CHƯƠNG
II
7.
BIỆN CHỨNG PHÁP TRUNG QUÁN
(MADHYAMAKA
DIALECTIC)
KHỞI
NGUYÊN, CẤU TRÚC VÀ PHÁT TRIỂN
Như đã đề cập, mọi yếu nghĩa của triết học Trung
Quán, hầu hết đã được nêu ra một cách đại lược
trong phần Đại Chúng Bộ và văn bản Bát Nhã Ba La Mật
Đa (Prajnãparamità). Long Thọ chỉ là người khai triển
chúng mà thôi. Vậy thì Long Thọ đã cống hiến được
những gì của chính Ngài? Sự cống hiến đặc thù
của chính Ngài là biện chứng pháp (dialetic) mà Ngài
đã khai triển. Đương nhiên là Ngài đã chiếu rọi những
tia sáng mới mẻ lên các chủ thuyết khác nhau của Phật
Giáo Đại Thừa, bao hàm trong tư tưởng của Đại Chúng
Bộ và trong tác phẩm Bát Nhã Ba La Mật Đa, hơn nữa
đối với những lý luận này Ngài đã thuyết minh
sâu xa hơn và phê phán nhiều hơn về những chủ thuyết
đó; nhưng, sự cống hiến độc đáo nhất của Ngài
vẫn là biện chứng pháp.
Sự im lặng bí ẩn của Đức Phật đối với những
câu hỏi có tính cách siêu hình căn bản nhất đã thúc
đẩy Long Thọ nghiên cứu tìm hiểu lý do tại sao Đức
Phật giữ im lặng. Có phải Đức Phật chủ trương “bất
khả tri” (agnostic) như một số người Tây Phương nghiên
cứu Phật Giáo đã nghĩ? Nếu không thì vì lý do gì
mà Ngài giữ thái độ im lặng? Qua một cuộc nghiên
cứu đối với sự im lặng này, Long Thọ đã đặt
ra biện chứng pháp.
Có một số câu hỏi trứ danh mà Đức Phật đã coi
là “vô ký” (avayàkrta), tức là những giải đáp mà
Ngài cho rằng không thể diễn đạt. Trong những chú giải
của Nguyệt Xứng về Trung Luận (MK, 22, 12) Ngài đã từng
nêu ra những vấn đề này.
Ngài mở đầu bằng câu:
“Tha caturdasa avyàkrta-vastùni bhagavatà nirdistàni:
“Đức Thế Tôn tuyên bố rằng có 14 sự việc không
thể thuyết minh được,”
Và sau đó đề cập 14 sự việc trên theo thứ tự:
1) Thế giới phải chăng là (a) vĩnh hằng, (b) hay không
vĩnh
hằng, (c) hoặc cả hai đều đúng, (d) hoặc cả hai đều
không đúng.
2) Phải chăng thế giới là (a) hữu biên, (b) vô biên (c)
hoặc cả hai đều đúng (d) hoặc cả hai đều không đúng.
3) Phải chăng sau khi Như Lai nhập diệt (a) vẫn tồn tại,
(b) hoặc không tồn tại, (c) hoặc cả hai đều đúng,
(d)
hoặc cả hai đều không đúng.
4) Phải chăng linh hồn và thể xác là đồng nhất hay
không đồng nhất.
Trên đây gồm có 14 vấn đề:
Chúng ta có thể thấy rõ trong ba nhóm câu hỏi chính
mỗi một câu hỏi gồm có bốn tuyển loại, và câu
hỏi sau cùng cũng có thể có bốn thứ tuyển loại,
bốn tuyển loại này đã cấu thành “tứ kết luận”
(catuskoti) hoặc bốn mệnh đề cơ sở căn bản (tetra-lemma)
vô cùng trọng yếu của Long Thọ Biện Chứng Pháp. Mỗi
một vấn đề đều có (1) khẳng định mệnh đề đối
phản của nó (2) làm mệnh đề của phủ định tương
phản. Hai mệnh đề này là sự tuyển chọn cơ bản.
