CHƯƠNG
III
9.
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NGUYÊN THỦY
VÀ
ĐẠI THỪA
Có vài khía cạnh của triết học Phật Giáo và tôn
giáo mà trong đó có sự khác biệt giữa Đại Thừa
và Nguyên Thủy. Những gì được trình bày dưới đây
chủ yếu là nhắm vào Trung Quán Phái (Madhyamaka) của
Đại Thừa.
1/
Sự khác biệt trong cách giải thích về “Duyên Khởi”
(Pratityasamutpàda)
Thuyết Duyên Khởi là một học thuyết vô cùng trọng
yếu trong Phật Giáo. Nó là luật nhân quả của cả vũ
trụ và mỗi một sinh mạng của cá nhân. Nó quan trọng
vì hai quan điểm. Thứ nhất, nó đưa ra một khái niệm
rất rõ ràng về bản chất vô thường và hữu hạn
của mọi hiện tượng. Thứ hai, nó cho thấy sanh, lão,
bệnh, tử và tất cả những thống khổ của hiện
tượng sinh tồn tùy thuộc vào những điều kiện như
thế nào, và tất cả những thống khổ này sẽ chấm
dứt như thế nào khi vắng mặt các điều kiện đó.
Chúng ta đã thấy quan điểm của Trung Quán Phái về
nhân quả. Vì duyên khởi là luật nhân quả phổ quát,
Trung Quán Phái đã thi hành một cuộc khảo sát có tính
cách phê phán về luật này.
Sự giải thích của Trung Quán Phái về luật này có
nhiều điểm khác với sự giải thích của phái Nguyên
Thủy. Chữ “duyên khởi” (Pratìttyasamutpàda) thường
được dịch sang tiếng Anh là “conditioned co-production”
(đồng sản sanh có điều kiện) hoặc “interdependent origination”
(tùy thuộc lẫn nhau mà sanh ra).
Theo Nguyên Thủy thì (Pratityasamutpàda) có nghĩa là “pratipratiityànàin
vinàsinàin samutpadah” tức là “sự xuất hiện nhanh
chóng ngắn ngủi, vô thường của sự vật. Theo phái
Nguyên Thủy thì “pratìya-samutpàda” là luật nhân quả
chi phối sự sanh và diệt của thành tố (các pháp -
dharmas) khác nhau.
Theo Trung Quán Phái thì lấy sự sanh và diệt của các
thành tố của sự tồn tại (dharmas) để giải thích
duyên khởi (pratiyasamutpàda) là điều không chính xác.
Theo Nguyệt Xứng (Candrakìrti) thì:
“Hetupratyayàpekso
chàvànàmutpàdah pratĩyasamutpàdàrthah”
(Minh Cú Luận, p. 2)
Nghĩa là:
Duyên khởi là sự biểu lộ của các thực thể tương
quan với các nguyên nhân và các điều kiện (duyên).
Phật giáo Nguyên Thủy đã giải thích duyên khởi như
là một tiến trình thời gian ngắn ngủi của những
thực thể để đích thật mà giữa chúng có một
chuỗi tương quan nhân quả.
Theo Trung Quán Phái thì duyên khởi không có nghĩa là
nguyên lý của một tiến trình ngắn ngủi mà là nguyên
lý về sự lệ thuộc vào nhau một cách thiết yếu
của các sự vật. Nói tóm tắt, duyên khởi là nguyên
lý của tương đối tánh (relativity). Tương đối tánh
là một khám phá vô cùng quan trọng của khoa học hiện
đại. Những gì mà ngày nay khoa học khám phá thì Đức
Phật vĩ đại đã phát hiện từ hơn 2,500 năm trước.
Khi giải thích duyên khởi như là sự lệ thuộc lẫn
nhau một cách thiết yếu hoặc tánh cách tương đối
của mọi sự vật, Trung Quán Phái đã bác bỏ một tín
điều khác của Phật giáo Nguyên Thủy. Phật giáo Nguyên
Thủy đã phân tích mọi hiện tượng thành những thành
tô (dharmas), và cho rằng những thành tố này đều có
một thực tại riêng biệt của chúng.
Trung Quán Phái thì cho rằng chính thuyết duyên khởi
đã tuyên bố rõ tất cả các pháp đều tương đối,
chúng không có cái gọi là thực tại tánh (svabhàva)
riêng biệt của chính mình. “Nis-svabhàvatva” (vô tự
tánh, tương đối tánh) đồng nghĩa với không tánh (sùnyatà),
nghĩa là không có sự tồn tại đích thực và độc
lập. Duyên khởi hoặc sự phụ thuộc lẫn nhau có nghĩa
là tương đối tánh, và tương đối tánh thì bao hàm
ý nghĩa phi thực tại tánh (sùnyata) của những thành
tố riêng biệt.
Nguyệt xứng nói rằng:
Tadatra – nirodhàdyasta – visesana
– visistah pratityasamutpàdah sàstràbhidheyàrthah
(Minh Cú Luận, p. 2)
“Chủ đề hoặc khái niệm chủ yếu của luận án
này
là tính đặc thù của tám điểm phủ định."
