PHẦN GIẢNG
(CÚ
GIẢI)
Từ
trước đến nay, nhiều người đã giảng rộng về Kinh Đại
Bi Tâm Đà La Ni, nhưng chưa có vị nào giảng giải về chú
Đại Bi. Thực vậy, rất khó giảng giải về chú Đại Bi.
Vì kinh văn thần chú này thuộc vào hệ mật ngôn chân ngữ.
Nay để giảng giải về thần chú này, trước tiên tôi xin
đưa ra một bài kệ để thuyết minh cho ý nghĩa của thần
chú:
Đại
bi đại chú thông thiên địa
Nhất
bách nhất thiên thập vương hoan
Đại
từ đại bi năng khử bệnh
Nghiệt
kính nhất chiếu biến cao huyền.
Nghĩa
là:
Thần
chú Đại bi có công năng thông cả thiên đường, thấu cả
địa phủ. Người nào thường trì niệm chú này mỗi ngày
108 biến, niệm ngàn ngày như thế thì có thể khiến Thập
điện Minh vương hoan hỷ.
Năng
lực Từ và Bi của thần chú có thể chữa lành tất cả mọi
tật bệnh và làm cho đài gương chiếu tội sáng ngời ngời.
*Đại
bi đại chú thông thiên địa
Khi
quí vị niệm thần chú này thì trời đất đều chấn động,
cả pháp giới chuyển rung. Trên thông cả cõi trời, dưới
thấu khắp cả các cõi giới địa ngục. Khắp cả mọi pháp
giới trời người đều cảm thông và tán dương công đức.
*Nhất
bách nhất thiên thập vương hoan
Nếu
quí vị niệm thần chú này mỗi ngày 108 biến, niệm ngàn
ngày như vậy, tức là vào khoảng 3 năm. Niệm thần chú này
liên tục trong 3 năm không gián đoạn, không bỏ sót một ngày,
bất luận quí vị có bận rộn như thế nào cũng không quên
niệm, thì có thể khiến cho mười vị vua điều hành công
việc ở chốn địa phủ cũng phải hoan hỷ. Có nghĩa là từ
vua Diêm La cai quản điện thứ 10, cùng tất cả các chung sinh
đang bị tội báo ở trong 10 địa ngục ấy đều được vui
mừng.
*Đại
từ đại bi năng khử bệnh
Năng
lực Từ và Bi của thần chú này có thể chữa lành tất cả
mọi bệnh tật. Vì sao gọi là chú Đại Bi? Là vì: “Bi năng
bạt khổ”. Nghĩa là Bi có công năng làm cho mọi khổ nạn
của chúng sinh được tiêu trừ. Còn “Từ năng dữ lạc”.
Lòng Từ thường đem lại niềm vui cho chúng sinh. Vì thần
chú này khả năng bớt khổ ban vui cho mọi chúng sinh nên gọi
là Chú Đại Bi. Chủ yếu nhất là công năng chữa lành mọi
bệnh tật. Bất luận quí vị bị bệnh gì, nếu quí vị trì
niệm Chú Đại Bi, thì mọi bệnh khổ đều được tiêu trừ.
Có
người sẽ thắc mắc: “Tôi đã niệm Chú Đại Bi rồi, tại
sao không lành bệnh?”
Quí
vị chưa lành bệnh là vì quí vị chưa vận hết lòng thành
trong lúc trì niệm. Với lòng chí thành, chắc chắn quí vị
sẽ có được sự cảm ứng khi niệm chú.
*Nghiệt
kính nhất chiếu biến cao huyền
Khi
quí vị trì niệm mỗi ngày 108 biến chú Đại Bi, niệm trong
1000 ngày như thế thì Thập điện Minh Vương vui mừng và tất
cả mọi bệnh tật đều được tiêu trừ. Trong suốt 1000
ngày, tức 3 năm này, quí vị đ• thành tựu được khá nhiều
công đức rồi. Bởi vì trong 3 năm này, mỗi ngày quí vị
đều gia tâm trì tụng thần chú nên không có điều kiện
để tạo tác nghiệp nhân. Quí vị không uống rượu, không
ăn thịt, không ăn ngũ vị tân.
Trong
địa ngục có một đài gương báo tội gọi là “nghiệt
kính đài”, nếu quí vị gây một nghiệp ác nào thì nghiệp
ấy sẽ hiện rõ trong đài gương kia. Cũng giống như hình
ảnh đang hiện ra trên màn ảnh xi nê vậy. Ví như một người,
đời này gây tội sát nhân, thì trong gương báo tội sẽ hiện
ra cảnh người ấy đang giết người. Nếu người ấy gây
nghiệp trộm cắp thì trong gương sẽ hiện hình người ấy
đang đi ăn trộm. Nếu người ấy gây nghiệp đốt phá nhà
cửa người khác thì trong gương sẽ hiện ra rõ ràng hành
động đốt nhà ấy.
Còn
nếu quí vị không gây tạo ác nghiệp gì cả thì sao? Thì
chẳng có gì hiện ra trong kính đó cả. Vậy nên, nếu quí
vị trì tụng thần Chú Đại Bi trong 3 năm thì khi gương nghiệp
soi chiếu đến, tội báo của quí vị sẽ được tẩy sạch.
Nơi địa ngục ấy sẽ treo lên một tấm bảng ghi rằng: “Người
này đã từng trì tụng Chú Đại Bi, tội báo của người
này đều đã được hóa giải toàn bộ.”
Tất
cả các vị quỷ thần trong địa ngục đều cúi đầu lễ
bái sùng kính người trì chú này như lễ bái cung kính chư
Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai vậy. Đồng
thời các vị quỷ thần ấy sẽ hộ trì người trì chú cũng
như họ thường hầu cận chư Phật vậy, và các vị quỷ
thần đều thông báo cho nhau biết là không nên quấy nhiễu
người trì chú này. Thần lực của chú Đại Bi thật là không
thể nghĩ bàn.
CÚ GIẢI
(Giảng
giải từng câu)
1.
Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da
Hàng
ngày chúng ta vẫn thường tụng Nam mô A – di - đà Phật.
Nam mô Bổn sư Thích – ca Mâu – ni Phật. Nhưng quí vị có
biết Nam – mô có nghĩa là gì không? Chắc là rất ít người
biết được. Cách đây vài năm, có lần tôi đã đặt vấn
đề này trong một pháp hội nhưng chưa một người nào có
được câu trả lời hoàn chỉnh cả.
Nam
– mô, phiên âm chữ Nama từ tiếng Phạn. Trung Hoa dịch là
“Quy y”; cũng dịch là “Quy mạng kính đầu”. Có nghĩa
là: “Con xin đem toàn thể sinh mạng của con về nương tựa
vào chư Phật”. Cái bản ngã của chính mình không còn nữa.
Mà con xin dâng trọn vẹn thân mạng mình lên chư Phật. Nếu
chư Phật cho con sống thì con sống; bảo con chết thì con chết.
Con hoàn toàn tin vào chư Phật. Đó gọi là “Quy mạng”.
Còn
“Kính đầu” có nghĩa là hết sức cung kính và nương tựa
vào đức Phật. Đó là ý nghĩa của Nam – mô.
Còn
“Quy y” có nghĩa là đem hết thân và tâm của mình, đem
hết cả mạng sống của mình trở về nương tựa vào đức
Phật.
Nói
tổng quát. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da có nghĩa là
“Xin quy y Tam Bảo vô biên vô tận trong khắp mười phương”.
Đó
chính là bản thể của Bồ – tát Quán Thế Âm. Quí vị nên
khởi tâm Từ Bi mà trì niệm. Mặc dù đó là bản thể của
Bồ – tát Quán Thế Âm, nhưng cũng có nghĩa là quy y với
toàn thể chư Phật trong mười phương, suốt cả ba đời:
quá khứ, hiện tại, vị lai. Khi quí vị trì niệm thần chú
này. Không những chỉ nhắc nhở mình quy y với Tam Bảo thường
trụ trong khắp mười phương vô biên vô tận mà còn khiến
cho tất cả mọi loài hữu tình khi nghe được thần chú này
cũng đều quay về quy y, kính lễ mười phương ba đời thường
trụ Tam Bảo.
Quí
vị có biết Tam bảo là gì không? Đó là Phật bảo, Pháp
bảo và Tăng bảo. Quí vị nên biết rằng, trên thế gian này
Phật bảo là cao quý nhất. Cũng thế, Pháp bảo và Tăng bảo
là điều cao thượng và quý báu nhất. Không những cao quý
ở thế gian mà còn cao quý đối với những cảnh giới xuất
thế gian, cho đến đối với cõi trời phi tưởng phi phi tưởng
nữa. Không còn có gì cao quý hơn Tam bảo trong Phật pháp nữa.
Trong mười pháp giới thì cảnh giới Phật là cao nhất. Thế
nên chúng ta cần phải cung kính quy ngưỡng và tín thọ nơi
Tam bảo cao quý, phát khởi tín tâm kiên cố và thâm sâu, không
một mảy may nghi ngờ.
Có
người sẽ hỏi: Quy y Tam bảo sẽ có lợi ích gì? Tối
thiểu nhất là khi quí vị quy y Phật rồi thì đời đời
kiếp kiếp không còn đọa vào địa ngục nữa; khi quí vị
quy y Pháp rồi thì đời đời kiếp kiếp không còn đọa vào
hàng ngạ quỷ (quỷ đói) nữa; khi quí vị quy y Tăng rồi
thì quí vị không còn bị đọa làm loài súc sinh nữa.
Đây là những đạo lý căn bản của việc quy y Tam bảo.
Nhưng
khi đã quy y rồi, quí vị phải tự nguyện và tinh tấn thực
hành các việc lành, tương ứng với lời dạy của đức Phật
thì mới xứng đáng gọi là quy y. Nếu quí vị vẫn còn giữ
nguyên các tập khí ngày trước như sát sanh, trộm cắp, tà
hạnh dâm dục, nói dối, nghiện ngập và làm mọi điều mình
thích để thỏa mãn ngũ dục thì quí vị không thể nào tránh
khỏi đọa vào 3 đường ác (ngạ quỷ, địa ngục, súc sinh).
