CHƯƠNG
II
TƯ
LIỆU VĂN BẢN
(Literary
Sources)
Trong Phật giáo, văn bản của “kinh” (sutra) được coi
là những giáo lý do Đức Phật thuyết giảng trực
tiếp bằng kim khẩu, còn “luận” (sàstra) là những
chú giải bình luận, diễn tỉ mỉ về những giáo lý
do Đức Phật thuyết giảng trực tiếp.
Nhưng những kinh điển Đại Thừa mà chúng ta được
biết là một khối lượng văn bản rất lớn. Những
gì được gọi là “kinh” thì là những giáo lý được
Đức Phật trực tiếp giảng dạy, nhưng kinh điển Đại
Thừa gồm cả tạng với khối lượng rất lớn, hiển
nhiên có thể là đã không phải do Đức Phật thuyết
giảng toàn bộ.
Một số văn bản kinh điển Đại Thừa đã có sự xen
lẫn liên quan sâu xa đến kinh Điển Phật Giáo nguyên
thủy và mãi cho đến nay hầu như không thể phân biệt
chúng được.
Những trước tác quan trọng nhất trong số này là Prajũnàparamità
sùtra (Kinh bát nhã ba la mật đa). Thông thường, “Prajnà-pàràmità”
(bát nhã ba la mật đa) được dịch là “trí tuệ viên
thành”.. Chữ “pàram-ità” có nghĩa “đạt đến
bờ bên kia” (đáo bỉ ngạn), vì thế “prajnà-pàramità”
nên được dịch thành “đổng thức siêu việt” thì
có lẽ đúng hơn. Dịch bản của Tây Tạng đã dịch như
thế. Tại tất cả các nước mà Phật giáo Đại Thừa
đang thịnh hành, “bát nhã ba la mật chân ngôn” (prajnà-pàrmità
mantra) sau đây thường được ngâm tụng là:
“Gate, gate, pàraingate, pàrasaingate bohhi, savàhà”
(Trí huệ đã vượt qua! Vượt qua! Vượt qua! bờ bên
kia, hoàn toàn vượt qua bờ bên kia, nơi Đại Bồ
Đề và đã thành tựu một cách vượt tốc)
Theo nhận xét của Tiến Sĩ Edward Conze thì kinh văn cấu
thành “bát nhã ba la mật đa” (Prajnà-pàràmità) nối
tiếp nhau khoảng trên 1,000 năm và có thể được chia
thành 4 giai đoạn sau:
* Giai
đoạn thứ nhất (100 năm trước Tây Lịch cho tới 100 năm
sau Tây Lịch) bao gồm sự diễn sâu rộng căn cứ vào
văn bản gốc.
* Giai
đoạn thứ hai (từ năm 100 tới năm 300 sau Tây Lic̣h) bao
gồm việc khai triển giáo lý này thành ba hoặc bốn
kinh điển dài.
* Giai
đoạn thứ ba (từ năm 300 đến năm 500 sau Tây Lịch) là
giai đoạn mang giáo lý này rút lại thành vài kinh điển
ngắn hơn.
* Giai
đoạn thứ tư (từ năm 500 đến năm 1200 sau Tây Lịch) là
giai đoạn đã cô đọng thành mật chú (Tantric dhàranis)
và châm ngôn.
(1) Căn cứ theo nhận xét của đại đa số học giả thì
“Bát thiên tụng” (Ast sàhasrikà) bao gồm 8,000 câu kinh
cổ xưa nhất trong văn bản “Bát Nhã Ba La Mật Đa”
(Prajnàparamita). Nó có thể đã được khởi nguồn từ
Đại Chúng Bộ, chủ đề của nó là học thuyết “không
tánh” (sùnyatà).
(2) “Bát thiên tụng” 300 năm tiếp theo đã được phát
triển thành “Thập vạn tụng” (Satasàhasrikà – gồm
100,000 câu), “Nhị vạn ngũ thiên tụng” (Pãncavimsati-sàhasrikà
– 25,000 câu) và “Nhất vạn bát thiên tụng” (Astàdásasàhasrika
– 18,000 câu). Văn bản sau cùng đã được Lokaraksa (Vương)
chuyển dịch vào năm 172 sau Tây Lịch.
(3) Tới đây, điều cần luận bàn là sự cô đọng
những điểm trọng yếu của văn bản “Bát Nhã La Mật
Đa”. Bản cô đọng sớm nhất gồm có “Tâm kinh” (Hrdaya-sùtra)
và “Năng Đoạn Kim Cang Kinh” (Vajracchedika sùtra). “Năng
Đoạn Kim Cang Kinh” đã được dịch sanh Hoa văn vào khoảng
thế kỷ thứ 5 sau Tây Lịch. Dịch bản này đã được
in vào ngày 11 tháng 5 năm 868 tại Trung Quốc. Theo truyền
thuyết thì đây là cuốn sách in xưa nhất trên thế
giới.
“Hiện quán trang nghiêm” (Abhisamayalamkãra) được coi
là những trích yếu của “Nhị vạn ngũ thiên tụng”
(Pancavimsti Sàhasrikà), do Ngài Di Lặc (Maitreyyanàtha), bậc
thầy của Ngài Asanga (Vô Trước) thực hiện.
(4) Sau hết, điều cần bàn đến là Mật chú và chân
ngôn đã được cô đọng từ “Bát Nhã La Mật Đa”.
