CHƯƠNG
II
8.
ĐÓNG GÓP TÍCH CỰC CỦA LONG THỌ
Khi đọc “Trung Quán Tụng” (Madhyamaka Kàrias) lần đầu,
có vẻ như Long Thọ chỉ là một người tiêu cực không
thể thỏa hiệp. Nhưng, như Tiến Sĩ K. Venkata Ramanan đã
đề ra một giải thích tuyệt diệu: Trong “Đại Trí
Độ Luận” (Mahàprajnàpàramità Sàstrà) Long Thọ trình
bày những quan điểm tích cực của ngài về vấn đề
Thực Tại – một vấn đề gây nhiều tranh luận.
1/ Cả “Trung Quán Tụng” (Madhyamaka Kàrias) và “Đại
Trí Độ Luận” (Mahàprajnàpàramita Sàstra) đều coi
vô tự tánh (naihsvàbhàvya), hay hạn định tánh, tương
đối tánh như là sự xâm nhập căn bản của “Không
Tánh” (Sùnyata) xét theo bản chất thế tục của sự
vật, nhưng Đại Trí Độ Luận vạch ra rõ ràng hơn Trung
Quán Tụng về ngụ ý của vô thực thể tánh của sự
vật thế tục. Nó cho rằng khuynh hướng của con người
muốn coi tương đối như tuyệt đối bắt rễ từ khát
vọng thầm kín ban sơ trong thâm tâm con người muốn đạt
được sự tuyệt đối (dharmaisanà). Do Vô Minh thâm căn,
khát vọng này bị áp dụng sai lầm. Loài người bám
víu vào tương đối và coi nó như là tuyệt đối cho
nên không thể tránh khỏi bị thất vọng. Nhưng nếu họ
bám vào sự khác biệt của tuyệt đối và coi chúng
như là “tuyệt đối riêng rẽ” thì họ lại vướng
vào lỗi lầm “bám víu” – theo một hình thức khác.
Long Thọ đã cố gắng vạch ra cho người ta thấy cái
chân lý sâu xa rằng điều kiện vô hạn định và sự
thể tuyệt đối không những chỉ là căn cơ của điều
kiện hạn định hay tương đối mà thật ra nó là bản
chất của chính tương đối, chứ không phải là một
thực thể khác biệt với tương đối.
2/ Tuyệt đối, vô hạn định không những là bản chất
tối hậu của những thực thể mà còn là bản chất
tối hậu của con người.
Chính vì như thế, sự khao khát thực tại của con người
càng có ý nghĩa thâm sâu hơn. Với tư cách là một
cá thể, con người đương nhiên có liên hệ với toàn
thể thế giới, với các hiện tượng, với các “uẩn”
(skandhas) của y, tới hoàn cảnh ngẫu nhiên và hạn định,
nhưng y không bị tách ra khỏi cái vô hạn định – mà
thật ra vô hạn định chính là bản chất tối hậu của
bản thể y, và y không bị trói buộc vĩnh viễn vào
sự phân hóa của mình. Hoàn toàn mải mê với sự trình
diễn thoáng qua của những thực thể hạn định, và
không biết đến ý nghĩa nội tại của bản thể mình,
y nắm lấy tương đối và coi nó như là tuyệt đối
và do đó y không thể tránh khỏi bị vướng mắc vào
sự đau khổ. Một khi y tỉnh ngộ đối với tính cách
hạn định (sùnyata) của sự vật hạn định, lúc đó
ý thức về giá trị của y sẽ thay đổi. Y trở thành
một người đã biến đổi và lúc đó sự khao khát
tuyệt đối (dharmaisana) của y, lòng khao khát mong mỏi Thực
Tại của y sẽ tìm thấy ý nghĩa và nó được mãn
nguyện.
Trung Quán tụng nhấn mạnh sự không đầy đủ, sự không
toàn vẹn, sự thiếu thực chất của các dharmas (pháp,
thực thể) và pudgala (tự ngã). Đại Trí Độ Luận
thì nhấn mạnh ý nghĩa của ý thức về sự bất toàn
vẹn này, và cho rằng chính sự ý thức sắc bén về
sự không đầy đủ này thổi cho tia lửa nhỏ bé của
sự khao khát Thực Tại và tuyệt đối trong con người
bùng cháy thành ngọn lửa sống động của chân lý.
3/ Thật ra, mọi căn bản khái niệm chủ yếu của triết
học Long Thọ đều nằm trong Trung Quán Tụng (Kàrikà),
nhưng chúng bị làm lu mờ bởi tính cách tiêu cực của
đường lối diễn đạt.
Tất nhiên phải là như thế, không thể nào có thể
khác hơn, bởi vì trong Trung Quán Tụng Long Thọ thủy chung
vẫn sử dụng kỹ thuật “thành phản chất nan luận
chứng” (prasangavàkya), cách lý luận theo qui mậu luận
chứng. Sự quan tâm chính yếu của ngài là vạch trần
những sai lầm xem tương đối tánh (nihsvabhàva) như là
tuyệt đối tánh (sasvabhàva). Ngay cả trong Trung Quán tụng
Long Thọ đã xác định một cách minh bạch rằng vật
bị hạn định đã hiển thị thành vật vô hạn định
như là cơ sở tối hậu của nó.
“Cái có bản chất đi và đến, sanh và diệt trên phương
diện hữu hạn, thì cũng chính là Niết Bàn trên phương
diện vô hạn định.”
(XXV, 9)