Sau đó (3) kết hợp hai điều khẳng định để cấu
thành tuyển loại thứ ba, (4) tuyển ngôn của hai phủ định
đã cấu thành tuyển loại thứ tư.
Đối với những tra vấn căn bản này, mà trả lời
“phải” hoặc “không phải” thì e rằng không thể
nhận thức chân lý một cách trọn vẹn và, Đức Phật
dạy rằng loại tư biện này chỉ là một loại “kiến
giải luận thuyết” (đitthivàda), cho nên Ngài đã từ
chối và không muốn thâm cứu chúng.
Cấu trúc của những câu hỏi đó và sự im lặng của
Đức Phật đã được đặt ra trước mặt Long Thọ.
Đức Phật đã từ chối trả lời dứt khoát cho những
câu hỏi như vậy. Đức Phật vẫn thường dạy là Ngài
không tin vào “Thường hằng luận” (Sàsvata-vàda), một
loại khẳng định tuyệt đối, mà cũng không tin vào
“Đoạn diệt luận” (Ucchedavàda), một phủ định tuyệt
đối. Lập trường của Ngài chính là “trung đạo”
(madhyamà pratipada).
Long Thọ đã tư duy một cách sâu sắc về thái độ
này của Đức Phật và cho rằng lý do mà Đức Phật
cố ý giữ im lặng trước những vấn đề này là
bởi thực tại đã siêu việt qua mọi tư tưởng. Ngài
đã thành lập hệ thống gồm 4 tuyển loại (antas hoặc
kotis), và đã vạch rõ sự không hài hòa của mỗi tuyển
loại. Ngài đã thấu triệt một cách thông suốt và
đã tìm ra được nhị luật bội phản (antinomy) của lý
tính (reason), khử trừ mọi sự vật được chúng che
đậy, và đã chứng minh rằng việc kiến lập một
hệ thống siêu hình học (metaphysis) kiên cố trên cơ sở
của chủ nghĩa giáo điều (dogmatism) hoặc chủ nghĩa duy
lý (rationalism) là một điều bất khả. Đây chính là
biện chứng pháp của Ngài.
Bốn tuyển loại này đã được Đức Phật đề xuất
từ rất sớm, nhưng nguyên ý của Long Thọ là ứng dụng
luận lý học một cách nghiêm túc để gợi những hàm
ý của mỗi tuyển loại, rượt đuổi lý tính đến
“ngõ cụt” (cul de sac) và như thế mới chuẩn bị cho
tâm thức phải quay ngược lại (paràvrti) để hướng
đến bát nhã (prajnà: trí huệ).
Đối với những độc giả thiếu thận trọng, Long Thọ
đã được xem như một nhân vật mà nếu không phải
là một triết gia khó tính muốn phản bác tất cả
học thuyết của các triết gia khác thì cũng là một
nhà ngụy biện đã sử dụng những ẩn từ xảo diệu
(equivocation) để̀ ép buộc các đối thủ thiếu cảnh
giác phải nhượng bộ trong lúc biện luận, và sau đó
đã cười thầm trước sự lúng túng của đối phương;
nếu không thế thì ít ra cũng là người theo đuổi
chủ nghĩa hư vô có tánh phá hoại, phủ định một cách
cộc cằn tất cả quan điểm và đã không khẳng định
bất cứ một quan điểm nào.
Nếu nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, cẩn thận hơn
về biện chứng pháp của ngài, thì sẽ thấy rằng
những lo lắng trên hoàn toàn không đúng với ngài, vì
trong một tâm thức hoàn toàn thanh tịnh ngài chỉ cố
gắng chứng tỏ rằng khi lý tính vượt khỏi lãnh vực
của những hiện tượng có thể lý giải thì đã tiến
vào cảnh địa của bản thể bất khả tri (noumena), lúc
đó, tất nhiên sẽ gặp phải sự mâu thuẫn.