Bở vì trong Phật pháp không có sự nhân nhượng. Quí vị
không thể nói: “Tôi đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng
rồi, nên tôi sẽ không bao giờ bị đọa vào địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh nữa. Vậy nên tôi có quyền làm điều
gì tôi muốn…”
Quí
vị phải thay đổi, chuyển hóa mọi tập khí xấu của mình
và tích cực thực hành những việc thiện, dứt khoát không
bao giờ làm những việc ác nữa. Nếu quí vị còn tiếp tục
làm những việc xấu ác, thì quí vị sẽ bị đọa ngay vào
địa ngục.
Đạo
Phật không giống như ngoại đạo. Họ tuyên bố rằng: “Quan
trọng nhất là niềm tin. Nếu có niềm tin thì dù có làm việc
ác, cũng có thể vào được thiên đường. Còn ngược lại,
nếu ai thiếu lòng tin, dù có gắng sức làm việc phúc đức,
thì cũng sẽ rơi vào hỏa ngục”.
Nếu
quí vị tin vào đức Phật mà vẫn tạo các nghiệp ác thì
nhất định quí vị sẽ bị đọa vào địa ngục. Dù quí
vị không tin vào đức Phật, mà vẫn gắng sức làm việc
phước thiện thì quí vị vẫn được lên thiên đàng. Phật
pháp không bao giờ mê hoặc con người bằng cách nói: “Nếu
quí vị tin vào đức Phật, thì mọi điều sẽ được như
ý.” Ngược lại, nếu quí vị tin vào đức Phật mà vẫn
không chịu từ bỏ các việc ác thì quí vị vẫn phải bị
đọa vào địa ngục.
“Được
rồi”. Quí vị lại thắc mắc: “Nếu đã tin Phật rồi
mà cũng đọa vào địa ngục như không tin, thì tại sao phải
quy y Tam bảo?”
Chân
chính quy y Tam bảo có nghĩa là phải từ bỏ việc ác, quay
về đường thiện, sửa đổi mọi lỗi lầm. Như một người
được khai sinh lại với tên mới, từ đây chỉ làm thuần
túy những việc lành. Không làm những việc xấu ác nữa.
Như thế mới đạt được lợi ích thiết thực. Chính vì
vậy mà câu chú: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da có nghĩa
là: “Quy y Tam bảo vô cùng vô tận trong khắp mười phương”.
Khi
quí vị trì niệm chú này, cũng có thể giúp tiêu trừ được
những ách nạn cho quí vị. Lúc gặp tai chướng, quí vị hay
thường trì niệm: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da thì tai
chướng ấy liền được tiêu trừ. Tai nạn lớn sẽ biến
thành tai nạn nhỏ, và nếu gặp tai nạn nhỏ thì cũng sẽ
được tiêu sạch. Chú này được gọi là “Tiêu tai pháp”,
là một trong năm bộ chú hộ ma.
Nam
mô hắc ra đát na đá ra dạ da cũng còn được gọi là “Tăng
ích pháp”. Nghĩa là từ trước đến nay quí vị đã từng
gieo trồng nhiều thiện căn, và vẫn thường trì tụng chú
này, thì thiện căn của quí vị sẽ tăng trưởng thêm gấp
nhiều lần, lợi lạc không kể xiết. Nên chú này được
gọi là “Tăng ích pháp”.
Quí
vị có thể niệm toàn bộ chú Đại Bi, hoặc chỉ cần niệm
câu chú đầu tiên này thôi: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ
da là “Thành tựu pháp”, bất luận quí vị muốn điều
gì, thì sở nguyện sở cầu của quí vị đều được thành
tựu như ý muốn. Nếu quí vị không có con trai mà muốn cầu
sinh con trai, hay niệm Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da sẽ
sinh được con trai. Nhưng quí vị phải trì niệm với tâm
trí thành, không phải chỉ niệm một hai ngày rồi thôI, mà
phải niệm liên tục ít nhất là trong ba năm. Nếu quí vị
không có được bạn tốt, mà muốn gặp được một người,
hay niệm Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da thì liền gặp
được ngay bạn lành. Nếu quí vị trì niệm được toàn thể
bài chú Đại Bi thì quá tốt, nếu không chỉ cần niệm câu
đầu tiên Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da, cũng sẽ thành
tựu những công đức không thể nghĩ bàn.
Câu
chú này cũng còn được gọi là “Hàng phục pháp”. Năng
lực của câu chú đó có thể hàng phục thiên ma, chế phục
ngoại đạo khi nó nghe đến câu chú này.
Tuy
vậy, câu chú này không phải là “Câu triệu pháp”. Khi quí
vị trì niệm một câu chú thuộc trong “Câu triệu pháp”
thì tất cả các loại yêu ma quỷ quái khắp nơi đều đến
trình diện và có thể bắt giữ, hoặc sai khiến được chúng.
Vậy
nên, câu chú Nam mô hắc ra đát ra đá ra dạ da này có công
năng rất mạnh, không thể suy lường được. Nếu nói chi
tiết, thì không thể nào cùng tận được.
Tóm
lại, trong câu Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da, thì Nam mô
có nghĩa là “quy mạng kính đầu”. Hắc ra đát na là “bảo”.
Đá ra dạ có nghĩa là “Tam”. Da nghĩa là “Lễ”.
Nghĩa
toàn câu là: “Xin đem hết thân, tâm, tính mạng của mình
quy y và kính lễ Tam Bảo vô tận vô biên trong khắp cả mười
phương, suốt cả ba đời”. Chúng ta phải cúi đầu đảnh
lễ thường trụ Tam bảo.
Vì
sao gọi là vô tận vô biên? Vì chư Phật trong thời quá khứ
là vô cùng vô tận. Chư Phật trong thời hiện tại là vô
cùng vô tận. Chư Phật trong thời vị lai là vô cùng vô tận.
Cho nên Tam bảo là vô biên vô tận.
2.
Nam mô a rị da
Nam
mô như đã giảng ở trên, nghĩa là “đem hết thân tâm, tánh
mạng quy y và kính lễ, học tập chư Phật và chư Bồ –
tát”.
A rị
có nghĩa là “Thánh giả”. Có nghĩa là người xa lìa tất
cả các ác pháp. Nên Nam mô A rị da có nghĩa là kính lễ các
bậc Thánh giả, người đã xa lìa tất cả các pháp bất thiện.
3.
Bà lô yết đế thước bát ra da
Bà
lô yết đế có nghĩa là “quán” trong danh hiệu Quán Thế
Âm Bồ – tát. Cũng được dịch là “quang” từ danh hiệu
Vairocana (Tỳ – lô - giá - na) nghĩa là Quang Minh Biến Chiếu
– hào quang chiếu khắp mọi nơi. Còn được dịch là: “Sở
quán sát” nghĩa là cảnh giới được quán chiếu, được
quán sát đến.
Thước
bát ra da có nghĩa là “tự tại”.
Ý
nghĩa toàn câu là quán chiếu quán sát một cách rộng khắp
và tự tại. Đó chính là ý nghĩa của danh hiệu Bồ – tát
Quán Tự Tại, Bồ – tát Quán Thế Âm. Có nghĩa là quan sát,
lắng nghe âm thanh ở cõi thế gian để cứu độ một cách
tự tại.
4.
Bồ đề tát đỏa bà da
Mọi
người đều biết Bồ đề xuất phát từ tiếng Phạn là
Bodhi. Có nghĩa là Giác.
Tát
đỏa có nghĩa là “độ” là vượt qua (bể khổ) cũng như
đưa người khác vượt qua (bể khổ) đến bờ giải thoát.
Bồ
Đề tát đỏa bà da có nghĩa là một vị Bồ – tát đã tự
giác ngộ giải thoát và giúp cho mọi chúng sinh được giác
ngộ giải thoát như mình.
Bà
da có nghĩa là “đảnh lễ”.
Da
có nghĩa là khấu đầu đảnh lễ. Cúi đầu đảnh lễ ai?
Đảnh lễ các vị Bồ – tát đã tự giác ngộ giải thoát
cho chính mình rồi, còn giúp cho người khác được giác ngộ
giải thoát.
Câu
thần chú này là muốn nhắc đến Bồ – tát Bất Không Quyến
Sách áp đại binh. Nghĩa là khi quí vị tụng câu thần chú
này thì Bồ – tát Bất Không Quyến Sách đem binh tướng của
cõi trời đến để hộ trì cho quí vị.
5.
Ma ha tát đỏa bà ha
Ma
– ha có 3 nghĩa: Đại: lớn; Đa: nhiều; và Thắng: hoàn hảo.
Ma
– ha với nghĩa là Đại: tức chỉ cho người phát tâm bồ
đề rộng lớn.
Ma
– ha với nghĩa là Đa: tức chỉ cho số lượng. Có rất nhiều
người phát tâm bồ đề.
Ma
– ha với nghĩa là Thắng: tức nói đến những người đã
phát tâm bồ đề rộng lớn đều đạt đến chỗ thành tựu
viên mãn, được nhiều lợi lạc rất thù thắng.
Tát
- đỏa nghĩa của chữ Tát - đỏa trong câu chú này không giống
như nghĩa trong câu trên. Trong câu chú trên, Tát - đỏa có
nghĩa là “độ” – vượt qua bờ bên kia. Có nghĩa là giải
thoát. Còn trong câu chú này. Tát - đỏa có nghĩa là “Dõng
mãnh giả” là người can đảm, không sợ hãi. Cũng có nghĩa
là “Tinh tấn giả”, là người tu hành rất siêng năng.
Bà
- Da Hán dịch là “Hướng tha đảnh lễ” nghĩa là: “Con
xin đê đầu đảnh lễ các vị đại Bồ – tát, là những
người rất dõng mãnh, rất tinh tấn, không bao giờ sợ hãi,
và nguyện phát tâm bồ đề trước chư vị Bồ – tát này.”
