CHƯƠNG
II
6.
LONG THỌ VÀ ĐỀ BÀ
(Thế
Kỷ Thứ Nhì Sau Tây Lịch)
Giai
đoạn đầu
- Long Thọ đã viết rất nhiều chú giải cho Bát Nhã
Ba La Mật Đa (Pràjnãparamita), những chú giải này được
gọi là “Bát Nhã Ba La Mật Đa Luận” (Pràjnãparamità-sàstra).
Luận này đã được Ngài Cưu Ma La Thập (Kumàrajiva)
(Tây nguyên 402 năm đến 405 năm) dịch thành Hoa văn. Dù
sao thì sự thuyết minh tư tưởng triết học chủ yếu
của Long Thọ đã nằm trong quyển “Bát Nhã Căn” (Pràjnã-mùla)
hoặc “Căn Bản Trung Quán tụng” (Mùla-Madhyamaka-Kàrikàs)
hoặc “Trung Luận” (Madhayamàka Sàstra). Đề Bà, đệ
tử kính cẩn của Ngài, đã khai triển tư tưởng triết
học ấy trong tứ Bách Luận (Catuh-Sataha). Chúng tôi đã
đề cập ở phần trên về những kinh sách khác của
Long Thọ và Đề Bà.
Giai
đoạn thứ hai
- Long Thọ đã sử dụng kỹ thuật của “prasanga”, để
thuyết minh Triết Học Trung Quán của mình. Chữ “prasanga”
là một thuật ngữ, nó có ý nghĩa là “qui mậu luận
chứng”. Long Thọ đã không đề ra bất cứ học thuyết
nào của riêng mình; vì thế, Ngài không cần phải đề
ra bất cứ luận chứng nào để chứng minh cho học thuyết
của mình cả. Ngài chỉ sử dụng “qui mậu luận chứng
pháp” (prasangavàkya) để chứng minh rằng những lý
luận do đối thủ đề ra chỉ dẫn đến sự phi lý,
ngay cả đối với những nguyên lý mà chính họ đã
chấp nhận. Điều này ngụ ý rằng “thực tại” là
thứ gì vượt lên trên tư tưởng.
Phật Hộ (Buddhapàlita) sanh vào giữa thế kỷ thứ 6,
là tín đồ nhiệt thành của Long Thọ, Ngài cảm thấy
“qui mậu luận chứng” (Prasanga) là phương pháp chính
xác của hệ thống Triết Học Trung Quán (Madhyamaka) nên
đã ứng dụng nó trong học thuyết và tác phẩm của
mình. Ngài viết quyển “Trung Quán Chú” (Madhyam-akavrtti),
mục đích là để chú giải cho bộ Trung Luận của Long
Thọ. Sách này nguyên bản đã bị thất lạc, hiện chỉ
còn bản dịch bằng Tạng văn.
Thanh Biện (Bhavya hay Bhàvaviveka) là người cùng thời
đại với Phật Hộ, nhưng trẻ tuổi hơn. Ngài cho rằng,
chỉ nêu ra sự sai lầm của đối thủ vẫn chưa đủ,
mà còn phải đề ra tự y luận chứng (svatantra) hoặc
luận chứng độc lập hợp lý để khiến kẻ đó
phải im tiếng. Ngài tin rằng chỉ dựa vào phương pháp
biện chứng thì không thể nêu ra được chân lý tuyệt
đối một cách chính xác.
Ngài đã viết “Đại Thừa Chưởng Trân Luận” (Mahàyàna-Karatala-Ratna
Sastra). “Trung Quán Tâm Luận” (Màdhyamikahrdaya) với chú
thích có tên là: “Tư Trạch Diệm Luận” (Tarkajvàlà),
“Trung Luận Yếu Chỉ” (Madhyamàrtha-Saingraha) để chú
giải Trung Luận của Long Thọ và “Bát Nhã Đăng Luận”
(Prajnã-pradipa). Những tác phẩm này hiện nay chỉ được
tồn tại trong bản dịch Tây Tạng.
Tiến Sĩ L. M. Toshi đã chuyển Trung Luận Yếu Chỉ sang
chữ Nàgari và dịch sang tiếng Hindi được đăng ở “Pháp
Sứ” (Dharmadũta), quyển thứ 29-tháng 7-8 năm 1964.
Giáo sư N. Aiyswàmi đã dịch “Chưởng Trân Luận” (Karatalaratna)
bằng tiếng Trung Hoa của Ngài Huyền Trang trở lại thành
Phạn văn (Vísvabbhàrati Santiniketan, 1949).
Như trên, chúng ta biết rằng vào thế kỷ thứ nhì gần
400 năm sau khi Long Thọ viên tic̣h, triết học Trung Quán đã
được chia thành hai phái là:
a) “Quy Mậu Luận Chứng Phái” (Pràsangka) do Phật Hộ
(Buddhapàlita) cầm đầu và
b) “Tự Y Luận Chứng Phái” (Sỳatantrika) do Thanh Biện
(Bhàvaviveka) cầm đầu.
Y. Kajiama cho rằng nguyên nhân gây chia rẽ Trung Quán phái
chính là câu hỏi rằng là hệ thống tri thức tương
đối có thể được thừa nhận hay không. Mặc dù đứng
trên quan điểm tuyệt đối thì nó là hư vọng?
Theo nhận xét của Ngài Huyền Trang, thì mặc dù bề
mặt Thanh Biện đã khoác chiếc áo của Số Luận (Sàmkhya),
nhưng trên thực tế thì Ngài đã ủng hộ giáo lý của
Long Thọ.