1/
Ý
NGHĨA CỦA BIỆN CHỨNG PHÁP
Vậy thì biện chứng pháp có nghĩa là gì? Nói một
cách đơn giản, biện chứng pháp là một loại vận
hành tư tưởng, nhờ vào sự tra khảo về những mặt
phải và trái (pros and cons) của vấn đề để có một
ý thức rõ ràng về những nhị luật bội phản (antinomies)
mà lý tính bị sa lầy vào đó, và ám chỉ con đường
ra khỏi sự bế tắc bằng cách thăng tiến lên một
giai tầng cao hơn lý tính để ra khỏi “ngõ cụt”.
2/
CẤU
TRÚC CỦA BIỆN CHỨNG PHÁP
Chúng ta đã biết khởi nguyên của biện chứng pháp,
của Trung Quán nằm trong bốn tuyển loại của mỗi vấn
đề “không thể thuyết minh” (avyàkrta) mà Đức Phật
đã im lặng một cách bí ẩn. Nhưng Long Thọ thì rõ
ràng đã tìm cách thành lập, hệ thống hóa nó và
sử dụng “tứ cú lập” (catuskoti: tetralemma hay quadrilemma)
– cũng được gọi là “tứ cảnh phủ định” (four-cornered
negation) – để biểu minh.
Vậy cấu trúc của biện chứng pháp được xếp như
sau: Sự tuyển trạch thứ nhất của tứ cú lập gồm
mệnh đề thứ nhất là (i) mệnh đề khẳng định.
Thứ hai là (ii) phản đề. Thứ ba là (iii) kết hợp
khẳng định của hai mệnh đề trước, và thứ tư là
(iv) phủ định của hai mệnh đề trước.
3/
KỸ
THUẬT BIỆN CHỨNG PHÁP
Kỹ thuật biện chứng pháp là rút ra những ngụ ý
về quan điểm của đối phương đặt trên căn bản của
những nguyên tắc mà chính họ thừa nhận, và nhờ
đó mà vạch ra sự mâu thuẫn tự thân của quan điểm
này. Dùng cách này, đối phương sẽ bị sa vào cạm bẫy
của chính họ. Đối phương bị dồn vào vị trí phi lý
khi những kết luận tự mâu thuẫn của những giả thuyết
của họ bị vạch trần. Như thế, có thể nói rằng
biện chứng pháp bác bỏ các quan điểm bằng cách sử
dụng “qui mậu luận chứng” (reductio ad absurdum argument).
Kỹ thuật này trong thuật ngữ thường được gọi theo
Phạn ngữ là “prasanga” (phiên âm sang chữ Hán là “thành
phản chất nan”).
R. H. Robinson đã nêu rõ trong “Phái Trung Quán Thời Sơ
Khởi ở Ấn Độ và Trung Quốc” (Early Màdhyamika in
India and China) của ông rằng những thi cú trong Trung Luận
(Màdhyamaka) của Long Thọ có một số lớn những tam đoạn
luận (syllogism) có tính cách giả thiết. Trong những thi
cú đó, có những thí dụ về hai loại tam đoạn luận
giả thiết – đó là hy đoạn luật (modus ponens) và nghịch
đoạn luật (modus tollens) – và còn có một cách ngụy
biện trong đó tiền đề bị phủ nhận.
Đối với thí dụ “ly đoạn luật” (modusponens) Robinson
đã trích dẫn đoạn 3.2 trong Minh Cú Luận ̣(Prasannapadà)
và
đối
với thí dụ “nghịch đoạn luật” thì ông đã trích
dẫn đoạn 19.6 trong Minh Cú Luận.
Ông nói đúng khi bảo rằng trong thi cú có rất nhiều
“lưỡng đao luận pháp” (dilemmas) mà hình thức thường
thấy nhất là: “nếu p rồi sau đó là q; nếu chẳng
phải p rồi sau đó là q,” đây là hình thức đặc
thù của “đơn thuần kiến cấu lưỡng đao luận pháp”
(simple constructive dilemma) trong luận lý Tây phương.