Sự quan trọng hàng đầu của duyên khởi là vạch ra rằng
sự tồn tại của tất cả mọi hiện tượng và của
tất cả thực thể trên thế gian này đều hữu hạn,
chúng không có sự tồn tại đích thực và độc lập.
Như Long Thọ trình bày, Nahi svabhàvobhàvànàm pratyayàdisu
vidyate (Trung Quán Tụng, M. K., 1.5) – “Không có sự hiện
hữu độc lập của những thực thể trong các điều
kiện hạn định (các duyên)”. Và như Tiến Sĩ E. Conze
đã giải thích:
“Tất cả nội dung cụ thể đều tùy thuộc vào tác
động hỗ trương của vô số điều kiện hạn định
(duyên).”
(Buddhist Thought in India, p. 240)
Long Thọ đã tổng lượt về duyên khởi như sau:
Apratìtya samutpanno dharmah kascinna
vidyate. Yasmăt tasmàt asùno hi dharmah
kascinna vidyate
(Trung Quán Tụng, 24, 19)
“Bởi vì không có yếu tố nào của sự sinh tồn
(dharma) được thể hiện mà không có các điều kiện,
cho nên không có pháp (dharma) nào chẳng là không
(sùnya) – nghĩa là không có sự tồn tại độc lập
đích
thật”.
Duyên khởi trở thành tương đương với không tánh, duyên
khởi chính là không tánh (sùnyatà) hoặc tương đối
tánh. Long Thọ đã nói:
Yah pratityasamutpàdah sùnyatàm tàm
pracaksmahe
(Trung Quán, 24, 18)
“Những gì được gọi là duyên khởi chúng ta gọi đó
là
không tánh”.
Không (sùnya) hoặc không tánh (sùnyatà) là khái niệm
trọng yếu nhất của Triết Học Trung Quán. Vì vậy,
chúng ta sẽ xét đến trong một tiêu đề riêng nhằm
nghiên cứu, tìm hiểu thêm về nó.
Tuy nhiên, trong Trung Quán Tụng (Karika), mục đích chủ yếu
của Long Thọ là ngài muốn dọn đường cho việc trình
bày triết lý tích cực của ngài, nghĩa là vai trò
của trí tuệ siêu việt (prajnà) trong việc lãnh hội
những trình độ khác nhau của sự hiểu biết.
Trong Đại Trí Độ Luận (Sàska) ngài đã giải thích
một cách chi tiết về trí tuệ siêu việt (prajnà).
Vả lại, trong Trung Quán Tụng không có sự đề cập trực
tiếp về “dharmaisanà” (sự khao khát bí ẩn trong lòng
người đối với thực tại), nhưng trong Đại Trí Độ
Luận thì “dharmaisanà” đã được lập đi lập lại
rất thường xuyên. Trong Trung Quán Tụng, ít có sự mô
tả nào về quá trình hướng đến mục đích; nhưng
trong Đại Trí Độ Luận thì điểm này được mô tả
một cách sinh động.
Trong Trung Quán Tụng, chỉ có sự ám chỉ gián tiếp rằng
cái vô hạn định là thực thể nội tại của cái hữu
hạn; nhưng trong Đại Trí Độ Luận thì điểm này đã
được chú trọng nhiều. Đặc biệt là chương luận
về “Chân Như” (Tathatà), nội tại của thực thể trong
mỗi cá thể đã được vạch rõ. Chương nói về “thực
tại tế” (bhùtakoti: không có vật tồn tại một cách
tuyệt đối) đã giải thích về kỹ xảo vô chấp (upàya).
Vì thế, Đại Trí Độ Luận và Trung Quán Tụng bổ
túc cho nhau.
2/
Sự khác biệt trong khái niệm về Niết Bàn (Nirvàna)
Đại Thừa và Nguyên Thủy có những quan điểm giống
nhau về Niết Bàn như sau:
1)
Niết Bàn là cảnh giới không thể diễn tả bằng ngôn
ngữ. Nó không có nguồn gốc, không thay đổi, không hư
hoại và bất tử (amrta).
2)
Niết Bàn phải được nhận thức trong nội tâm. Sự
nhận thức này chỉ có thể thực hiện khi đoạn tuyệt
hoàn toàn mọi khao khát về dục vọng.
3)
Trong Niết Bàn, bản ngã cá nhân chấm dứt, không còn
tồn tại. Muốn vào Niết Bàn chỉ có cách duy nhất
là phải đoạn tuyệt bản ngã cá nhân.
4)
Niết Bàn là một cảnh giới tịch mịch (sama hoặc upàsama)
siêu việt qua mọi lý giải.
5)
Niết Bàn cung cấp sự an bình vĩnh cữu.
Chữ “Nirvàna” (Niết Bàn) có nghĩa là “đoạn diệt”
và từ đó đưa dẫn đến tâm thức “thanh tịnh”.