Các
vị đại Bồ – tát đã tự giác ngộ, giải thoát cho chính
mình rồi còn phát nguyện giúp cho vô số chúng sanh khác được
giác ngộ và giải thoát như mình.
6.
Ma ha ca lô ni ca da
Ma
– ha có 3 nghĩa: lớn, nhiều và thù thắng như trên đã giảng.
Ca
– lô Hán dịch là “Bi”.
Ni
– ca nghĩa là “Tâm”.
Hợp
lại, Ma ha ca lô ni ca có nghĩa là “Tâm đại bi”.
Da
có nghĩa là đảnh lễ, như đã giảng ở trên. Toàn câu chú
Ma ha ca lô ni ca da có nghĩa là: “Cúi đầu đảnh lễ thần
chú Đại bi tâm Đà - la – ni.”
7.
Án
Án
nghĩa là “Bổn mẫu”, là “Chú mẫu” mẹ của tất cả
mọi thần chú; cũng chính là “Phật mẫu” mẹ của tất
cả chư Phật.
Mẹ
của chư Phật có nghĩa là mẹ của nguồn tâm trong mọi loài
chúng sinh, vì nguồn tâm của chúng sinh vốn có sẵn mọi trí
tuệ, thường xuất sinh các pháp lành, nên gọi là “Bổn
mẫu”.
Thông
qua năng lực của thần chú mà mười pháp muôn được hiển
bày.
1.
Pháp môn thứ nhất là “Tự”: là đầu nguồn, làm xuất
sinh mọi chủng tự.
2.
Thứ hai là “Cú”. Trong kinh văn hoặc trong thần chú, “Cú”
có nghĩa là một câu.
3.
Thứ ba là “Quán”: là quán chiếu, quán sát, vận dụng năng
lực quán chiếu mà hành trì.
4.
Thứ tư là “Trí”: là trí tuệ, dùng thanh gươm trí tuệ
để cắt đứt tất cả phiền não. Trí tuệ tức là pháp
môn lưu xuất từ Bát Nhã Ba La Mật, đó là trí tuệ viên
mãn nhất. Còn “quán” là lưu xuất từ pháp môn Thiền định
Ba La Mật.
5.
Thứ năm là “Hành”: nghĩa là tu tập, nương theo giáo pháp
mà hành trì.
6.
Thứ sáu là “Nguyện”: nghĩa là cần phải phát nguyện,
nương theo giáo pháp chân chính mà tu hành.
7.
Thứ bảy là “Giáo”: nghĩa là y cứ theo giáo pháp chân chính
mà tu hành. Nếu quí vị không nương theo lời dạy của đức
Phật mà tu hành, thì dù quí vị có tu hành đến nhiều kiếp
như số cát sông Hằng đi nữa thì vẫn không có kết quả
gì cả. Cũng như thể nấu cát mà mong thành cơm vậy.
Tuy
nhiên, để có thể tu tập xứng hợp với giáo lý chân chính
của đức Phật thì trước hết, quí vị phải thông hiểu
về giáo pháp đó một cách tường tận.
8.
Thứ tám là “Lý”: nghĩa là đạo lý. Nếu quí vị có thể
nhập được vào Phật pháp vi diệu thì mới có được sự
hiểu biết thông đạt về giáo pháp ấy. Nếu quí vị không
khế hội được diệu pháp này, thì quí vị chỉ là người
tu tập trong sự mù quáng. Dù quí vị có tu hành bao lâu đi
nữa, cũng không đạt được sự thành tựu.
9.
Thứ chín là “Nhân”: Trong đời này quí vị phải gieo trồng
những nhân thù thắng, nhân tốt lành, nhân thanh tịnh, thì
quá khứ quí vị sẽ gặt được quả thù thắng, quả vi diệu
và quả thanh tịnh.
10.
Thứ mười là “Quả”: Quả tương ứng sẽ đạt được
sau khi đã gieo trồng nhân. Đó là diệu quả, quả vị giác
ngộ tối thượng.
Như
vậy từ chữ án, xuất sinh ra mười pháp môn vi diệu. Nên
khi quí vị trì niệm thần Chú Đại Bi, niệm đến chữ án
thì tất cả các loài quỷ thần đều chắp tay vô cùng cung
kính, không dám tỏ ra khinh suất hoặc lơ là khi nghe hành giả
trì tụng thần Chú Đại Bi. Chữ án có một năng lực mạnh
mẽ mà đến nỗi khiến cho các loài ác quỷ, ác thần đều
phải cung kính chấp trì. Công năng của thần chú thật to
lớn, thần lực thật không thể nghĩ bàn.
8.
Tát bàn ra phạt duệ
Tát
bàn ra, Hán dịch là “tự tại”. Nghĩa là khi quí vị trì
tụng thần chú này, thì Tứ đại thiên vương đều đến
làm Hộ pháp cho quí vị.
Phạt
duệ, Hán dịch là Thế tôn, cũng dịch là Thánh tôn.
Nguyên
câu chú này có nghĩa là Tự tại Thế tôn. Tự tại Thánh
tôn, tức là Đức Phật tự tại, ý là xưng tán Phật bảo.
9.
Số đát na đát tả
Chữ
Số có hai âm là Shù và Shùo. Người ta thường niệm là “Shù”.
Số
Đát Na có nghĩa là “pháp” (Dharma). Pháp gì? Pháp này còn
gọi là “Diệu thắng pháp”. Cũng gọi là “Cao thượng
thắng sinh”. Có nghĩa là không có gì vượt trội hơn pháp
này nữa. Thắng sinh có nghĩa là từ pháp này xuất sinh ra
năng lực rất thù thắng.
Còn
một cách dịch khác của chữ Số là “Diệu sinh” hoặc
“Thắng thân”. Diệu sinh tức là vượt lên trên mọi sự
vi diệu. Thắng thân nghĩa là thể của pháp ấy rất thù thắng.
Còn
có một cách dịch khác nữa của chữ Số, là “Tối thượng
thừa địa”. Nghĩa là cảnh giới của hành giả sẽ trải
qua sau khi chứng được Thập địa của hàng Bồ – tát.
Đát
Na là biểu tượng của Pháp bảo.
Đát
Tả là biểu tượng cho Tăng bảo.
Cho
nên toàn thể câu chú án tát bàn ra phạt duệ số đát na
đát tả là biểu tượng cho Tam bảo. Có nghĩa là chúng ta
phải nên ngưỡng nguyện đến sự gia hộ của Tam bảo. Nên
khi trì niệm đến câu thần chú này, có nghĩa là thỉnh cầu,
ngưỡng nguyện đến lực gia trì của Tam bảo.
Đát
tả còn có nghĩa là dùng giáo pháp để răn dạy các loài
quỷ thần và dùng thần chú để triệu tập quỷ thần đến
mà dạy bảo chúng theo tinh thần chánh pháp.
10.
Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a lị da
Xưa
nay dường như quí vị luôn luôn Nam mô với một người nào
khác chứ chưa bao giờ Nam mô với chính mình. Người tu hành
không cần phải đi Nam mô một khách thể nào khác mà phải
Nam mô ngay với chính mình.
Nam
mô có nghĩa là tôi, chính tôi quay trở về quy y với Tam bảo
vô cùng vô tận khắp mười phương.
Nam
mô còn có nghĩa là đem tự ngã của chính mình thể nhập
trọn vẹn vào cả pháp giới khắp cả mười phương. Tức
là thể nhập vào Tam bảo vô cùng vô tận khắp cả mười
phương.
Tất
kiến lật có nghĩa là “hoàn toàn”. Tức là đem hết toàn
tâm, toàn ý để quy y và đảnh lễ Tam bảo.
Đỏa
y mông có nghĩa là “Ngã”. Đó chính là cái Ngã của Vô
Ngã. Nên quí vị phải đem toàn tâm toàn ý đảnh lễ bản
ngã của chính mình, nhưng đảnh lễ cái ngã của vô ngã.
Như thế có nghĩa là không có mình hay sao? Ví như khi có người
đánh quí vị, quí vị không cảm thấy đau; nếu họ mắng
chửi, quí vị không thấy khó chịu; nếu họ nhục mạ, quí
vị thấy như thể không có việc gì xảy ra. Quí vị không
nhất thiết cần phải nhẫn nhục, vì nếu dùng phép nhẫn
nhục, là quí vị đã rơi vào “đệ nhị nghĩa” rồi. Trong
trường hợp này, quí vị không nhất thiết cần phải “nhẫn”,
vì vốn không có một bản ngã để dùng pháp nhân và không
có một bản ngã để cho pháp nhẫn ấy tác động tới. Có
nghĩa là quí vị phải hành pháp nhẫn trong “vô nhẫn”.
Đó
gọi là Ngã của vô ngã vậy.
A lị
da ở trên đã giảng qua, có nghĩa là “Thánh giả”. ở đây
tức là phải hết lòng đảnh lễ “cái ngã” ấy của Thánh
giả. Vô lượng vô biên chư Bồ Tát, hết thảy Thiên Long
bát bộ đều phải đảnh lễ cái ngã trong vô ngã của bậc
Thánh giả. Cái ngã ấy bao trùm khắp vô lượng vô biên vũ
trụ. Có rất nhiều bậc Thánh giả. Họ là ai? Dưới đây,
tôi sẽ giảng rõ.
11.
Bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà
Bà
lô kiết đế dịch là “Quán”.
Thất
Phật ra dịch là “Tự tại” hoặc là thế âm. Âm thanh ở
trong thế gian. Đây chính là Bồ – tát Quán Thế Âm.
Bà
lô kiết đế thất Phật ra là Quán Thế Âm, cũng chính là
Quán Tự Tại. Hai danh hiệu này không nhất định phải là
Bồ – tát Quán Thế Âm mới được gọi là Quán Tự Tại
hay Quán Thế Âm, mà nếu khi quí vị đã đạt được tự
tại rồi, thì quí vị chính là Bồ – tát Quán Tự Tại.