Ngoài ra, trong thi cú còn có thể trông thấy một hình
thức “lưỡng đao luận pháp” khác, đó là: “Nếu
p, rồi sau đó q; nếu không phải p, thì sau đó là r”,
đây là hình thức đặc thù của “phức tạp kiến
cấu lưỡng đao luận pháp” (complex constructive dilemma)
trong luận lý Tây phương.
4/
MỤC
ĐÍCH CỦA BIỆN CHỨNG PHÁP
Mục đích của biện chứng pháp là bác bỏ, chứng minh
sự sai lầm của những quan điểm của những người
khác chứ không phải chứng minh bất cứ quan điểm nào
của chính chúng ta. Chỉ có kẻ nào đề xướng một
quan điểm mới thật sự cần chứng minh nó với đối
tượng mà họ muốn thuyết phục, người không có quan
điểm để đề xướng thì chẳng cần phải làm như
vậy. Trong Hồi Tránh Luận (Vigrahauyàvartanì) của Long
Thọ (thi cú 29) ngài đã phát biểu một cách rất rõ
ràng, không một ai có thể tìm thấy khuyết điểm của
Trung Quán phái (Màdhyamika) bởi vì ngài chưa từng đề
ra bất cứ quan điểm nào của chính mình.
Yadi kàcana pratijnà syàn me tata eva me
bhaved dosah.Nàsti ca mama pratijnà tasmàn naivàsti me dosah.
“Nếu tôi đề xướng một luận đề của chính tôi,
thì bạn
có thể tìm thấy được khuyết điểm của nó. Nhưng
vì
tôi không có luận đề để đề xướng, nên vấn đề
chứng minh sự sai lầm không có lý do để nẩy sanh.”
Biện chứng pháp nhằm đả phá những kẻ giáo điều
và những kẻ duy lý chủ trương một quan điểm cố định
về thực tại. Bằng cách vạch trần sự rỗng tuếch
trong lý luận của họ và những kết quả tự mâu thuẫn
của những giả thiết của họ, Long Thọ muốn bác bỏ
những xác quyết của Lý Trí rằng nó nắm vững được
Thực Tại. Nguyệt Xứng (Candrakìrti) trong đoạn văn dưới
đây, đã diễn đạt một cách rất minh xác loại lập
trường này:
Nirupapttika – paksàbhyapagamàt
svàtmànam eva ayam kevalam
visamvàdayan na saknoti paresàm
niscayam àdhàtum iti. Idameva asya
spastataram dùsanam yaduta
svapratijnàtàrthasàdhanàsàma-rthyam iti.
“Bằng giả thiết không hợp lý của họ, đối phương
chỉ
tự mâu thuẫn với chính mình, và không thể thuyết
phục
người khác. Điều gì có tính cách tự cáo buộc
rõ ràng
hơn là sự kiện đối thủ không thể chứng minh những
luận cứ trên căn bản mà người đó đã đề xướng
lý luận
của mình.”
(Minh Cú Luận p. 6)
Long Thọ đã thẳng tay phá hủy mọi ý kiến triết học
trong thời đại của ngài, chẳng phải vì ngài lấy làm
thích chí về hành động đó, mà là vì ngài có một
mục tiêu thích đáng. Một cách tiêu cực, biện chứng
pháp có ý chứng minh rằng Thực Tại không thể được
đo lường bằng một cái thước tư tưởng tản mạn.
Nhưng, không phải chỉ có vậy. Nó có một số ngụ ý
tích cực.
Thứ nhất, hiện tượng hoặc thực tại nghiệm thì
thuộc lãnh vực tương đối, trong đó một thực thể
là “không” (sùnya) hoặc “vô tự tánh” (nis-svabhàva),
nghĩa là thực thể đó không có thực tại độc lập
hoặc sự vô điều kiện.