Trong kinh điển Phật giáo, có bốn cách để mô tả
Niết Bàn, đó là (1) cách phủ định, (2) cách khẳng
định, (3) cách nghịch lý, và (4) cách tượng trưng.
1.
Cách phủ định: Mô tả theo lối phủ định là phương
thức thường thấy nhất. Niết Bàn là (a) bất tử
(amrta), (b) bất biến, (c) bất diệt (acyuta), (d) vô biên
(ananta), (e) bất tác, (f) bất sanh, (g) chưa sanh, (h) bất
thệ, không bị hủy hoại (apalokina), (i) vô tạo (abhùtam),
(j) vô bệnh, (k) bất lão, (l) bất đọa luân hồi, (m)
vô thượng (anuttaram), (n) diệt khổ (duhkha nirodha), (o) giải
thoát tối hậu (apavagga).
2.
Cách khẳng định: Niết Bàn là (a) thanh tịnh (sama hoặc
upasama), sau đây xin trích dẫn kệ văn của “Kinh Đại
Bát Niết Bàn” (Mahàparinirvàvasùtra) đã làm sáng
tỏ khái niệm:
Antityà
vata samskàrà utpàda – vyaya – dharminah / utpadya hi nirudhyante
tesàm vyapasamas sukham.
“Tất cả mọi thứ hữu hạn đầu là vô thường. Bản
chất
của nó là sanh và diệt. Nó sanh ra rồi lại bị hủy
diệt.
Sự đoạn diệt của nó đem lại thanh tịnh và an lạc.”
(a)
Niết Bàn là “sama” hoặc “upasama” có nghĩa là một
cảnh giới tịch tịnh, không có dục vọng và thống khổ.
(b)
Niết Bàn là Cực lạc – Nibbànam paramain sukham “Niết
Bàn là cảnh giới cực lạc tối thượng”
(c)
Niết Bàn là sambodhi (tam bồ đề) hoặc prajnà (bát
nhã, trí huệ siêu việt).
(d)
Niết Bàn là jnàna (chánh trí) hoặc vinnànam – ý thức
thuần túy trong sáng, hoàn toàn tinh khiết, minh mẫn.
(e)
Niết Bàn là ksamam (an lạc).
3.
Cách nghịch lý (Paradoxical): Phương thức mô tả này thường
thấy nhiều nhất trong Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajnàpàramità)
hoặc trong kinh điển Đại Thừa. Niết Bàn trụ trong cảnh
giới vô sở trụ. Con đường duy nhất để đạt đến
mục đích này là liễu giải một cách rốt ráo rằng
chung cục thì không có bất cứ mục đích nào để đạt
đến. Niết Bàn là thực tại mà thực tại lại là
không tánh (sùnya).
4.
Cách tượng trưng: Sự mô tả theo cách tượng trưng khác
với cách mô tả nghịch lý, nó tránh né lối diễn
tả trừu tượng và sử dụng những hình ảnh cụ thể
để thay thế. Từ quan điểm này, Niết Bàn là: (a)
chỗ trú ẩn mát mẻ, (b) hòn đảo trong vùng nước lụt,
(c) bờ bến xa xôi, (d) thành phố thánh thiện, (e) nơi
lánh nạn, (f) nơi che đậy, (g) nơi dung dưỡng an toàn.
Một câu hỏi được nêu ra ở đây là có phải Niết
Bàn chỉ là trạng thái biến đổi của trí tuệ hay
nó chỉ là một chiều (dimesion) khác của thực tại.
Chữ Niết Bàn đã được dùng cho tất cả trạng thái
tâm lý biến đổi lẫn một trạng thái siêu hình học.
Trong kinh điển Phật Giáo đã có đầy dẫy những diễn
đạt cho thấy rằng Niết Bàn là một trạng thái biến
đổi của nhân cách và ý thức. Sự biến đổi này
được mô tả bằng những từ ngữ phủ định, như đoạn
diệt ái dục (tanhà) và chấp mê (àsavas), nhưng cũng
có khi dùng từ ngữ khẳng định, như sản sanh trí huệ
siêu việt (prajnà hoặc sambodhi) và an bình (sànti).
Mặc dù đặc biệt nhấn mạnh vào trạng thái tâm lý
biến đổi, nhưng cũng đã có những phát biểu nói
rằng Niết Bàn có một loại trạng thái siêu hình, đó
là một chiều khác của thực tại.
Chỉ cần hai trích dẫn cũng đủ để nói rõ điểm
này.
Kinh điển nói rằng Đức Phật đã nói về Niết bàn
như sau:
“Đó là một thứ tồn tại bất sanh, bất hóa, bất
thành,
bất hòa hợp; vì nếu không có cái bất sanh, bất
hóa,
bất thành, bất hòa hợp này, thì hiển nhiên là không
thể trốn tránh cái thế giới sanh, hóa, thành, hòa
hợp
này.”