Khi quí vị có được năng lực cứu độ tất cả mọi loài
chúng sinh, thì quí vị chính là Bồ Tát Quán Thế Âm. Vì vậy,
một khi quí vị đã thể nhập và vận dụng trọn vẹn pháp
này rồi thì chính quí vị là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế
Âm. Nếu tôi đạt được tự tại trong việc vận dụng pháp
này thì chính tôi cũng là hóa thân của Bồ – tát Quán Thế
Âm.
Lăng
đà bà dịch là “hải đảo”, chỉ cho núi Phổ Đà (Potala),
nơi Bồ – tát Quán Thế Âm thường thị hiện. Có sách nói
núi Phổ Đà ở nước Trung Hoa. Phổ Đà có nghĩa là “hoa
trắng nhỏ” vì nơi núi ấy có loài hoa trắng nở rất nhiều.
Trên núi có một cung điện được kiến tạo ở trong hang
đá gọi là “Cung Từ Bi”, đó là nơi Bồ Tát Quan Thế Âm
thường thị hiện. Nơi đó được trang hoàng bằng bảy thứ
châu báu: vàng, bạc, xà cừ, pha lê, trân châu, ngọc bích,
mã não. Nhưng không phải ai cũng đến được nơi cung điện
này.
Bà
lô kiết đế thất Phật ra là vị Bồ – tát có đầy tâm
nguyện đại từ bi.
Lăng
đà bà là cung điện Từ Bi, nơi Bồ – tát Quan Thế Âm thường
thị hiện.
12.
Nam mô na ra cẩn trì
Trong
câu chú này, Nam mô vẫn có nghĩa là “quy y” và “quy mạng
kính đầu”.
Na
ra dịch nghĩa là “Hiền” – bậc hiền giả, chỉ cho hàng
Bồ Tát.
Cẩn
trì dịch là “ái”, có nghĩa là tình thương yêu. Trong ý
niệm lòng Từ Bi bảo hộ, che chở cho mọi loài. Thế nên
lòng từ bi của bậc Hiền giả (Bồ – tát) thường đem đến
sự bao bọc, che chở cho chúng sinh. Trước đây tôi đã giảng
về 10 loại tâm được đề cập trong Kinh Đại Bi Tâm Đà
- la – ni. Quí vị nên y cứ theo mười loại tâm này mà công
phu tu tập.
Na
ra cẩn trì, Hán dịch là “Hiền ái thiện hộ” có liên
quan đến nghĩa thứ nhất, nghĩa là thứ 6 và nghĩa thứ 10
trong 10 loại Tâm: Đó chính là Tâm Đại Bi, Tâm Cung Kính và
Tâm Vô Thượng bồ đề.
Câu
chú này đại biểu cho 3 loại tâm như trên.
13.
Hê rị ma ha bàn đa sa mế
Hê
rị có nghĩa là “Tâm”. Tâm này có ý nghĩa gì trong 10 nghĩa?
Nghĩa thứ 4 là vô nhiễm trước tâm. Tâm này giúp cho quí
vị duy trì bản tâm thanh tịnh của mình. Khi quí vị khởi
tâm niệm tham, sân, si, mạn, nghi… thì tâm quí vị liền bị
ô nhiễm, không còn thanh tịnh nữa. Khi tâm quí vị không mong
khởi những niệm ô nhiễm ấy, thì tâm quí vị được thanh
tịnh.
Ma
ha có nghĩa là “Đại”, cũng có nghĩa là “Trường”.
Bàn
đà sa mế nghĩa là sao? Nếu tôi không nói, chắc chắn quí
vị chẳng thể nào biết được. Nên quí vị muốn biết thì
trước tiên tôi phải giảng. Lúc đó quí vị mới hiểu được.
Quí vị mới nói rằng: “Thì ra ý nghĩa của cân chú ấy
là như thế”. Bàn đà sa mế có nghĩa là “đại quang minh”
nghĩa là hào quang rực rỡ chiếu khắp.
Bàn
đà sa mế lại còn được dịch là “Trường chiếu mệnh”
nghĩa là ánh sáng thường chiếu soi rộng khắp mọi nơi.
Nguyên
câu Hê rị ma ha bàn đa sa mế có nghĩa là “Tâm đại quang
minh”. Nghĩa là ánh sáng của tâm lực, quang minh của tâm
lực thường chiếu rộng khắp, mãi mãi siêu việt cả không
gian vô cùng, thời gian vô tận; từ một vi trần cho đến
vô cùng vô tận thế giới đều có sự hiện hữu của ánh
sáng ấy.
Quí
vị sẽ nói: “à, cái đại quang minh của tâm ấy, tôi đã
nghe trong kinh giảng nói rất nhiều rồi, và…”
Vâng,
nhưng trừ phi quí vị không nghe tôi giảng giải thần Chú
Đại Bi thì quí vị không thể nào biết được. Tôi sẽ giảng
cho quí vị rõ. Thật là khó gặp được người nào có thể
giảng giải về Chú Đại Bi một cách rõ ràng tường tận.
Thực vậy, hoàn toàn thực tình mà nói, không mấy người
thể nhập được rốt ráo ý nghĩa của thần chú Đại Bi
hoặc là chuyển được ý nghĩa của thần chú.
Sẽ
có người hỏi: “Thế làm sao Sư phụ biết được?”
Quí
vị khỏi cần phải hỏi tôi. Vì tôi đã không hỏi thì thôi,
chứ quí vị đừng nên hỏi tôi tại sao mà tôi biết được.
Dĩ nhiên là tôi phải biết. Nếu tôi không biết, tôi không
thể nào giảng giải cho quí vị nghe được. Vì thế đừng
nên hỏi tại sao tôi lại biết.
Thay
vì quí vị hỏi tại sao tôi biết, thì quí vị hãy quay trở
lại hỏi chính mình. Tại sao mình lại không biết? Nếu quí
vị biết được lý do tại sao mình không biết, thì quí vị
sẽ rõ được tại sao tôi biết. Trái lại, nếu quí vị không
thể nào rõ được tại sao quí vị không biết, thì quí vị
cũng không thể nào rõ được lý do tại sao tôi biết. Đó
chính là điều làm nên sự kỳ diệu vậy.
Chẳng
hạn có người đã hỏi tôi rằng: “Tại sao Thầy làm người
xuất gia?” Tôi đã không trả lời câu hỏi đó mà hỏi lại
rằng: “Tại sao anh lại không làm người xuất gia? Nếu anh
biết được lý do vì sao anh không xuất gia, thì anh sẽ hiểu
được vì sao tôi lại xuất gia”. Hỏi về đạo lý trong
Phật pháp cũng như vậy. Thay vì quí vị hỏi: “Làm sao mà
tôi hiểu được đạo lý ấy?”, thì quí vị hãy tự hỏi
lại chính mình tại sao mình không hiểu được. Khi quí vị
đã hiểu được tại sao mình không biết thì quí vị sẽ
hiểu được tại sao tôi lại biết được đạo lý ấy. Nay
quí vị đều là những người có nhiều thiện căn nên được
dự pháp hội giảng chú Đại Bi. Vậy quí vị phải nên hộ
trì, bảo trọng cho thiện căn của mình. Tự mình phải khéo
vận dụng thiện căn ấy để tu học và liễu nhập Phật
pháp, đừng để hoài phí một phút giây nào cả.
Hiện
tại chúng ta đang sống vào thời mạt pháp. Chư Phật và Bồ
– tát rất ít thị hiện ở thế gian. Thời gian này, lòng
người đang tiến dần đến chỗ hoang liêu, điêu tàn, không
dễ gì gặp được chánh pháp, cũng không dễ gì gặp được
bậc chân thiện tri thức.
Có
lần tôi bảo các đệ tử rằng: “ở Đài Loan có mở Đại
giới đàn, năm huynh đệ các con nên đến đó cầu thỉnh
để được thọ giới pháp”. Các đệ tử gửi thư cho tôi
biết nhiều người ở Đài Loan nói với họ rằng: “Chẳng
cần phải tu hành gì cũng có thể thành tựu đạo nghiệp”.
Các đệ tử của tôi trả lời rằng: “Chúng tôi cũng là
những con người như những con người khác, nếu không chịu
tu hành thì làm sao có thể tựu thành Phật đạo? Nếu không
công phu hành trì thì làm sao liễu ngộ được chánh pháp”.
Nếu quí vị nói rằng không cần phải dụng công tu tập mà
cũng thành Phật, liễu đạo thì trước đây đức Phật chẳng
cần vào núi Tuyết tu suốt sáu năm làm gì, rồi sau đó đến
ngồi dưới cội bồ đề tinh chuyên thiền định suốt 49
ngày, đến khi sao Mai vừa mọc thì Ngài tựu thành chánh giác.
Đức
Phật còn phải tu hành mới thành tựu chánh giác. Còn mỗi
chúng sinh như chúng ta, nếu không tinh tấn tu hành thì làm
sao có thể thành Phật được? Ai ai cũng đều biết phải
nhờ vào tu hành mới đạt được Phật quả, nhưng người
chân thật tu hành thì rất ít; và ai cũng đều biết nếu
không chịu tu hành thì đều có thể bị đọa vào địa ngục,
nhưng người không chịu tu hành thì không sao kể xiết. Nghiệp
lực thế gian thật là không thể nghĩ bàn!
Quí
Phật tử! Sống trong thời mạt pháp mà có được điều kiện
để nghiên cứu Phật pháp thì nên dõng mãnh tinh tấn lên,
không nên biếng nhác, hãy siêng năng công phu, tinh cần đạo
nghiệp mới mong có ngày thành tựu. Nếu không tinh tấn dõng
mãnh mà mong thành tựu đạo nghiệp thì không thể nào có
được.Vì thế nên quí vị đừng ngại gian nan, khổ nhọc,
chướng duyên, tai ách… mọi thứ nên quên. Phải đánh trống
dõng mãnh lên để cho tinh thần phấn chấn, chỉ một hướng
thẳng đến công phu mới mong có ngày thành tựu quả vị Phật.