Giai
đoạn thứ ba
- Trong giai đoạn này, Trung Quán phái đã xuất hiện hai
vị học giả kiệt xuất, đó là Nguyệt Xứng (Candrakìrti)
và Tịch Thiên (Sàntideva).
Số lượng chú giải về Trung Quán Luận của Long Thọ
rất nhiều (khoảng 20 quyển). Những tác phẩm này hiện
chỉ được bảo tồn ở trong những dịch bản của Tạng
văn. Trong đó “Minh Cú Luận” (Parasannapadà) của Nguyệt
Xứng là bản duy nhất còn tồn tại trong Phạn văn nguyên
thủy (Sainskrta), dường như nó đã khiến cho những chú
giải khác trở thành lỗi thời.
Ngài Nguyệt Xứng đã chào đời và hoạt động xuất
chúng ở Samanta, Nam Ấn Độ, vào đầu thế kỷ thứ
7 sau Tây Lịch và đã viết một số tác phẩm nổi
tiếng. Ngài từng theo Liên
Hoa Giác (Kamalabuddhi-một đệ tử của Phật Hộ) để
nghiên tập về Triết Học Trung Quán (Kamalabuddhi), và có
thể Ngài cũng là đệ tử của Thanh Biện. Như trên
đã đề cập, “Minh Cú Luận” là luận do Ngài viết
để chú giải Trung Quán Luận của Long Thọ. Ngoài ra,
“Nhập Trung Luận” (Madhyamakàvatàra) và chú thích của
nó chính là tác phẩm độc lập của Ngài. Trong Minh
Cú Luận Ngài thường đề cập đến Nhập Trung Luận,
điều này cho thấy rõ rằng Nhập Trung Luận đã được
viết sớm hơn Minh Cú Luận.
Ngoài ra, Ngài còn chú giải “Thất thập tụng không
tánh luận” (Sùnyatà Saptati). “Lục thập tụng chánh
lý luận” (Yukti Sastikà) của Long Thọ và “Tứ bách
luận” (Catubsataka) của Đề Bà. Ngoài ra còn có hai biên
khái luận (pakaranas), đó là “Nhập Trung Đạo Bát Nhã
luận” (Madhyamakaprajnàvatàra) và “Ngũ Uẩn Luận”
(Pancaskandha). Trong tất cả các sách của Ngài, hiện chỉ
có Minh Cú Luận là vẫn còn bản chính gốc, ngoài
ra tất cả đều chỉ còn lại những dịch bản bằng
Tạng văn.
Nguyệt Xứng đã biện hộ cho Qui Mậu Luận Chứng phái
(Prasangika) một cách cực lực, hơn nữa Ngài còn nêu
ra rất nhiều sơ hở về luận lý của Thanh Biện.
Ngài cũng đã ủng hộ chủ trương quan điểm thường
thức của cảm quan tri giác và chỉ trích học thuyết
“Tự tướng” (Svalaksana) và “Vô Phân Biệt” (Kalpanàpodha).
Ngài cũng còn phê bình về vô thức thuyết (Vijnànavàda)
và cho rằng ý thức (Vijnàna) mà không có đối tượng
là một điều không thể quan niệm được.
Tích Thiên (Sàntideva) là một nhân vật trụ cột lớn
của Qui Mậu Luận Chứng phái. Ngài đã xuất hiện
và rất nổi tiếng ở thế kỷ thứ 7 sau Tây Lịch,
theo Tàrànàtha thì Tịch Thiên là con của Đức Khải
Vương (Kalỳanavarman) ở nước Sauràstra, và là người
thừa kế ngôi vua chánh thống. Khi Ngài còn là một
vương tử, tên của Ngài là Tịch Khải (Sàntivarman). Vì
tiếp nhận một cách sâu đậm tư tưởng Đại Thừa
nên đã phát tâm để lìa bỏ vương quốc và đã đến
chùa Nàlandà bằng cửa Thánh Thiên (Taideva), vì vậy
sau đó người ta đã gọi Ngài là Tịch Thiên (Sàtideva).
Kinh điển của Ngài gồm có “Học Xứ Yếu Tập”
(Siksà-samuccaya) và “Nhập Bồ Đề Hành Luận” (Bodhicaryàvatàra).
Trong cuốn trước, Ngài đã đề cập đến rất nhiều
kinh điển Đại Thừa vô cùng trọng yếu này, tất cả
gần 97 loại, những sách này hiện nay đã hoàn toàn
bị thất truyền. Trong “Nhập Bồ Đề Hành Luận”
Ngài đã nhấn mạnh và thiết tha kêu gọi hãy bồi dưỡng
Bồ Đề Tâm (Bodhicitta). Ngài là một thi hào vĩ đại
nhất trong học phái Trung Quán.
Hầu hết những tác phẩm của Ngài đều biểu hiện
sự kết hợp đẹp đẽ giữa thi ca và triết học. Ngài
là tín đồ của Qui Mậu Luận Chứng phái và đã có
những phê bình mạnh mẽ đối với Duy Thức Luận.
Có thể nói rằng Tịch Hộ (Sàntaraksita) và Liên Hoa
Giới (kamalasila) là đại biểu cho sự dung hợp của học
thuyết Trung Quán và Duy Thức Luận, vì thế không thể
gọi họ là những người thuộc Trung Quán phái chân chính.
Tịch Hộ đã chào đời vào thế kỷ thứ 8 sau Tây Lịch,
tác phẩm chủ yếu của Ngài là “Chân Lý Khái yếu”
(Tattvasamgraha). Liên Hoa Giới, vị đệ tử đắc ý của
Ngài đã viết “Chân Lý Khái Yếu Tường Thích” (Tattvasamgraha-panjikà)
để chú giải một cách tinh tường về chân lý Khái
Yếu (tattvasamgraha)