CHƯƠNG
I
4.
KHỞI NGUYÊN CỦA PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA (MAHAYÀNA)
Khởi thủy của Phật Giáo Đại Thừa có thể truy cứu
ở thời sơ khởi của Đại Chúng Bộ (Mahàsamghika) và
thời sơ khởi của văn hiến Kinh Điển Đại Thừa (Mahàyana
sùtras) (trước Đại Chúng Bộ và Văn Hiến Đại Thừa).
Tại cuộc hội nghị ở Vaisàli (căn cứ theo Kimura) đã
có một số tăng lữ bất đồng ý kiến trầm trọng
vợi một số tăng lữ khác về những điểm quan trọng
liên quan tới giáo pháp (Dharma). Số tăng lữ có những
ý kiến khác biệt tuy chiếm đại đa số nhưng họ đã
bị một số tăng lữ khác lên án và gọi là Ác tỳ
khưu (Pàpabhikhus) và kẻ thuyết phi pháp (Adhamma-vàdins)
đồng thời đã trụt xuất họ. Trong lịch sử Phật
Giáo, số tỳ khưu này được gọi là Đại Chúng Bộ
(Mahàsanghikas) vì trong cuộc hội tập họ đã chiếm
đại đa số hoặc cũng có thể là do họ đã phản ảnh
được ý kiến của đại đa số tục chúng (Phật tử
tại gia). Những tăng lữ đã xua đuổi những tỳ khưu
này, đã tự xưng là Thượng Tọa Bộ (Sthaviras) hoặc
Trưởng Lão (Elders) vì họ tự cho họ là đại biểu
chính thống giáo nghĩa Phật Giáo nguyên thủy. Như đã
trình bày, Đại Chúng Bộ đã sáng tạo danh từ Mahayàna
để đại biểu cho giáo phái mà họ hành trì và tính
phụng và đã gọi Thượng Tọa Bộ (Sthaviras) là Nguyên
Thủy.
Chúng ta hãy thử xem giáo nghĩa căn để của Đại Chúng
Bộ (Mahàsanghikas) gồm có những gì? Sự cống hiến
của họ có thể cô kết thành 4 điểm dưới đây:
1. Cảnh Giới của Phật Đà
Theo nhận xét của Đại Chúng Bộ thì Đức Phật không
phải chỉ là một nhân vật lịch sử. Đức Phật chân
chính là một thực thể siêu việt, vượt hiện thế,
vĩnh hằng và vô hạn. Đức Phật trong lịch sử chỉ
là nhân vật được Đức Phật chân chính gửi đến
với thế gian để cấu thành một nhân vật có hình
thể là một con người, có một đời sống sinh hoạt
giống hệt như một con người thường tục hầu thuyết
giảng Chánh Pháp cho nhân thế. Đức Phật chân chính
là một thực tại tối ưu việt. Ngài sẽ không ngừng
sai phái các sứ giả đến với trần gian để truyền
bá Chánh Pháp cho toàn thể nhân loại.
2. Cảnh Giới của A La Hán (Arhat)
Thượng Tọa Bộ cho rằng A La Hán là một bậc hoàn
thiện, hoàn mỹ; nhưng Đại Chúng Bộ cho rằng A La Hán
là bậc chưa hoàn mỹ, họ vẫn còn bị những nghi hoặc
quấy nhiễu và vẫn còn nhiều điều chưa liễu giải
được. Người ta không nên tôn thờ họ như là những
biểu tượng lý tưởng. Thay vì vậy, người ta nên noi
gương những người đã cống hiến trọn đời mình,
đã hy sinh tự ngã và cố gắng tranh thủ không ngừng
nhằm đạt đến cảnh giới của chư Phật – những người
như thế mới xứng đáng được xem như những lý thưởng
thù thắng cần học hỏi và noi theo.
3. Cảnh Giới của Kinh Nghiệm Tri Thức
Theo nhận xét của Đại Chúng Bộ (Mahàsamghikas) thì kinh
nghiệm tri thức đã không thể cung cấp cho chúng ta một
nhận thức thấu đáo về thực tại. Chỉ có sự siêu
việt qua tất cả hiện tượng, mọi sự vật của thế
tục, của Không Tánh (Sùnyàta) mới có khả năng giúp
chúng ta tri nhận được thực tại. Tất cả những diễn
đạt, phát biểu của ngôn ngữ đều cung cấp cho ta những
nhận xét sai lầm về những gì có liên quan đến thực
tại, chẳng qua chỉ là vật được cấu thành bởi tư
tưởng.
4. Vô Thực Thể Tánh của các Pháp (Dharmas)
Theo Thượng Tọa Bộ (Sthaviras) thì tự ngã (pudgala) của
con người vốn không có cái gọi là thực thể tánh
mà chính là Pháp (mọi hiện tượng, sự vật), hay sự
tồn tại của các thành tố mới là thực thể chân
thật. Đại Chúng Bộ còn đi xa hơn nữa, họ cho rằng
không phải chỉ có tự ngã của con người mới không
có thực thể tánh (Pudgala-nairàtmya) mà ngay cả các Pháp
(Dharmas – sự tồn tại của các thành tố) cũng không
có thực thể tánh (Dharma-nairàtmya). Tất cả mọi sự
vật, mọi hiện tượng vốn đều không có thực thể
tánh (đều là Không Tánh).
Từ những điều trên, có thể biết rằng tất cả
những điểm trọng yếu nhất của Triết học Trung Quán
(Madhyamàka Philosophy) trên thực tế đều đã bắt nguồn
từ Đại Chúng Bộ.
Đại Chúng Bộ trước hết đã diễn giải những nhận
thức
của Đức Phật về bản thể, nhận thức này trước
tiên được đưa vào kinh điển Đại Thừa (Mahayàna Sutras)
và sau đó mới phát triển thành tôn giáo và triết
học Đại Thừa.