(Udàna, Tự Thuyết Kinh, VIII, 3)
Điều này cho thấy Niết Bàn không phải là sự tận
diệt, mà là tiến vào một chiều khác của thực tại.
Đã có một số người cố gắng lý giải nó như là
trạng thái biến đổi của nhân cách. Luận lý của từ
ngữ không cho phép cách giải thích như thế.
Tuy nhiên, có một phát biểu khác trong “Tự Thuyết
Kinh” (Udàna) mà người ta không thể dùng kỹ xảo của
ngôn ngữ để giải thích như là một sự biến đổi
nhân cách. Đoạn kinh đó như sau:
Atthi bhikkhave tad àyatanain, yattha
n’eva pathavi na àpo na tejo va vàyo na
àkàsànancàyatanam,
vinnànàncàyatanain na
àkìncannàyatanam na
nevasannànàsannànànnàyatanam
nàyain loko na paraloko ubho
candimasùriyà, tad aham bhikkhave
n’eva àgatim vadami na gatim, na
thitim na cutim na upapa ttim
appatittham appatittham –
appavattam anàrammanam eva tam, ès
ev’anto dukkhassà’ ti
(Tự Thuyết Kinh, 80)
“Có một cảnh giới không phải là đất không phải
là
nước không phải là lửa không phải là khí; nơi đó
không phải là cảnh giới không gian vô biên, cũng
không phải cảnh giới tâm thức vô biên, cũng không
phải là hư vô, cũng không phải do quan niệm cấu
thành, cũng không phải do phi quan niệm cấu thành.
Cảnh giới đó không phải đời này, không phải đời
sau, không phải cả hai, cũng không phải mặt trăng
hay mặt trời. Ta bảo không phải từ đó mà tới, cũng
không đi tới đó. Nó không lâu bền miên viễn mà
cũng không suy vi, hủy hoại; nó không có khởi thủy
mà cũng không có sự thành lập; nó là vô quả mà
cũng vô nhân; đây đích thật là chung kết của khổ
đau.”
Đoạn văn dài trích dẫn trên đây không còn để lại
một chút nghi ngờ nào rằng nó đề cập tới Niết
Bàn như là một chiều khác của thực tại. Thật ra,
Niết Bàn là cảnh giới không thể diễn đạt bằng
ngôn ngữ.
Trong “Tương Ưng Bộ” (Samyutta Nikàya) (1069-76) ghi lại
một đoạn đối thoại có liên quan đến Niết Bàn giữa
Upásiva và Đức Phật. Trong câu chuyện đàm thoại đó,
hai lời dạy sau đây của Đức Phật thật là rất đáng
được chú ý:
Accì yathà vàtavegena khitto
Attham paleti, na upeti sankham /
evam muni nàmakayà vimutto
attham paleti, na upeti sankhàm.
“Như ngọn lửa khi bị gió thổi tắt thì đi vào nơi
yên
nghỉ và biệt tích; cũng thế, bậc thánh hiền đã
thoát
khỏi danh và thân xác thì đi vào nơi yên nghỉ và biệt
tích.”
Atthan – gatassa na pamànam atthi;
yena namvajju, tam tassa n’ atthi;
sabbesu dhammesu samùhatesu
samùhatà vàdapathà pi sabbeti
“Kẻ đã yên nghỉ thì không còn gì để đo lường;
kẻ đó
giữ thứ gì có thể đặt tên. Khi tất cả các pháp
(dharmas) đã bị phế bỏ, thì tất cả mọi con đường
của ngôn từ cũng bị phế bỏ.”
(Theo bản dịch tiếng Anh của Conze)
Cả Nguyên Thủy và Đại Thừa đều có những mô tả
đẹp đẽ hầu như giống nhau về cảnh giới Niết Bàn.
Chỉ có thể sử dụng bản ngã đã chết của chính
mình làm bàn đạp thì chúng ta mới có thể thăng lên
Niết Bàn. Như Suzuki đã nói:
“Niết Bàn theo Phật Giáo không phải chỉ có nghĩa là
sự tận diệt hoàn toàn của ý thức, cũng không phải
là sự dập tắt tạm thời hay vĩnh viễn sự suy tưởng,
như một số người đã nghĩ mà là sự tận diệt
ý niệm về bản ngã và tất cả những khát vọng phát
xuất từ quan niệm sai lầm này.”
(Outlines
of Mahàyàna Buddhism:
“Khái
Luận Về Phật Giáo Đại Thừa” (p. 50-51)
Và bây giờ chúng ta quay sang thảo luận về sự khác
nhau giữa Đại Thừa và Nguyên Thủy trong việc giải thích
về Niết Bàn.
(1)
Nguyên Thủy cho rằng Niết Bàn là thường hằng (nitya),
cực lạc (sukha). Trung Quán Phái thì cho rằng không thể
có sự xác quyết nào về Niết Bàn.
(2)
Nguyên Thủy cho rằng Niết Bàn là thứ có thể thụ
đắc. Trung Quán Phái thì cho rằng Niết Bàn là thứ
không thể thụ đắc.