Tôi
đang nói về sự vi diệu của Phật pháp. Nếu quí vị không
phát khởi niềm tin vào trí tuệ siêu việt thì đạo lý này
đối với quí vị cũng chẳng có lợi ích gì. Quí vị có
thể thâm nhập Phật pháp từ mọi sinh hoạt trong cuộc sống,
từ mỗi bước chân lặng lẽ của thời gian trong toàn thể
pháp giới…
Trong
Phật pháp, điều gì quí vị cũng muốn diễn bày cho rõ ràng
minh bạch thì thường bị đánh mất những nghĩa lý sâu mầu
vi diệu. Nay tôi dù có trình bày hết về diệu lý của Phật
pháp, nhưng nếu quí vị không tin sâu và không hành trì thì
điều tôi giảng không còn là diệu pháp nữa. Hơn nữa sự
hành trì cần phải thường xuyên vào mọi lúc, mọi nơi với
tinh thần tinh tấn, không lui sụt, không biếng nhác. Đây là
điều khẩn thiết nhất. Nếu quí vị mọi thời, mọi lúc
đều hướng về phía trước mà nỗ lực công phu thì nhất
định một ngày kia sẽ trực nhận ra “mặt mày xưa cũ”
của chính mình.
Bàn
đà sa mế dịch nghĩa là “đại quang minh” hay “trường
chiếu minh”, tiêu biểu cho nghĩa thứ năm trong mười nghĩa
của tâm, đó là “quán tâm không”. Thông qua “quán tâm
không”, hành giả mới có được trí tuệ. Với trí tuệ,
hành giả mới có được quang minh. Có được quang minh, mới
tỏa chiếu, soi sáng khắp mọi pháp giới được. Tức là
không còn tối tăm, mê muội, tức là không còn vô minh.
Sao
gọi là “vô minh”, vì tâm của quí vị không có được
sự tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới, do vì quí vị
không có được “đại quang minh”. Nếu quí vị có được
“đại quang minh” thì tâm quí vị liền có được sự tỏa
chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới, có nghĩa là quí vị đã
chuyển hóa được vô minh. Một khi vô minh đã bị chuyển
hóa sạch rồi, thì pháp tánh hiển hiện, đây chính là trí
tuệ chân thật của quí vị.
Thuở
xưa vào triều đại nhà Lương ở Trung Hoa có Thiền sư Chí
Công là một bậc Đại đức cao tăng. Không sử sách nào ghi
lại song thân của Thiền sư là ai. Người ta thường kể với
nhau rằng: Một hôm nọ, có người phụ nữ nghe tiếng khóc
của một hài nhi trên cành cây cao. Cô ta trèo lên, thấy một
hài nhi nằm trong tổ chim ưng, bèn đem hài nhi về nuôi. Tuy
thân thể hài nhi này hoàn toàn giống như người nhưng những
móng tay, móng chân giống như móng chim ưng. Khi trưởng thành,
xuất gia tu đạo, chứng được ngũ nhãn lục thông. Không
biết cha mẹ Ngài là ai, chỉ biết Ngài sinh trong tổ chim ưng
nên mọi người đều phỏng đoán Ngài được sinh ra từ trứng
chim ưng vậy.
Thời
ấy, vua Lương Vũ Đế cũng như mọi người đều rất kính
trọng và tin phục các Thiền sư. Bất luận khi họ gặp những
sự kịên gì trong đời sống, như sinh con, cha mẹ qua đời,
cưới hỏi… họ đều cung thỉnh các Thiền sư đến để
tụng kinh chú nguyện.
Một
hôm, có một gia đình giàu có thỉnh Thiền sư đến tụng
kinh chú nguyện nhân dịp đám cưới người con gái của họ,
đồng thời thỉnh Thiền sư ban cho vài lời chúc mừng để
mong rằng trong tương lai, việc hôn nhân đều được tốt
lành như ý. Thiền sư Chí Công đến nhà ấy, khi nhìn thấy
cô dâu chú rể, Ngài liền nói:
“Thật
cổ quái, thật cổ quái!”
“Cháu
cưới bà nội”
“Thật
cổ quái” nghĩa là xưa nay chưa từng có một việc như vậy.
Đây không phải là chuyện xưa nay thường xảy ra. Thật kỳ
lạ khi nhìn một đứa cháu cưới bà nội mình làm vợ. Trên
thế gian này, nếu không thông đạt những nhân duyên trong
thời quá khứ thì không thể nào lý giải được những mối
quan hệ cha con, mẹ con, vợ chồng, anh em, bè bạn… của nhau.
Vì sao? Vì mọi người đều có thể là chồng hoặc vợ của
nhau trong đời trước. Một người có thể là cha hoặc là
con của nhau trong nhiều đời trước. Hoặc một người đều
là mẹ và con gái của nhau trong đời trước. Ông nội của
quí vị trong đời trước lại kết hôn với cháu gái của
quí vị trong đời này. Hoặc là bà ngoại đời trước lại
tái sinh làm con gái của quí vị. Tất cả mọi việc đều
có thể xảy ra, và đều chịu sự biến hóa khôn lường.
Trong
nhà này, chuyện “cháu cưới bà nội” là do trước kia,
khi bà nội sắp mất, bà trăn trối lại với toàn gia quyến:
“Con trai ta vừa mới cưới vợ và đã có con nối dòng. Con
gái ta cũng đã có chồng, ta không còn bận tâm gì nữa”.
Bà ta hoàn toàn thỏa mãn và đã gạt mọi sự bận tâm qua
một bên, ngoại trừ một điều: còn đứa cháu nội, “tương
lai rồi sẽ ra sao? Ai sẽ chăm sóc nó? Liệu người vợ của
nó có đảm đang hay không? Ta không thể nào không lo cho nó
được!”
Bà
nắm tay đứa cháu nội và qua đời. Người ta bảo rằng nếu
mọi việc đều toại nguyện, lúc lâm chung có được tâm
trạng thơ thới thì người chết sẽ nhắm mắt. Còn nếu
không, thì người chết không nhắm mắt được. Bà lão nói:
“Bà rất lo lắng cho cháu, bà chết không nhắm mắt được”.
Nói xong, bà ra đi mà mắt vẫn mở. Thần thức của bà vẫn
còn lo âu. Khi đến gặp Diêm vương, bà ta than khóc, thưa rằng:
- Tôi
còn đứa cháu nội, không ai chăm sóc nó.
Diêm
vương đáp:
-
Được rồi, bà hay trở lại dương gian chăm sóc cho nó
Nói
xong, bà ta được đầu thai trở lại trong cõi trần. Khi đến
tuổi thành hôn, bà ta lấy người cháu nội trước đây của
bà ta. Vì vậy nên nói “cháu lấy bà nội”. Quí vị thấy
có phải là cổ quái thật không?
Chỉ
vì một niệm ái luyến không buông xả được mà tạo nên
biết bao duyên nghiệp buộc ràng về sau. Bà ta chỉ vì bận
tâm vì đứa cháu, mà về sau phải làm vợ cho nó. Quí vị
thử nghĩ lại xem, đây chẳng phải là chuyện cổ quái hay
sao?
Quí
vị sẽ hỏi: “Làm sao mà Thiền sư Chí Công biết được
điều ấy?” Thiền sư biết được là vì Ngài đã đạt
được ngũ nhãn và lục thông. Nên chỉ cần nhìn qua, là Ngài
liền biết được ngay kiếp trước của cô dâu vốn là bà
nội của chú rể. Chỉ vì bà nội đã khởi một niệm ái
luyến sai lầm nên nay phải đầu thai trở lại làm người,
và làm vợ của đứa cháu nội mình. Một niệm lành còn như
thế huống gì là niệm ác, hoặc khởi trùng trùng niệm ác
thì luân hồi trong tam đồ lục đạo biết bao giờ dứt, biết
bao giờ mới mong ra khỏi.
Thiền
sư lại nhìn trong số khách đến dự đám cưới, có một
bé gái đang ăn thịt, Ngài nói: “Con gái ăn thịt mẹ”.
Vì
miếng thịt mà em bé đang ăn là thịt dê, con dê này vốn
là mẹ của em bé đầu thai lại. Kiếp trước bà ta đã tạo
nghiệp ác quá lớn nên đã phải đọa làm dê. Nay lại bị
chính con mình ăn thịt. Vòng oán nghiệp khởi dậy do vô minh
của chúng sinh không lời nào kể hết được. Chư Bồ Tát
thương xót, phát tâm cứu độ chúng sinh là do điểm này.
Khi
Thiền sư nhìn các nhạc công, thấy có vị đang đánh trống.
Ngài nói:
“Con
trai đang đánh bố”.
Vì
cái trống ấy bịt bằng da lừa. Con lừa này chính là cha
của anh nhạc công đầu thai vào. Con lừa này bị giết thịt,
lấy da làm mặt trống. Thật là đau thương cho kiếp luân
hồi.
Ngài
nhình quanh đám cưới, nói tiếp:
“Heo
dê ngồi ở trên”
Ngài
thấy có vô số loài heo, cừu, dê, gà được đầu thai trở
lại làm người, nay họ đều là bà con thân quyến của nhau
nên cũng đến dự đám cưới này.
Nhìn
trong bếp, Ngài nói:
“Lục
thân bị nấu trong nồi”.
Chính
là cha mẹ, anh em, bà con, bè bạn do kiếp trước đã sát sinh
heo, gà quá nhiều để ăn, nay lại bị đọa làm heo, dê, gà
trở lại; rồi bị giết thịt, bỏ vào nồi chiên nấu trở
lại.
Ngài
nói tiếp:
“Mọi
người đều vui vẻ chúc mừng nhau”
Mọi
người đến dự đám cưới đều rất vui vẻ mà chúc tụng
nhau. Ngài tự than với mình rằng:
“Trông
thấy cảnh ấy mà lòng đau xót, ta biết đó chính là những
oán nghiệp xoay vần vay trả, tạo nên nỗi khổ chất chồng”.