Thứ nhì, người ta có thể hiểu được Thực Tại
bằng cách vượt lên một giai tầng cao hơn tư tưởng
luận lý, đó là giai tầng của Bát Nhã (prajna).
Thứ ba, không thể diễn tả Thực Tại bằng thứ ngôn
ngữ “có”, “không có” theo lối suy tưởng nhị phân.
5/
SỰ
ỨNG DỤNG CỦA BIỆN CHỨNG PHÁP
Long Thọ đã nghiên cứu một cách nghiêm túc tất cả
những lý thuyết triết học của các nhà tư tưởng
cùng thời đại với ngài.
Họng súng Biện chứng pháp của ngài đã nhắm vào
những khái niệm như tương quan nhân quả, động và tĩnh,
các lãnh vực cảm giác (àyatanas), các uẩn (skandhas),
tự ngã (àtman), v.v...
Stcherbatsky đã chỉ đề cập đến lời phê bình của
Long Thọ đối với tương quan nhân quả và niết bàn,
bởi vì chúng là những điều trọng yếu nhất. Vì
thế, chúng ta cũng chỉ quan tâm nghiên cứu hai trọng điểm
này. Ở đây, chúng ta sẽ thảo luận trước về sự
thâm cứu này của Long Thọ đối với quan niệm nhân quả,
và đối với sự nghiên cứu của ngài về niết bàn
thì sẽ được thảo luận dưới một tiêu đề khác.
Trước tiên Long Thọ đã phê bình về luật nhân quả,
bởi vì nó là vấn đề triết học tối trọng yếu
trong thời đại của ngài.
6/
THÂM
CỨU VỀ QUAN HỆ NHÂN QUẢ
Long Thọ đã ứng dụng bốn mệnh đề chính yếu của
ngài, ngài cho rằng chỉ có thể có 4 loại quan điểm
về luật nhân quả, đó là (1) quan điểm sanh ra; (2) parata
utpattih, tức là do vật khác sản sanh ra; (3) dvàbhyàm
utpattih, tức là do cả hai (chính mình và vật khác) mà
sanh ra; (4) ahetuta utpattih, tức là vô nguyên nhân mà sanh
ra, ngẫu nhiên mà sanh ra.
1)
Svata Utpattih (do tự thân mà sanh)
Có nghĩa nguyên nhân và kết quả là đồng nhất, sự
vật được sanh ra bởi tự thân. Khi Long Thọ phê bình
về quan điểm của sự quan hệ nhân quả tự sanh, thì
rõ ràng trong tâm nghĩ rằng đó là “nhân trung hữu
quả luận” (Satkàyavàda) của Số Luận (Sàmkhya).
Sự phê bình của Trung Quán phái đối với lý luận
này có thể tóm lược như sau:
i. Nếu trong nhân đã có quả, thì sự sanh sản không có
mục đích. Số Luận có thể cho rằng tuy quả có thể
hiện hữu trong nhân, sự biểu lộ (abhivyakti) của nó
là
điều mới mẻ. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng
quả là một thực chất mới, mà chỉ có nghĩa nó
là một
hình thức hoặc trạng thái mới của thực chất. Nhưng
sự sai biệt trên hình thức hoặc trên trạng thái này
đi
ngược lại sư đồng nhất của tầng lớp bên dưới.
ii. Nếu bảo rằng nguyên nhân là một phần hiện thực,
và một phần tiềm tàng, thì chẳng khác nào thừa
nhận
rằng trong cùng một sự vật đã có tính chất đối
phản.
iii. Nếu nguyên nhân là một cái gì hoàn toàn tiềm
tàng, thì
tự nó không thể trở thành hiện thực khi không có
sự
trợ giúp của ngoại lực. Dầu không thể tự nó chảy
ra từ
hạt giống ngoại trừ được ép bởi một máy ép dầu.