Long Thọ đã mô tả Niết Bàn qua những từ ngữ sau:
Aprahìnam asampràtam
anucchinam asàsvatam /
Aniruddham anutpannam etan
nirvànaim ùcyate.
(Trung Quán Tụng XXV, 3)
“Niết Bàn là cảnh giới không thể xả bỏ cũng không
thể thủ đắc; nó không phải là một thứ đã bị
tận diệt,
cũng không phải là một thứ vĩnh cửu, nó không bị
hủy diệt cũng không được sản sinh ra.”
Nguyệt Xứng thì cho rằng:
Sarvaprapancopasamasivalaksanam, nirvànam
(Minh Cú Luận, p. 2)
Niết Bàn bao hàm sự đình chỉ tất cả mọi lời nói
về nó, bao hàm sự tịch mịch của sự sinh tồn về
mặt hiện tượng, và bao hàm sự đạt tới điều thiện
tối cao.
(3)
Phân Thuyết Giả (Vaibhàsika: Tên một bộ phái Phật Giáo)
cho rằng Niết Bàn là một thực thể hữu tánh (bhàva).
Long Thọ bảo rằng phái Nguyên Thủy tin rằng Niết Bàn
là vô điều kiện. Bảo nó là vô điều kiện (sasamskrata),
nhưng lại cho nó là thực thể hữu tánh thì đó là
điều tự mâu thuẫn, bởi vì người ta không thể tìm
thấy một thực thể hữu tánh mà lại hoàn toàn không
tùy thuộc vào những điều kiện hạn định (duyên).
Nếu nó không “hữu tánh” (bhàva), thì nó cũng không
thể là “vô tánh” (abhàva) (hoàn toàn đoạn diệt),
bởi chữ “vô tánh” (abhàva) là một chữ tương đối.
Chỉ có thể có “vô tánh” (abhàva) khi nào trước
đó đã có “hữu tánh” (bhàva). Vả lại, hoàn toàn
đoạn diệt (abhàva) là một sự kiện xảy ra trong thời
gian. Nếu dựa theo khái niệm này, thì Niết Bàn là
vô thường tạm bợ.
Nguyệt Xứng khi chú giải “Trung Quán Tụng” (Mathyamka
Karika), đã dẫn dụng từ trong “Thánh Bảo Hành Vương
Chánh Luận” (Àrya Ratnàvali) một câu có sự lưỡng
quan:
Nacàbhàvo’pi nitvànam kuta evàsya bhàvanà /
Bhàvàbhàvaparàmarsa – ksayo nirvànam ucyate //
(Minh Cú Luận, p. 229)
“Đã là Niết Bàn thì không phải là “vô tánh” (abhàva).
Làm sao bạn lại có khái niệm như thế? Thật sự Niết
Bàn là sự đoạn diệt hoàn toàn các loại so sánh như
“hữu tánh” (byava) hoặc “vô tánh” (abhava). Nó vượt
qua tương đối tánh của tồn tại và phi tồn tại.
Nguyệt Xứng đã đúc kết toàn bộ vấn đề nêu trên
như sau:
“Tatasca sarvakalpanà – ksayarùpam eva nirvànam”
(Minh Cú Luận, p. 229)
“Niết Bàn hoặc Thực Tại là cái gì giải thoát khỏi
tất
cả những gì do tư tưởng cấu thành”.
(4)
Phái Nguyên Thủy cho rằng Niết Bàn là sự đối nghịch
của Samsara (cõi “ta-bà”: thế gian, thế giới của những
hiện tượng). Long Thọ thì cho rằng không có sự khác
biệt giữa Niết Bàn và Samsara.
Na samsàrasya nirvànat kincid asti visésanam/
Na nirvànasya samsàeat kincid asti visésanam//
(Trung Quán Tụng, XXV, 19)
“Không có cái gì thuộc thế giới hiện tượng khác
biệt
với Niết Bàn, không có cái gì thuộc Niết Bàn lại
khác biệt với thế giới hiện tượng.”
Nirvànasya ca yà kotih kotih samsàranasya ca/
Na tayor antaram kincit susùksmam api vidyate//
(Trung Quán Tụng, XXV, 20)
“Cái gì là giới hạn của Niết Bàn thì cũng là
giới hạn
của thế giới hiện tượng, không có mảy may sai biệt
nào giữa hai nơi.”
Ya àjavamjavibhàva upàdàya pratiya và/
So’ pratitya anupàdàya nirvànam upadisyate//
(Trung Quán Tụng, XXV, 9)
Cái gì khi sở trụ, y chỉ hoặc khi là tương đối (upàdàya:
duyên khởi), hoặc khi lệ thuộc ̣(pratitya và), mà lưu
chuyển tới lui trong bản chất hữu hạn của nó, thì
cái đó được coi là Niết Bàn khi nó không có sở
trụ, hoặc khi nó không tương đối hoặc không lệ thuộc
– nghĩa là trong bản chất vô hạn định của nó.