Thiền
sư Chí Công biết rõ nhân quả khi nhìn vào gia đình này. Làm
sao chúng ta có thể hiểu được hết chuỗi nhân quả của
từng gia đình với trùng trùng khác biệt nhau ra sao. Cho nên
những người tu đạo phải rất cẩn trọng trong khi tu nhân,
vì khi nhân duyên chín mùi sẽ gặt lấy quả tương ứng với
nhân đã gieo. Tại sao người lại trở lại làm người? Là
để trả nợ, trả những món nợ nhân quả ở thế gian. Nếu
quí vị không tìm cách trả món nợ này thì nợ nần vẫn
tiếp tục, như món nợ đã vay của ngân hàng vậy.
Tôi
nhớ một câu chuyện này nữa. Có một gia đình nuôi một
con lừa, dùng nó để kéo cối xay và chuyên chở. Người chủ
thấy lừa quá chậm chạp nên thường dùng roi đánh nó để
thúc giục. Con lừa làm việc miệt mài trong cực nhọc cho
đến khi chết. Nó được đầu thai làm người. Khi người
chủ hay đánh đập lừa chết, lại đầu thai làm một người
phụ nữ. Khi cả hai người này đến tuổi thành hôn thì họ
cưới nhau.
Quí
vị có biết cặp vợ chồng này sống với nhau như thế nào
không? Suốt ngày người chồng đánh đập người vợ. Ông
đánh vợ bất kỳ lúc nào, bất luận đang cầm vật gì trên
tay, cả lúc đang ăn cơm cũng đánh vợ bằng đũa. Ông ta vừa
đánh vừa chửi, cho dù người vợ chẳng làm điều gì sai
trái.
Một
hôm Thiền sư Chí Công đi qua nhà họ. Người phụ nữ bèn
thưa với Ngài:
- Chồng
con ngày nào cũng đánh và chửi con qúa chừng mà con không
biết tại sao. Bạch Ngài, xin Ngài hãy dùng ngũ nhãn, lục
thông bảo cho con biết mối tương quan nhân quả của chúng
con đời trước ra sao mà đời này chồng con đánh đập và
chửi mắng con hoài vậy?
Thiền
sư Chí Công đáp:
- Tôi
sẽ nói rõ tương quan nhân quả của hai người cho mà nghe.
Trong đời trước, bà là một người đàn ông. Ngày nào bà
cũng đánh đập chửi mắng con lừa, thúc giục nó phải kéo
cối xay bột.
Ông
chủ ấy thường đánh con lừa bằng cái chổi tre. Nay ông
chủ được đầu thai lại làm người phụ nữ, đó chính
là bà. Còn con lừa thì được đầu thai làm người chồng.
Nay ông ta thường hay đánh đập chửi mắng bà cũng như kiếp
trước bà đã thường đánh chửi ông tức là con lừa vậy.
Nay bà đã hiểu rõ nhân quả tương quan với nhau rồi, tôi
sẽ bày cho một cách để chấm dứt vòng oán nghiệp này.
Bà hãy cất giấu tất cả mọi dụng cụ trong nhà ngoại trừ
cái chổi đuôi ngựa (chổi dây). Khi người chồng thấy chẳng
còn vật gì dùng để đánh cô, anh ta sẽ cầm chổi dây này
để đánh. Cứ để cho anh ta đánh vài trăm roi, thì nợ cũ
của bà mới được trả. Lúc đó, bà mới báo cho anh ta biết
nhân đời trước và quả đời sau báo ứng với nhau rất
rõ ràng như tôi vừa giải thích cho bà. Anh ta sẽ không còn
đánh bà nữa.
Người
phụ nữ làm đúng như lời Thiền sư Chí Công chỉ dạy. Khi
người chồng về đến nhà, ông ta liền kiếm vật gì đó
để đánh vợ. Chỉ còn thấy chiếc chổi đuôi ngựa, ông
ta cầm lấy và đánh. Thông thường như mọi khi, cô ta tìm
cách chạy trốn. Nhưng lần này cô ta kiên nhẫn ngồi đó
chịu đòn cho đến khi ông chồng ngừng tay.
Thấy
lạ, ông ta hỏi tại sao bà không bỏ chạy. Cô ta kể lại
việc được Thiền sư Chí Công giải thích cặn kẽ tương
quan nhân quả của hai người. Ông chồng nghe xong ngẫm nghĩ:
“Như thế thì từ nay ta không nên đánh chửi cô ta nữa.
Nếu còn đánh, thì kiếp sau cô ta sẽ đầu thai trở lại
rồi tìm ta để đánh chửi”. Từ đó ông chồng không còn
đánh mắng người vợ nữa.
Thế
nên quí vị phải biết mọi người đều có sự quan hệ với
nhau tương ứng với nhân đã tạo. Quí vị chẳng thể nào
biết được trong đời trước, ai đã từng là mẹ, là anh,
là cha hay là chị em của mình. Cái nhân đã tạo ở đời
trước sẽ tạo thành quả đời này và nhất định có liên
quan đến bà con quyến thuộc của mình. Nếu quí vị hiểu
được đạo lý nhân quả, thì quí vị có thể chuyển hóa,
biến cải được nhân bằng cách từ bỏ những việc ác.
Còn
một chuyện nữa về Thiền sư Chí Công. Một ngày Ngài ăn
hai con chim bồ câu. Ngài rất thích món ăn này. Người đầu
bếp nghĩ rằng món thịt bồ câu chắc là rất ngon nên ngày
nọ anh ta quyết định nếm thử. Anh ta làm việc này với
hai ý nghĩ: một mặt là muốn thử xem thức ăn hôm nay mình
làm có ngon hay không? một mặt khác anh ta nghĩ rằng Ngài Chí
Công ngày nào cũng thích ăn bồ câu, nhất định đây là một
món ăn rất ngon, nên muốn thưởng thức một chút rồi mới
đem đến cho Thiền sư dùng.
Khi
người đầu bếp mang thức ăn đến. Ngài nhìn đĩa thức
ăn và hỏi:
- Hôm
nay có ai nếm trộm thức ăn này? Có phải chính anh không?
Người
đầu bếp liền chối. Thiền sư liền bảo:
- Anh
còn chối. Tôi sẽ cho anh thấy tận mắt ai là người nếm
trộm. Hãy nhìn đây!
Ngài
liền ngồi ăn. Ăn hết hai con bồ câu rồi, Ngài liền há
miệng rộng, trong đó, một con bồ câu liền vẫy cánh bay
ra còn con kia thì bị mất một cánh, không thể bay lên được.
Thiền
sư mới bảo:
- Anh
thấy đó, nếu anh không nếm trộm thì tại sao con bồ câu
này không thể bay được?
Chính
là vì ông đã ăn hết một cánh của nó.
Chuyện
này làm cho anh đầu bếp biết Thiền sư Chí Công không phải
là người thường. Ngài chính là hóa thân của Bồ – tát.
Thế nên Ngài có năng lực biến những con bồ câu bị nấu
thành thức ăn rồi thành bồ câu sống. Không phải là Bồ
– tát, không làm chuyện này được.
Thiền
sư Chí Công còn thường ăn một loại cá gọi là Tuệ Ngư.
Cũng đem cá ra nấu nướng rồi Ngài ăn từ đuôi lên đầu.
Nhưng sau đó Ngài lại há miệng ra làm cá sống lại. Vì vậy,
những việc này là rất thường đối với cảnh giới của
hàng Bồ – tát. Thiền sư Chí Công là một vị Bồ – tát,
nhưng không bao giờ Ngài nói: “Các ngươi biết không, ta là
một vị Bồ – tát, ta đang giáo hóa chúng sanh, ta có đại
nguyện này, hạnh nguyện kia…” Các vị không bao giờ mong
khởi ý niệm ấy. Cho nên chúng ta là hàng phàm phu, dù có
thấy Chư Phật hay Bồ – tát cũng không thể nào nhận biết
được. Việc làm của Bồ – tát cũng gần như hành xử của
người thường, nhưng thực chất lại không giống nhau. Là
vì phàm phu khi hành động chỉ nghĩ đến lợi ích của chính
mình, không nghĩ đến sự giúp đỡ cho người khác. Còn Bồ
– tát thì chỉ nghĩ đến lợi ích của người khác mà không
nghĩ đến mình. Khác nhau là ở điểm này. Bồ – tát thì
tự làm lợi ích cho mình còn lo làm lợi ích cho người khác.
Tự giác ngộ mình xong rồi giúp cho người khác giác ngộ.
Tự độ hoàn toàn, lợi tha hoàn toàn. ý nghĩa của chú Đại
Bi mà tôi đang giảng cũng nằm trong đạo lý này vậy.
14.
Tát bà a tha đậu du bằng
Câu
chú này chia làm ba phần. Khi trì tụng lên, câu chú có ba nghĩa
khác nhau:
Tát
bà có nghĩa là “tất cả”. Còn có nghĩa là “bình đẳng”.
Nên Tát bà biểu tượng cho ý thứ hai trong mười tâm, là
“bình đẳng tâm”.
A tha
đậu dịch nghĩa là “phú lạc vô bần” giàu có, an lạc,
không nghèo nàn về tâm linh, đạo lý, Phật pháp.
Còn
dịch nghĩa là “như ý bất diệt”.
“Như
ý” nghĩa là ước nguyện điều gì cũng đều được thành
tựu.
“Bất
diệt” nghĩa là sự thành tựu do nguyện ấy vĩnh viễn không
tiêu mất.
Trong
mười loại tâm thì đây là “vô vi tâm” nghĩa là “phú
lạc vô bần” và “như ý bất diệt”.
Du
bằng dịch là “nghiêm tịnh vô ưu”, là thanh tịnh và trang
nghiêm. Trang nghiêm lại thêm thanh tịnh, cho nên không có sự
lo phiền, ưu não. Câu chú này biểu tượng cho tâm thứ chín
“Vô kiến thủ tâm”. Kiến thủ là một trong năm món “ngũ
lợi sử”. Nghĩa là khi quí vị vừa trông thấy một vật
gì, tâm liền khởi niệm muốn chiếm đoạt, giữ lấy. Nên
với tâm thứ chín – vô kiến thủ tâm là trạng thái không
có mảy may vọng động về sự chấp thủ đối với pháp
và ngã; đối với chủ thể cũng như khách thể; đối với
ngoại cảnh cũng như dòng chuyển biến của thức tâm.