Nếu
nó cần phải nhờ đến sự trợ giúp của ngoại lực
thế thì
đã không có cái được gọi là “svata utpattih,” hoặc
“do
tự thân mà sanh ra”. Điều này có nghĩa là phải loại
bỏ
hẳng thuyết “satkàryavada” (nhân trung hữu quả luận).
iv. Nếu nguyên nhân và kết quả là đồng nhất, thì
không thể
phân biệt được cái nào là cái đã tạo sanh cái kia.
Vì thế, quan điểm cho rằng nhân quả đồng nhất (nhân
trung hữu quả luận) có đầy dẫy sự tự mâu thuẫn.
2)
Parata Utpattih (do vật khác mà sanh)
Có nghĩa là nguyên nhân và kết quả là khác nhau. Quan
điểm này được gọi là “nhân trung vô quả luận”
(asatkàryavada), là chủ trương của những người thuộc
thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvàstivàdins) và Kinh
Lượng Bộ (Santràntikas), hoặc của tín đồ Phật Giáo
Nguyên Thủy (Hinayanists) nói chung. Khi Long Thọ phê bình về
quan điểm của loại nhân quả khác tánh chất này, rõ
ràng là ngài đã nhắm đến những bộ phái đó.
Sự phê bình về “nhân trung vô quả luận” của ngài
gồm có những trọng điểm dưới đây:
i. Nếu nhân và quả khác nhau thì không một liên hệ
nào
giữa nhân và quả có thể tồn tại. Trong trường hợp
đó
thì bất cứ thứ gì cũng có thể là sản phẩm của
bất cứ
thứ gì khác.
ii. Những người thuộc phái Nguyên Thủy cho rằng nhân
sau khi sanh ra quả thì không còn tồn tại. Nhưng giữa
nhân và quả có một loại quan hệ nhân quả “đương
nhiên” (exhypothesi). Nhân và quả cùng tồn tại
thì chúng mới có thể liên hệ với nhau. Nếu chúng
không có liên hệ thì quan hệ nhân quả trở thành vô
ý nghĩa.
iii. Những người thuộc phái Nguyên Thủy tin rằng quả
đã
được sanh ra bởi sự kết hợp của những yếu tố.
Bây
giờ sự kết hợp của những yếu tố này lại đòi
hỏi phải
có một yếu tố nữa, và kế đó sự kết hợp mới
này lại sẽ
đòi hỏi một yếu tố khác. Điều này sẽ dẫn đến
tình trạng
“vô cùng hậu thoái” (regressus infinitum)
3)
Dvàbhyàma Upattih (do cả hai mà sanh ra)
Lý luận này tin rằng quả và nhân vừa giống nhau lại
vừa khác nhau. Đây là sự kết hợp của “Nhân trung
hữu quả luận” và “Nhân trung vô quả luận”, nên
đã bao gồm sự mâu thuẫn của cả hai. Ngoài ra, loại
lý luận này đã bao trùm thực tại với hai loại đối
lập tánh (đồng nhất và khác nhau) cùng một lúc.
4)
Ahetutah Utpattih (vô nguyên nhân mà sanh ra, ngẫu nhiên mà
sanh)
Lý luận này cho rằng sự vật đã sản sanh một cách
ngẫu nhiên, không có nguyên nhân. Những người tin vào
Tự tánh luận (Svabhàvavàdins) – là những người theo
chủ nghĩa tự nhiên (naturalists) hay chủ nghĩa hoài nghi
(sceptics) – tin vào lý luận này. Loại lý luận này
nếu không nêu ra được lý do thì nó chẳng khác nào
một lý luận độc đoán hoàn toàn hoang đường. Và
nếu có một lý do được nêu ra thì chẳng khác nào
nó đã thừa nhận một nguyên nhân.
Sau khi vạch rõ bản chất mâu thuẫn của các quan điểm
trên, Long Thọ đã đi tới kết luận rằng sự quan hệ
nhân quả chỉ là một loại kiến tạo tư tưởng được
đặt trên trật tự khách thể của sự sinh tồn. Theo
cách nói của triết gia Kant thì quan hệ nhân quả chỉ
là một thứ phạm trù tư tưởng.