Tóm lại, có hai đặc điểm nổi bật để phân biệt
sự bất đồng trong quan niệm về Niết Bàn giữa Trung
Quán phái và Nguyên Thủy phái:
(1)
Phái Nguyên Thủy coi một số pháp (dharmas, thành tố)
bị ô uế và hạn định là có thật, và đồng thời
cũng tin rằng một số pháp không bị ô uế (vô ô nhiễm)
và không bị hạn định là có thật. Theo nhận xét của
Nguyên Thủy thì Niết Bàn có nghĩa là một sự thay
đổi thực sự của những sự sinh tồn cá biệt, hữu
hạn (samkrta dharmas: hữu vi pháp) và ô uế (klésas) thành
những pháp vô hạn định (asamskrta) và không ô uế.
Nhưng, Trung Quán Phái thì cho rằng, Niết Bàn không có
nghĩa là một biến đổi theo thứ tự khách quan, mà
thật ra sự biến đổi chỉ là chủ quan. Chúng ta không
cần phải thay đổi thế giới, mà chỉ cần thay đổi
chính mình.
Nếu những ô uế (klésas) và hữu vi pháp (samskrta dharmas)
là có thật, thì trên thế gian này không có bất cứ
sức mạnh nào có thể thay đổi chúng được.
Vì thế, sự thay đổi chỉ là ở trong quan điểm của
chúng ta; nó là một loại biến đổi trên phương diện
tâm lý, chứ không phải là sự thay đổi trên phương
diện tồn hữu. Suzuki tóm tắt lập trường của Trung
Quán Phái về Niết Bàn như sau:
“Trên mặt lý thuyết, Niết Bàn là sự xua tan những
đám mây mù đang bay trên ánh sáng của tuệ giác siêu
việt (giác ngộ). Trên phương diện đạo đức, thì nó
là sự ức chế tính chấp ngã và sự thức tỉnh
của tâm từ ái (karunà). Trên phương diện tôn giáo, nó
là sự đầu hàng tuyệt đối (absolute surrender) của tự
ngã đối với ý muốn của pháp thân (dharmakàya).”
(Đại Thừa Phật Giáo Khái Luận, p. 369)
Có thể nói rằng trên mặt tồn hữu, nó chính là
Tuyệt Đối.
“Niết Bàn không phải là thứ gì có thể từ bỏ
hoặc thủ đắc, không phải là thứ có thể đoạn diệt
cũng không phải là thứ thường hằng; nó bất diệt
và cũng bất sanh.”
(Trung Quán Tụng, XXV 3)
Trong Tuyệt Đối hoặc Thực Tại không thể có bất
cứ biến hóa nào. Nó nhứt như hằng thường. Tất
nhiên sự biến hóa chỉ phát sanh trong chúng ta.
(2)
Tuyệt Đối và kinh nghiệm, bản thể và hiện tượng.
Niết Bàn và thế gian (samsàra) chẳng phải là hai nhóm
thực tại riêng rẽ đối nghịch nhau. Tuyệt Đối hoặc
Niết Bàn, nếu được nhìn qua tư duy (vikapla), thì chính
là thế gian (samsàra); mà thế gian, nếu được nhìn
từ lý hình hằng thường (sub specie aeternitatis), thì chính
là Tuyệt Đối hay Niết Bàn.
Nhân đây có thể nói rằng sở dĩ đã có bao nhiêu
sự rối trí liên quan đến Niết Bàn là vì cùng một
chữ “Niết Bàn” này đã được dùng để chỉ sự
thay đổi về tâm lý, do hậu quả của sự đoạn diệt
sự tham cầu ái dục và lòng tự ngã; đồng thời
nó cũng được dùng để chỉ Thực Tại hoặc Tuyệt
Đối trên phương diện tồn hữu. Điều cần chú ý
là Long Thọ, trong suốt 25 chương của “Trung Quán Tụng”
(Madhyàmaka Karìka), đã sử dụng chữ Niết Bàn để
chỉ thực Tại Tuyệt Đối, và sự phê bình của ngài
nhắm vào phái Nguyên Thủy là từ lập trường này.
3/
Sự khác biệt trong lý tưởng
Lý tưởng của Nguyên Thủy là cảnh giới A La Hán (Anh
ngữ: Arhantship hay Arhatship), còn lý tưởng của Đại Thừa
là Hạnh Bồ Tát (Bodhisattva). Nói một cách đơn giản
thì lý tưởng của phái Nguyên Thủy là giác ngộ cá
nhân, còn lý tưởng của phái Đại Thừa là giác ngộ
cho tất cả muôn loài.
Chữ “yàna” thường được phiên dịch như là con đường,
lối đi hoặc cỗ xe (“thừa”). Tỳ khưu Tăng Hộ (Sangharaksita),
trong “Phật Giáo Khái Luận” (Survey of Buddhism) đã dịch
“yàna” thành “career” (sự nghiệp) – có lẽ đây
là chữ hay nhất trong tiếng Anh tương đương với chữ
“yàna”.