15.
A thệ dựng
A thệ
dựng la tiếng Phạn, dịch nghĩa “vô tỷ pháp”. Không có
pháp nào có thể so sánh được với pháp này. Còn có nghĩa
là “vô tỷ giáo” nghĩa là không có đạo giáo nào có thể
so sánh được. Câu chú này biểu tượng cho tâm thứ bảy,
được gọi là “ty hạ tâm”, là tâm rất cung kính và tùy
thuận bất kỳ người nào mình gặp. Câu chú này còn biểu
tượng cho tâm thứ tám, gọi là “vô tạp loạn tâm”. Đây
chính là pháp thanh tịnh, không chút cấu nhiễm, chính là pháp
bát nhã tâm của Quán Thế Âm Bồ – tát.
Mười
loại tâm này là tướng của Đà - la – ni, chúng ta phải
đem những đạo lý này hành trì không xao nhãng và gián đoạn.
Chúng ta tu tập theo tinh thần của kinh Đại bi tâm Đà la ni
thì chắc chắn sẽ thành tựu đạo nghiệp, đắc thành chánh
quả.
16.
Tát bà tátđá, na ma bà tát đa, na ma bà già
Tát
bà tát đá là tiếng Phạn, dịch là “Đại thân tâm Bồ
– tát”.
Na
ma bà tát đa. Hán dịch là “đồng trinh khai sĩ”, là tên
gọi khác của pháp vương tử, cũng là hàng Bồ – tát. “Đồng
trinh” biểu tượng cho bản tánh. Còn “khai sĩ” cũng là
một danh hiệu khác của Bồ –tát, có nơi gọi là “đại
sĩ”. Các vị Bồ – tát lúc sắp thành tựu Phật quả, đều
được gọi là pháp vương tử, tên gọi của hàng Thập địa
Bồ – tát.
Na
ma bà già. Hán dịch là “Vô đẳng đẳng”. Giống như ý
nghĩa trong Bát nhã tâm kinh “Cố tri Bát – nhã ba – la –
mật - đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô
lượng chú, vô đẳng đẳng chú”.
Quí
vị có thể hỏi: “Cái gì không thể sánh bằng?” “Đó
là bà già, Hán dịch là Thế tôn”. Bà già là chư Phật thường
trụ ở khắp trong mười phương.
17.
Ma phạt đạt đậu
Ma
phạt đạt đậu dịch nghĩa là “Thiên thân, thế hữu”.
Câu
chú này có nghĩa là: “Kính lạy chư Bồ – tát, xin hãy duỗi
lòng từ cứu giúp con. Xin các Ngài hãy là thân quyến ở cõi
trời của chúng con và là người bạn ở cõi thế gian này
của chúng con, để hộ trì cho mọi thiện pháp được thành
tựu”.
Câu
chú này thỉnh nguyện sự gia trì của mười phương chư Phật
và chư Bồ – tát.
18.
Đát điệt tha - án
Trong
Bát nhã tâm kinh có nói: “Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa
chú, tức thuyết chú viết...”
Đát
điệt tha Hán dịch là “tức thuyết chú viết”. Còn dịch
là “Sở vị”. Bồ – tát Quán Thế Âm dùng Tâm đại bi
mà nói ra chơn ngôn này, nói bằng các chủng tự của Phạm
Thiên.
Đát
điệt tha còn có nghĩa là “thủ ấn” nghĩa là kết ấn
bằng tay. Cũng gọi là “trí nhân” nghĩa là khai mở con mắt
trí tuệ của chúng sinh.
Đát
điệt tha lại còn có nghĩa là vô lượng pháp môn tu học
và trí huệ nhãn vô lượng. Đó là ý nghĩa của “Sở vị”.
Chữ
án như đã nói ở trước, khi quí vị trì niệm trì niệm
đến chữ án thì quỷ thần đều phải chắp tay cung kính,
lắng nghe người niệm chỉ giáo. Chữ án còn có công năng
lưu xuất nhiều pháp môn sau đây.
19.
A bà lô hê
A bà
lô hê chính là Bồ – tát Quán Thế Âm. Có nghĩa là “quán
sát”. Dùng trí tuệ để quán sát mọi âm thanh oqr thế gian.
Trong thế gian có nhiều loại âm thanh. Bồ – tát Quán Thế
Âm quán sát âm thanh, tiếng kêu than cầu xin cứu khổ của
người ở thế gian khi họ không thể vượt qua nổi những
khổ nạn.
20.
Lô ca đế
Lô
ca đế nghĩa là “Tự tại” hoặc là “Thế Tôn”. Hợp
lại hai câu trên A bà lô hê lô ca đế nghĩa là Bồ – tát
dùng trí tuệ để quán sát âm thanh ở thế gian. Chính là
danh hiệu của Bồ – tát Quán Thế Âm.
21.
Ca ra đế
Ca
ra đế dịch là “Bi giả” là người có lòng từ bi rộng
lớn, thường cứu giúp chúng sinh thoát khỏi khổ đau và thất
vọng. Người mà có thể cứu giúp cho chúng sinh vơi bớt khổ
đau là một người “đại bi”. Ca ra đế còn có nghĩa là
“tác giả”. Người có thể làm cho đạo nghiệp sinh khởi,
giúp cho mọi chúng sinh đều phát tâm bồ - đề, phát nguyện
làm những việc khó làm như hành Bồ – tát đạo để tiến
tới tựu thành Phật quả.
22.
Di hê rị
Di
hê rị dịch nghĩa là “Thuận giáo”. Khi quí vị trì tụng
đến câu chú này, nghĩa là quí vị tự phát nguyện: “Con
nhất quyết thực hành theo hạnh nguyện của Bồ – tát Quán
Thế Âm, sẽ giáo hoá cho tất cả chúng sanh. Con nguyện nương
theo giáo pháp Ngài đã dạy mà tu hành”.
Di
hê rị còn có nghĩa là “Y giáo phụng hành”. Nương theo
lời dạy của Bồ – tát Quán Thế Âm cũng như Quán Thế
Âm của tự tâm để thực sự tu trì.
23.
Ma ha bồ đề tát đoả
Ma
ha có nghĩa là “đại” là to lớn.
Bồ
- đề có nghĩa là “giác đạo”, là giác ngộ được đạo
lý chân chính.
Tát
đoả. Hán dịch là “đại dũng mãnh giả”. Câu này có nghĩa
chư vị Bồ – tát là người phát tâm đại bồ - đề rất
dũng mãnh và phát tâm tu hạnh Bồ đề. Phát bồ đề tâm
nghĩa là gieo trồng nhân giác ngộ, tu bồ - đề hạnh là vun
trồng, tưới tẩm cho hạnt giống bồ - đề đã gieo được
nảy mầm, rồi mới mong gặt được quả giác ngộ, tức là
quả vị Vô thượng bồ - đề.
Đây
là ý nghĩa của câu chú Ma ha Bồ đề tát đoả. Câu chú này
thuyết minh về công hạnh trang nghiêm viên mãn của chư vị
Bồ – tát là do định huệ song tu. Khi Định đã lắng trong
thì Huệ cũng được chiếu sáng. Khi Huệ đã viên mãn, thì
Định viên dung. Vì Bồ – tát Quán Thế Âm đã đạt được
định lực viên mãn, nên xuất sinh trí tuệ sáng suốt. Vì
Bồ – tát đã đạt được trí tuệ viên mãn, nên Ngài mới
đạt được định lực lắng trong. Không có Định thì chẳng
có Huệ và không có Huệ thì chẳng đạt được Định. Nên
gọi định huệ không hai là vậy.
Do
nhờ tu tập vô số công hạnh mà Bồ – tát được trang nghiêm
thân tướng nên chư vị không rời bỏ một pháp nào dù nhỏ
bé hoặc vô cùng vi tế. Dù một việc thiện nhỏ nhất, cho
đến lớn nhất, chư vị Bồ – tát đều hoàn tất chu đáo.
Nên kinh có dạy”
“Chớ
khinh việc thiện nhỏ mà không làm
Chớ
xem thường việc ác nhỏ mà không tránh”.
Các
vị Bồ – tát thường siêng năng làm các điều thiện và
dứt khoát từ bỏ các việc ác, chư vị phát bồ - đề tâm
và đạt được quả vị giác ngộ Vô thượng bồ - đề.
Chư vị trang nghiêm pháp thân bằng vô số công hạnh. Chư
vị phát đại bi tâm, thực hành đại pháp vô duyên từ tuỳ
theo tâm lượng của chúng sinh mà làm Phật sự. Nhưng chính
các vị Bồ – tát, tự bản tánh và bản thể của các Ngài
không hề gợn một mảy may tướng trạng của chúng sinh tâm.
Các Ngài tự thấy mình và toàn thể chúng sinh có đồng một
thể tánh, không hề phân hai. Các Ngài không chỉ chịu khổ
cho riêng mình, mà ước nguyện giúp cho chúng sinh thoát khỏi
mọi khổ luỵ. Dù các Ngài chuyển hoá tất cả mọi sự thống
khổ cho chúng sinh mà không hề dính mắc chút nào vào việc
mình có độ thoát cho chúng sinh. Các Ngài không bao giờ tự
cho rằng:
“Tôi
đã cứu độ cho anh rồi, nay anh phải cám ơn tôi. Tôi đã
giúp anh thoát khỏi mọi phiền não, anh phải tỏ ra biết ơn
tôi”.
Chính
vì chư vị Bồ – tát không có tâm niệm như vậy, nên các
Ngài mới có thể ứng hiện ba mươi hai thân tướng, để
kịp thời đáp ứng mọi tâm nguyện của mọi loài chúng sinh.
