo đạo Phật.

Gắn với lịch sử đất nước một thời bị chia cắt ở những thế kỷ XVII, XVIII chùa ở Huế dường như cũng đã được thiết lập trong hai thời kỳ khác nhau. Ban đầu mỗi ngôi chùa có mặt với những đoàn người nam tiến dừng lại bên bờ sông Hương như một lời khẳng định.

Sau năm 1813 và nhất là sau khi Đào Duy Từ hiến kế xây đắp xong lũy Thầy thì mọi quan hệ giữa hai miền đất nước trong và ngoài sông Gianh đều bị gián đoạn. Lúc này Nho giáo lâm vào tình trạng khủng hoảng không cứu nổi sự suy sụp của nhà Lê, Phật giáo trở thành một yêu cầu tinh thần ở vùng đất mới. Nhưng do tuyệt giao với Đàng Ngoài và có phần đề phòng quá nghiệt ngã những người từ miền Bắc vào, trong đó có các nhà tu hành nên việc phục hưng Phật giáo ở đây gặp nhiều khó khăn. Vì vậy các chúa Nguyễn đã tạo nhiều thuận lợi để đón các nhà tu hành từ Trung Quốc sang hoặc từ phía Nam ra. Đây là thời kỳ thứ hai thiết lập các ngôi chùa ở Huế.

Năm ất Tî (1665) thời chúa Nguyễn Phúc Tần - Hòa thượng Nguyễn Thiều sau khi lập chúa Thập Tháp ở Nghĩa Bình đã ra lập Chùa Hà Trung ở huyện Phú Lộc và chùa Quốc ấn ở phường Trường An (Huế). Ông là vị hòa thượng đầu tiên truyền chánh phái lâm tế trên đất Phú Xuân.

Năm 1674 Hòa thượng Giác Phong khai sơn chùa Bảo Quốc.

Năm 1683 Hoà thượng Tử Dung dựng chùa Ân Tôn nay gọi là Từ Đàm.

Cuối thế kỷ XVII Hoà thượng Thạch Liêm lập chủa Khánh Vân...

Năm 1708 Hoà thượng Liễu Quân, khai sơn chùa Thuyền Tôn. Từ đó chùa Thuyền Tôn trở thành tổ đình của phái Liễu Quán.

Dân cư ngày một đông, Phật giáo ngày càng phát triển. Các ngôi chùa ở Huế ngày một nhiều thêm. Tuy không nguy nga to lớn như một số danh lam tiêu biểu ở miền Bắc thuở xưa, nhưng với vùng đất hẹp miền Trung có lắm núi sông thơ mộng, những ngôi chùa ở Huế trang nghiêm mà bình dị, tinh tế mà đơn giản dễ gần. Sự hài hòa giữa nghệ thuật hoa viên, kiến trúc, điêu khắc... phù hợp với cách tôn trí thờ phụng bên trong càng làm tăng thêm không khí yên tĩnh, tôn nghiêm ở mỗi chùa. Ba pho tượng chính (tam thế) nổi lên trên ánh hào quang rực rỡ gây ấn tượng đẹp đẽ thiêng liêng để tập trung vào một chủ đề thống nhất. Tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở vị trí trung tâm là điểm chú mục của mọi người.

Từ sự bố trí hàng chục pho tượng lớn với nhiều chủ đề trong các ngôi chùa cổ ở miền Bắc xưa gây ấn tượng chật chội, rối rắm bao nhiêu thì sự khoáng đạt giản đơn ở đây lại gây được ấn tượng thanh thản bấy nhiêu. Chùa ở Huế lại khiêm tốn, giản dị, ẩn mình trong bố cục thiên nhiên. Danh lam và thắng cảnh là một.

Ở Huế, hầu như đã trở thành một truyền thống, ni giới chiếm số lượng rất đông, ngày nay có đến 400, tụ tập ở các chùa có chữ Diệu đứng đầu, Diệu Đức, Diệu Viên v.v... Chùa Diệu Đức (Diệu hàm nghĩa Diệu Trí, Đức Hàm nghĩa Hạnh Đức) là ni viện đầu tiên ở Huế, được xây dựng từ năm 1932 để đào tạo ni chúng và được xem là ni viện đầu tiên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đạo hạnh của các bậc ni sư tiền bối như Sư bà Kế Châu, Sư bà Chơn Hương, Sư bà Diệu Hương không hề phai mờ trong tâm tượng các ni chúng hậu sinh khắp ba miền.