Trong thời kỳ sơ khai của Phật Giáo đã có ba loại “yàna”
tức “Sràvaka-yàna” (Thinh Văn Thừa). “Pratyekabuddha-yàna”
(Độc Giác Thừa) và “Boddhisattva-yàna” (Bồ Tát Thừa).
Chữ “Sràvaka” (Chữ Pali: Sàvaka) có nghĩa là “kẻ
nghe giảng” (thinh văn), dùng để gọi những đệ tử
đã nghe Đức Phật thuyết pháp hoặc những đệ tử
của Đức Phật đang cầu đạt tới cảnh giới A La Hán.
A La Hán có nghĩa là bậc thánh giả đã đạt tới giác
ngộ. Chữ “A La Hán” (Arhat) có nguyên chữ là “xứng
đáng”. Trong một số kinh điển Phật Giáo, chữ này
còn được giải thích là “người đã giết (han) quân
địch (ari)” – tức là người đã diệt trừ những
ô uế (klèsas).
Chữ “Pratyekabuddha” (Chữ Pàli: Paccekabuddha) dùng để
chỉ một cá nhân đơn độc, không có bất cứ sự giúp
đỡ nào của ngoại tại nhưng có thể đạt tới cảnh
giới A La Hán. Ý nghĩa của chữ “pratyeka” là “riêng
tư”, “cá biệt”, “đơn nhất”, “đơn độc”. Bậc
Độc Giác không chia xẻ với kẻ khác sự hiểu biết
– mà họ đã phải gia công tìm kiếm – về những phương
tiện dùng để đạt tới Niết Bàn. Bậc Độc Giác
tin rằng những người khác, khi họ thực tế khắc nghiệt
của những khổ đau trên trần thế thúc đẩy, cũng
sẽ đi vào con đường thánh thiện – nhưng bậc Độc
Giác không bận tâm tới việc dạy bảo hoặc giác ngộ
họ.
Hai loại hành giả trên đây đại diện cho lý tưởng của
chủ nghĩa cá nhân. Họ coi sự giác ngộ là một thành
tựu về phương diện cá nhân chứ không phải về phương
diện xã hội hoặc thế giới.
Bậc “Boddhisattva” (Bồ Tát) (Chữ Pàli: Boddhisatta) tầm
cầu sự giác ngộ tối thượng không phải chỉ cho chính
mình mà cho tất cả chúng sanh. Mục đích của Bồ Tát
Thừa (Boddhisattvayàna) là đạt tới Phật Tánh tối thượng
(Supreme Buddhahood). Vì thế, Bồ Tát Thừa còn được
gọi là “Buddhayàna” (Chánh Đẳng Giác Thừa) hoặc
“Tathàgatayàna” (Như Laí Thừa).
Chữ “bodhi” có nghĩa là “trí tuệ hoàn hảo” hoặc
dịch sát hơn, “huệ giác siêu việt”, “giác ngộ
tối thượng”. Chữ “sattva” có nghĩa là “bản chất”.
Thật ra, chữ “bodhi” không thể phiên dịch, vì nó là
sự phản ảnh của ý thức, của pháp thân nội tại (dharmakaya)
trong con người. Bồ Tát là một con người đã có sẵn
bản chất chánh giác tối thượng, là bậc đang đi trên
con đường đạt tới trí huệ siêu việt. Bồ Tát là
một con người có khả năng thành Phật. Sự nghiệp
của bậc Bồ Tát kéo dài qua nhiều đời nhiều kiếp,
mỗi một đời đều thực hành lục độ (6 loại hoàn
hảo) và 10 giai đoạn (dasabhùmi) để cầu đắc quả vị
chánh giác tối hậu, đồng thời lấy sự phấn đấu
vĩ đại và tâm kiên nhẫn phi thường và không ngừng
tự hy sinh để mưu cầu sự tốt đẹp cho tất cả chúng
sinh.
Trong lòng Bồ Tát có “Bồ Đề Tâm” (bodhi-citta) và
“nguyện lực” (pranidhànabala). Bồ Đề Tâm có hai diện
hướng, đó là “trí huệ siêu việt” (prajnà) và
“đại từ bi” (karunà). “Nguyện lực” là sự quyết
tâm kiên định để cứu thoát tất cả chúng sanh. Những
điều ấy chính là 3 phương diện của pháp thân (dharmakaya),
phản ảnh trong ý thức tôn giáo của Bồ Tát. “Trí
huệ siêu việt” là từ ngữ cao nhất của phương diện
tri nhận, “từ bi”là từ ngữ cao nhất về tình cảm,
và “nguyện lực” là từ ngữ cao nhất về phương
diện ý chí của ý thức. Như vậy là Bồ Tát đã
phát huy tất cả những phương diện của ý thức.
