CHƯƠNG
I
1.
ĐẠI THỪA VÀ NGUYÊN THỦY
Triết học Đại Thừa (Mahayàna) gồm có hai phái, đó
là: Triết học Trung Quán (Madhyamaka) hay Không Luận (Sùnyavàda)
và Du Dà Hành phái (Yogàcàra) hoặc Duy Thức Luận (Vijnànavàda).
Ở đây, chúng ta chỉ thảo luận về Triết học Trung
Quán hoặc Không Luận mà thôi.
Một cách đại cương, Nguyên Thủy (Hìnayàna) và Đại
Thừa (Mayahàna) gồm có ba danh xưng thông dụng. Ba danh xưng
thông dụng dành cho Nguyên Thủy là: “Phật Giáo Nam Tông”,
“Phật Giáo Nguyên Thủy” và “Tiểu Thừa” (Hìnayàna)
và, ba danh xưng dành cho Đại Thừa là: “Phật Giáo Bắc
Tông”, “Phật Giáo Khai Hiển” và “Đại Thừa” (Mayahàna).
Hai danh xưng đầu được các học giả Âu Châu đặt ra,
còn hai danh xưng “Phật Giáo Nam Tông” và “Phật Giáo
Bắc Tông” được đặt tên theo căn bản địa lý. Các
học giả Âu Châu đã gọi Phật Giáo thịnh hành ở các
quốc gia phía Bắc Ấn Độ như Nepal, Tây Tạng, Trung Quốc
và Nhật Bản là “Phật Giáo Bắc Tông” và họ gọi
Phật Giáo thịnh hành ở những nước thuộc phía Nam
Ấn Độ như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, v.v... là
Phật Giáo Nam Tông”. Sự phân biệt theo lối đó thật
ra không hoàn toàn chính xác; bởi vì, theo tiến sĩ J.
Takakusu thì Phật Giáo thịnh hành tại những nơi trong
Quần đảo Nam Dương như Java va Sumatra, ở phía Nam Ấn
Độ, rõ ràng có sự tương đồng với loại Phật Giáo
thịnh hành ở phương Bắc Ấn Độ.
Sự phân biệt giữa “Phật Giáo Nguên thủy” và “Phật
Giáo Khai Hiển” đã được đặt trên những tin tưởng
và nhận xét rằng Phật Giáo Đại Thừa vốn chỉ là
sự phát triển dần dần từ giáo nghĩa Phật Giáo
Nguyên Thủy; nhưng, nhận xét trên đã không được Phật
Giáo đồ Đại Thừa (Mayahànists) chấp nhận. Các học
giả Nhật Bản cho rằng Đức Phật cao siêu đã thuyết
giảng giáo lý của Ngài cho các môn đồ tùy theo khả
năng tiếp nhận của họ. Đối với một số môn đồ,
Đức Phật truyền đạt cho họ những giáo nghĩa thông
tục (vyakta-upadésa) gồm nhận thức của Ngài trên mặt
hiện tượng; và một số khác có trình độ tri thức
cao hơn đã được Ngài truyền cho những giáo nghĩa uyên
thâm vi tế (guhya-upadésa) bao hàm nhận thức của đức
Phật về phương diện bản thể. Đức Phật đã chỉ
thuyết giảng về hai giáo nghĩa trên đây một cách khái
quát, về sau hai nghĩa đó đã được triển khai bởi
những bậc a-và-lê (acàryas) vĩ đại (chữ “acàryas”
được dịch sanh chữ Hán là “gũi phạm sư”). Vì thế,
sự phân biệt về danh xưng giữa “Phật Giáo Nguyên
Thủy” và “Phật Giáo Khai Hiển” là một sự kiện
không chính xác. Sự truyền thọ về hai loại giáo lý
trên đã được thực hiện đồng thời và song hành.
“giáo lý thông tục” có thể được gọi là “Phật
Giáo được quảng đại quần chúng biết đến” và
“giáo lý áo diệu” có thể gọi là “Phật Giáo
được ít người biết đến”. Giáo lý sau uyên thâm
và tinh tế hơn giáo lý trước.
Dù sao thì chúng ta cũng cần phải nghiên cứu, tìm hiểu
về hai danh từ “Phật Giáo Nguyên Thủy” và “Phật
Giáo Đại Thừa” thử xem chúng đã được khởi nguyên
và lưu truyền như thế nào. Theo nhận xét của R. Kimura
thì Đại Chúng Bộ (Mahàsanghikas) là hệ phái đã bảo
tồn giáo nghĩa Phật Giáo thông tục, đã có nhiều
tiến bộ và tự do hơn Thượng Tọa Bộ (Sthaviras). Trong
cuộc hội tập tại Tỳ Xá Ly (Vaisàli), các vị tỳ khưu
thuộc Đại Chúng Bộ (Mahàsanghikas) hoặc Vijjian (Bạt
Kỳ Tộc) đã bị quở trách và trụt xuất vì các thầy
tỳ khưu thuộc Thượng Tọa Bộ (Sthaviras) cho rằng giáo
nghĩa chính thống và kiến giải của họ đã bị vi phạm
bởi những quan điểm dị biệt, và, đã công khai chỉ
trích các thầy tỳ khưu thuộc Đại Chúng Bộ là “ác
tỳ khưu” (Pàpa Bhikkhus) và “kẻ thuyết phi pháp” (Adhamma
vadins).
Đại Chúng Bộ (Mahàsanghikas) vì muốn biểu thị rằng
giáo nghĩa của họ là giáo nghĩa ưu thắng, vượt hẳn
giáo nghĩa của Thượng Tọa Bộ (Sthaviras), cho nên họ
đã đặt ra danh từ “Đại Thừa” (chiếc xe lớn) để
làm tên gọi cho hệ phái của họ và họ đã gọi đối
thủ là “Nguyên Thủy” (chiếc xe nhỏ). Vì vậy, danh
từ Nguyên Thủy và Đại Thừa dần dần trở thành thông
dụng và, dĩ nhiên chỉ có Phật Giáo đồ Đại Thừa
mới sử dụng nó.