Sắc áo màu khói hương của ni chúng loáng thoáng trong rừng xanh ngàn thông reo quả là một nét chấm phá làm cho cảnh quan Huế thêm phần dịu dàng hiền hòa thanh thoát.

Huế là một kinh đô nhỏ, chỉ mới được dựng lập lại hai thế kỷ nay theo thể chế của phong kiến Trung Hoa. Song các vua quan triều Nguyễn. Nhất là thời Minh Mạng và Thiệu Trị, lại có nhiều người sùng tín Phật đạo, mà vào bậc nhất là các vương phi, công chúa, mệnh phụ, phu nhân... Các bà đó đã truyền dẫn lòng từ bi, đức bố thí, làm điều thiện... không những trong con cháu tông tộc mà rộng cả ra ngoài, qua những lễ đàn chay, ngày hội chùa... Sử cụ chép 

thời Thiệu Trị có năm làm đàn chay ở chùa Thiên Mụ đến 28 ngày. Và cũng chính các bà đã tự mình hoặc thúc giục các đức phu quân xây cất chùa trong gia thất, ở Huế, chùa nhà có từ hồi đó, bên cạnh chùa làng và chùa nước. Chùa nhà có thể xây trong vương phủ hoặc trên các gò đồi quanh thành phố. Ngày nay đến Huế có thể còn thấy một trong các ngôi chùa thuộc dạng đó là chùa Phò Quang của Phò Quang Quận Vương Phụ Chánh Tôn Thất Hân ở ấp Ngữ Tây cách trung tâm thành phố độ bảy cây số. Chùa tọa lạc trên một vạt đồi thoáng rộng, quanh chùa là lăng mộ của dòng họ xây cất trang trọng, bao ngoài là rặng thông cao, men theo dòng suối nhỏ. Cảnh trí thật là u tịch thanh nhã.

Gọi chùa nước là những chùa do vua cho xây cất như chùa Linh Hựu, Long Quang, Thúy Vân, Giác Hoàng... hoặc những chùa mà vua quan và bàn dân thiên hạ có thể đến lễ Phật không phân biệt tông tộc, làng xã. Chùa Trúc Lâm là một trong loại chùa này. Chùa có trụ sở đầu tiên của An Nam Phật học hội vào đầu những năm 30, nơi còn lưu lại sự nghiệp chấn hưng Phật giáo một thời của các cố hòa thượng Giáo Tiên, Mật Hiển, cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám.

Từ trung tâm thành phố Huế có thể nhìn thấy những dải đồi, rặng núi bao quanh. Chùa thường được xây cất trên các nơi đất cao đó. Kiến trúc chùa - nhất là chùa cổ - thường là kiến trúc mở, thoáng. Vào đến trong nhà trai, nhà tổ, thượng điện rồi mà cứ ngỡ mình đứng ở giữa trời đất. Thiên nhiên lan tỏa vào trong nhà qua các khuôn cửa sổ rộng song gỗ (nay nhiều chùa đã thay bằng song sắt), quẩn quanh bên chiếc đôn sứ, chiếc tràng kỷ, chiếc sạp gụ sẫm mầu. Ngồi ở đâu đứng đâu trong chùa cũng như thấy thiên nhiên ấp ủ quanh mình và lại có thể nhìn thấy cây cối quanh chùa và rặng núi mờ mờ xa. Cũng là một cảnh quan đặc biệt của chùa Huế vậy.

Các vị sư tăng ở Huế tụng kinh có giọng sang sảng, cách phát âm rõ ràng, có giai điệu, nhịp điệu, bố cục... Nghe như có phần xướng ở âm vực cao và phần xô ở âm vực thấp khiến cho bài tụng không đều đặn đơn điệu, người nghe dễ theo dõi và bị cuốn hút, đặc biệt là những nhịp nghịch phách, đảo phách, sử dụng đúng chỗ cứ như luôn luôn thức tỉnh con người, giục giã lôi cuốn người nghe đi theo suối kinh. Người xướng người xô, giọng cao giọng trầm hòa quyện vào nhau thấm vào từng lời, từng chữ trong kinh, tuôn chảy như một dòng nước tưới mát tâm tưởng người nghe. Vả lại nghe cứ như văng vẳng những làn điệu dân ca cổ, rất cổ của xứ Huế. Lại thêm tiếng chuông rung nghe cứ như xa vời ra. Quả chuông nhỏ cầm tay to chỉ bằng nắm tay, núm là một hình Kim Cương (Vajra) chĩa bá, y hệt quả chuông của các lạt ma ở Mông Cổ và Tây Tạng


 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Document VNI Times E-mail Sitemap