Một trong số đó là “Ekàksarì” cho rằng trí huệ
viên thành chỉ bao gồm trong một chữ “A”. Và tối
hậu, “Bát Nhã Ba La Mật Đa” được nhân cách hóa
thành một vị nữ thần để mọi người sùng bái.
“Bát Nhã Ba La Mật Đa” vừa là triết học nhưng đồng
thời cũng vừa là tôn giáo. Nó không phải chỉ là “triết
học” theo ý nghĩa chữ “triết học” của Tây Phương.
Ở Tây Phương, triết học đã tách ra khỏi tôn giáo và
đã trở thành sự truy tìm của trí thức thuần túy.
Tại Ấn Độ, mỗi nền triết học đều là một tôn
giáo, và mỗi tôn giáo đều có triết học riêng nó.
Các tôn giáo Tây Phương đã trở thành những tôn giáo
của giáo điều công thức, còn tôn giáo của Ấn Độ
là loại tôn giáo triết học.
Chủ đề của văn bản “Bát Nhã Ba La Mật Đa” (Pràjnãpàramità)
là thuyết Tánh Không (Sùnyatà). Tín đồ Phật Giáo
Nguyên Thủy (Hinayànists) tin rằng là chỉ có cá nhân mới
vô thực thể tánh (pudgala-nairàtmya). Họ đã đem “thực
tại” chia thành các pháp hoặc thành tố tồn tại,
hơn nữa họ đã cho rằng các pháp là những thực thể
thật hữu. “Bát Nhã Ba La Mật Đa” đã phản đối
triệt để lề lối nhận xét này và cho rằng các
pháp vốn là tánh không (Sarva-dharma-sùnyatà).
Hiện tượng tùy thuộc vào những điều kiện hạn
định để tồn tại. Do sự lệ thuộc này nên trên thực
thể chúng vốn không có chân thật tánh, vì thế chúng
chỉ là “không” (sùnya).
Niết Bàn (Nirvàna) siêu việt vượt qua tất cả mọi
phạm trù tư tưởng, bản thân nó chính là Không Tánh
(Sùnyatà).
Cả cõi “ta bà” (samsàra) và Niết Bàn (Nirvàna), hạn
định và vô hạn định, đều chỉ là vật được cấu
thành bởi tư tưởng, vì thế chúng không có thực tại
tánh.
Thực tại tối hậu có thể được gọi là Không Tánh
(Sùnyatà) vì nó siêu việt trên tất cả mọi hạn định,
kinh nghiệm và do tư tưởng cấu thành.
Bát Nhã (Pràjnã) hoặc trí huệ siêu việt chính là
sự đình chỉ mọi cấu tác của tư tưởng trầm mê.
Vì thế, Bát Nhã đồng nghĩa với Không Tánh.
Tóm lại, sự thấu triệt tri nhận được Không Tánh
không phải chỉ do sự nhiệt tâm thừa nhận mà có được,
cũng không phải do sự nghiên cứu tranh luận về chữ
nghĩa mà có được; Không Tánh chỉ đạt được trong
thiền định.
Chúng ta cần minh tưởng về Không Tánh như là vô tự
ngã (sự vắng mặt của bản ngã), minh tưởng tất cả
pháp đều không có thực thể tánh, minh tưởng Không
Tánh như là hư không vô hạn định. Cuối cùng, bản thân
của Không Tánh cũng bị trừ bỏ và chỉ xem nó như là
một chiếc bè giúp ta vượt qua biển vô minh. Tuy nhiên,
loại minh tưởng này sẽ trở thành vô hiệu quả, nếu
chúng ta không bồi dưỡng một đức tính nào đó.
Mặc dù đoạn văn trên đây chỉ là một tóm lượt rất
ngắn về kinh văn “Bát Nhã Ba La Mật Đa”, nhưng cũng
đủ để cho thấy rằng văn bản này đã bao gồm tất
cả những yếu tố cốt lõi của Phật Giáo Đại Thừa.
Vì thế chúng ta biết rằng triết học Trung Quán (Madhyamaka)
đã được khai triển trên cơ sở của giáo nghĩa Đại
Chúng Bộ, cho nên “Đại Thừa Phật Kinh” cũng được
gọi là “Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh” (Pràjnãparamità).
CHƯƠNG
II
5.
TRƯỚC TÁC VÀ GIÁO LÝ CỦA HỆ PHÁI
TRUNG
QUÁN TRIẾT HỌC
Trường phái triết học Trung Quán chủ yếu là do Long
Thọ khai triển. Ngài là một trong những đại thiên tài
lỗi lạc nhất trong lịch sử thế giới. Ngài đã xây
nền cho giáo phái này, và sau đó các môn đồ kiệt
xuất của Ngài đã tiếp tục khai triển. Lịch sử phát
triển của nền triết học này đã liên tục từ thế
kỷ thứ nhì sau Tây Lịch cho mãi đến thế kỷ thứ
11.
Sự phát triển của học phái này gồm ba giai đoạn rất
dễ phân biệt. Triết học Trung Quán giai đoạn thứ nhất,
do Long Thọ và Đề Bà đề xướng và thuyết minh một
cách có hệ thống. Giai đoạn thứ hai, hệ thống triết
học này được phân chia thành hai phái là “Qui Mậu
Luận Chứng Phái” (Pràsangika) và “Tự Y Luận Chứng
Phái” (Svàtantrika). Giai đoạn thứ ba là giai đoạn khẳng
định lại “Qui Mậu Luận Chứng Phái”.