Chẳng hạn như cần ứng hiện thân Phật để độ thoát chúng
sinh, thì chư vị Bồ – tát liến ứng hiện thân Phật để
giảng dạy giáo pháp cho chúng sinh khiến họ được giải
thoát. Nếu cần thiết hiện thân Bích Chi Phật, thì các Ngài
liền ứng hiện thân Bích Chi Phật để giáo hoá chúng sinh,
giúp họ được giải thoát. Cũng như vậy, các Ngài có thể
ứng hiện thân A la hán, vua chúa... để giúp cho chúng sinh
được độ thoát. Chư vị Bồ – tát có khả năng hóa hiện
thành ba mươi hai ứng thân để cứu độ các loài chúng sinh.
Các Ngài cũng có được mười bốn pháp vô uý và bốn pháp
bất khả tư nghì. Đó là bốn loại thần thông diệu dụng
không thể nghĩ bàn. Các Ngài đã chứng đạt được quả
vị chân thật viên thông, đã thành tựu quả vị Vô thượng
bồ - đề. Đó là sự thành tựu quả vị của Bồ – tát
Quán Thế Âm.
24.
Tát bà tát bà
Tát
bà tát bà. Hán dịch là “nhất thiết lợi lạc”. Câu chú
này bao hàm cả Bảo thủ nhãn ấn pháp, nghĩa là mang đến
mọi thứ lợi lạc cho mọi người.
Bằng
cách hành trì ấn pháp này, quí vị có khả năng đem sự an
vui lợi lạc đến cho hết thảy mọi loài chúng sinh. Thiên
vương, Diêm vương, Quỷ vương đều chấp hành theo người
trì tụng ấn chú này. Quí vị bảo họ: “Hãy thả tội nhân
này ra” thì Diêm vương liền tức khắc thả ra liền. Vì
sao vậy? Vì quí vị đã có được Bảo ấn này.
Bảo
ấn này cũng như ấn của vua vậy. Trên chiếu thư có ngọc
ấn của vua thì khắp thiên hạ, ai có trách nhiệm gì cũng
phải tuân theo chiếu thư mà thi hành, không ai dám chống lại.
Với Bảo ấn, quí vị có thể làm lợi lạc, an vui cho mọi
loài chúng sinh. Quí vị có thể chỉ bảo cho họ biết sự
lợi lạc để phát nguyện hành trì. Và sẽ đạt được sự
an lành. Vì vậy nên gọi là “Nhất thiết lợi lạc”.
Người
Trung Hoa đều biết có một vị Tiên, biết sử dụng một
ấn chú gọi là “Phiên thiên ấn”. Người con của Quảng
Thành vương cũng có một phiên thiên ấn. Chính là ấn này
vậy. Đạo Lão gọi là “Phiên thiên ấn”. Bồ – tát Quán
Thế Âm gọi là “Bảo ấn”.
Nếu
quí vị dụng công hành trì thì nhất định sẽ thành tựu
Bảo ấn này. Khi thành tựu rồi, nếu có người vừa mới
chết hoặc sắp chết, quí vị chỉ cần trì ấn này vào một
tờ giấy, và viết vài dòng cho Diêm vương: “Hãy tha cho người
này sống lại ngay. Hãy tha cho anh ta trở về dương gian”.
Diêm vương không dám từ chối. Diệu dụng của Bảo ấn có
thể giúp cho người chết sống lại. Nhưng để sử dụng
được Bảo ấn này, trước hết quí vị phải thành tựu
công phu tu tập đã. Nếu công phu chưa thành tựu thì chẳng
có kết quả gì.
Thế
nào nghĩa là thành tựu công phu tu hành? Cũng giống như đi
học. Trước hết, quí vị phải vào tiểu học, rồi lên trung
học, rồi thi vào đại học. Rồi cuối cùng có thể được
học vị Tiến sĩ.
Tu
tập để thành tựu Bảo ấn này cũng như đạt được học
vị Tiến sĩ vậy. Nhưng tạm ví dụ vậy thôi, chứ Bảo ấn
này không có gì so sánh được.
Tát
bà tát bà nghĩa là “lợi lạc cho tất cả mọi loài chúng
sinh”. Quí vị thấy sự diệu dụng vô biên đến như thế.
Nên gọi ấn này là Bảo ấn. Nếu quí vị muốn sử dụng
được Bảo ấn này thì phải công phu tu trì qua cả bốn mươi
hai thủ nhãn. Tát bà tát bà chỉ là một trong bốn mươi hai
ấn pháp ấy mà thôi.
Có
người nghe tôi giảng như vậy sẽ khỏi nghĩ rằng: “Ta sẽ
tu tập Bảo ấn này ngay để bất kỳ lúc nào có người sắp
chết, ta sẽ sử dụng ấn này, ra lệnh cho Diêm vương không
được bắt người ấy chết”. Quí vị cứ thực hành, quí
vị có thể giúp người kia khỏi chết, như ng đến khi quí
vị phải chết, thì chẳng có người nào giúp quí vị thoát
khỏi chết bằng Bảo ấn này cả.
Tôi
đã có dịp sử dụng ấn này hai lần. Một lần ở Mãn Châu
và một lần ở Hương Cảng. Lần ở Mãn Châu là trường
hợp cứu một người sắp chết. Người này chắc chắn sẽ
chết nếu tôi không sử dụng Bảo ấn này. Vào một chiều
trời mưa ngày 18 tháng 4 âm lịch. Một người tên là Cao Đức
Phúc đến chùa Tam Duyên, nơi tôi đang ngụ. Anh ta quỳ trước
tượng Phật, cầm một cây dao bọc trong giấy báo, chuẩn
bị sẵn sàng chặt tay để cúng dường chư Phật. Quí vị
nghĩ sao? Anh ta khôn ngoan hay không? Dĩ nhiên là quá ngu dại.
Tuy nhiên sự ngu dại của anh ta lại xuất phát từ lòng hiếu
đạo. Quí vị biết không. Mẹ anh ta bị bệnh trầm trọng
gần chết. Do vì thường ngày mẹ anh ta nghiện thuốc phiện
nặng. Nhưng bệnh bà quá nặng đến mức hút thuốc phiện
cũng không được nữa. Bà ta nằm co quắp, chẳng ăn uống
gì. Đầu lưỡi đã trở sang màu đen, môi miệng nứt nẻ.
Bác sĩ Đông, Tây y đều bó tay, không hy vọng gì còn chữa
trị được. Nhưng người con trai của bà nguyện: “Lạy Bồ
– tát rất linh cảm, con nguyện đến chùa Tam Duyên chặt
tay cúng dường chư Phật. Với lòng chí thành, con nguyện cho
mẹ con được lành bệnh”.
Ngay
khi chàng trai sắp chặt tay, có người nắm tay anh ta lôi lại
đằng sau rồi nói: “Anh làm gì thế, anh không được vào
đây mà tự sát”.
Anh
ta trả lời:
- “Tôi
chỉ chặt tay cúng dường chư Phật, cầu nguyện cho mẹ tôi
được lành bệnh. Ông đừng cản tôi”.
Chàng
trai chống lại, nhưng người kia không để cho anh ta chặt
tay nên liền cho người báo cho Hoà thượng trụ trì biết.
Hoà thượng cũng không biết phải làm sao, Ngài liền phái
cư sĩ Lý Cảnh Hoa, người hộ pháp đắc lực của chùa đi
tìm tôi.
Dù
lúc ấy, tôi vẫn còn là chú Sa – di. Tôi được giao nhiệm
vụ như là tri sự ở chùa Tam Duyên, chỉ dưới Hoà thượng
trụ trì. Tôi chỉ là một chú tiểu, nhưng không giống như
những chú tiểu cùng ăn chung nồi, cùng ngủ chung chiếu. Tôi
thức dậy trước mọi người và ngủ sau tất cả mọi người.
Tôi làm những việc mà không ai muốn làm và chỉ ăn một
ngày một bữa trưa, không ăn phi thời. Tu tập chính là sửa
đổi những sai lầm vi tế. Nếu khi chưa chuyển hoá được
những lỗi lầm nhỏ nhặt ấy, có nghĩa là mình còn thiếu
năng lực trong công phu.
Hoà
thượng trụ trì giao việc đó cho tôi. Tôi liền đến bạch
Hoà thượng:
- “Phật
tử đến cầu Hoà thượng cứu giúp. Nay Hoà thượng lại
giao cho con. Hoà thượng làm cho con thật khó xử”.
Hoà
thượng trụ trì bảo:
- “Con
hãy đem lòng từ bi mà cứu giúp họ”.
Hoà
thượng dạy những lời rất chí lý. Tôi vốn chẳng ngại
khó nhọc, nên khi nghe những lời đó, tôi rất phấn khích,
tôi thưa:
- Bạch
Hoà thượng, con sẽ đi.
Tôi
bảo chàng trai:
- Anh
hãy về nhà trước, tôi sẽ theo sau.
Anh
ta nói:
- Nhưng
thầy chưa biết nhà con?
Tôi
đáp:
- Đừng
bận tâm về tôi. Hãy cứ về nhà trước.
Lúc
ấy là vào khoảng năm giờ chiều, mặt trời vừa xế bóng.
Anh ta đi theo đường lộ chính, còn tôi đi theo đường mòn.
Nhà anh ta cách chùa chừng sáu dặm. Anh ta quá đỗi sửng sốt
khi về đến nơi, anh ta đã thấy tôi ngồi đợi anh trong nhà.
- Bạch
thầy, sao mà thầy biết nhà con mà đến sớm thế?
Tôi
nói:
- Có
lẽ anh vừa đi vừa chơi, hoặc anh ham xem bóng đá hay truyền
hình gì đó.
Cậu
ta đáp:
- Thưa
không, con cố hết sức đi thật nhanh để về nhà.
Tôi
nói:
- Có
lẽ xe đạp của anh đi không được nhanh như xe tôi, nên tôi
đến trước.
Ngay
khi vào thăm bà mẹ, tôi thấy không thể nào cứu sống bà
ta được. Nhưng tôi vẫn quyết định c