Bồ Đề Tâm (Boddhicitta) là đặc điểm quan trọng nhất
của Bồ Tát. Trong cuốn “Đại Thừa Phật Giáo Khái
Luận” Suzuki đã lấy “Thuyết Giảng về Siêu Việt
Tánh của Bồ Đề Tâm” của Long Thọ làm cơ sở để
mô tả về Bồ Đề Tâm một cách chi tiết. Có thể
tóm lược như sau:
1)
Bồ Đề Tâm siêu việt tất cả mọi hạn định – Ngũ
Uẩn (skandhas), 12 xứ (àyatanas), 18 giới (dhàtus). Nó không
phải là cá biệt, mà là phổ quát.
2)
Từ Bi chính là bản chất của Bồ Đề Tâm, vì thế,
tất cả Bồ Tát coi Bồ Đề Tâm là lý do tồn tại
(raison d’être) của họ.
3)
Bồ Đề Tâm cư ngụ trong trái tim của bình đẳng tánh
(samatà) tạo nên những phương tiện giải thoát cho cá
nhân (upàya).
Bồ Tát phải trải qua 10 giai đoạn phát huy (dasa bhùmis),
tức là:
1)
Pramudità (giai đoạn hoan hỷ, hoan hỷ địa) – từ lý tưởng
hẹp hòi của Niết Bàn cá nhân đến lý tưởng cao đẹp
hơn để giúp cho tất cả chúng sanh giải thoát mọi vô
minh đau khổ.
2)
Uimada (giai đoạn ly cấu, ly cấu địa) – theo nghĩa phủ
định thì chữ này có nghĩa là “không bị ô uế”,
và theo nghĩa khẳng định thì là “tâm thanh tịnh”.
3)
Prabhàkari (giai đoạn phát quang, phát quang địa) – hiểu
thấu triệt tính cách vô thường của tất cả sự vật.
4)
Arcismati (giai đoạn diệm huệ, diệm huệ địa)- trong giai
đoạn này, Bồ Tát thực hành sự an nhiên tự tại và
đốt bỏ những thứ ô nhiễm và vô minh (àvaranas)
5)
Sudurjayà (giai đoạn nan thắng, nan thắng địa) – trong
giai đoạn này, Bồ Tát phát huy tinh thần bình đẳng
đồng nhất (samatà) và giác ngộ nhờ thiền định.
6)
Abhimukhi (giai đoạn hiện tiền, hiện tiền địa) – trong
giai đoạn này, Bồ Tát trực diện với Thực Tại, và
ý thức được sự đồng nhất của tất cả các hiện
tượng.
7)
Dùrangamà (giai đoạn viễn hành, viễn hành địa) –
trong giai đoạn này, Bồ Tát lãnh hội được ý kiến
thức có thể giúp họ giải thoát, đã chứng đắc
Niết Bàn nhưng vẫn còn chưa tiến vào vì còn bận
rộn dấn thân vào việc giúp cho tất cả chúng sanh đều
được giải thoát.
8)
Acalà (giai đoạn bất động, bất động địa) – trong
giai đoạn này, Bồ Tát trải qua “vô sanh pháp nhẫn”
(anutpattika – dharma - ksànti), tức là chấp nhận sự
bất sanh của tất cả các hiện tượng; ngài tri nhận
sự tiến hóa và thoái hóa của vũ trụ.
9)
Sàdhumti (giai đoạn thiện huệ, thiện huệ địa) – trong
giai đoạn này, Bồ Tát chứng ngộ được tri thức bao
quát mà trí huệ thông thường của nhân loại khó có
thể hiểu được. Bồ Tát có thể biết được những
dục vọng và tư tưởng của người khác, và có thể
giáo dục họ tùy theo khả năng của mỗi người.
10)
Dharmameghà (giai đoạn pháp vân, pháp vân địa) – trong
giai đoạn này, bậc Bồ Tát chứng ngộ được sự
minh tưởng một cách viên mãn, biết được sự huyền
bí của sự sinh tồn, và được tôn sùng là một bậc
hoàn mỹ. Đến đây, Bồ Tát đã thành Phật.
Lý tưởng của Nguyên Thủy là quả vị A La Hán, là sự
giác ngộ cá nhân. Lý tưởng của Đại Thừa là sự
nghiệp Bồ Tát (Bodhisattvayana). Theo Phật Giáo Đại Thừa
thì mục đích của Thinh Văn Thừa và Duyên Giác Thừa
là chỉ cầu đạt tới giác ngộ cá nhân, đó là một
lý tưởng hạn hẹp. Nhưng Bồ Tát thì lấy sự giác
ngộ của thế gian làm mục đích. Định mệnh của mỗi
cá nhân là trở thành Phật. Lý tưởng Bồ Tát của
Đại Thừa thì cao lớn hơn (mahà), và lý tưởng của
Nguyên Thủy thì thấp hơn (hìna).
Sự khác biệt giữa hai loại lý tưởng tinh thần này
còn được diễn tả bằng một cách khác nữa. Lý
tưởng của Nguyên Thủy là Niết Bàn. Lý tưởng của
Đại Thừa là trở thành Phật. Đối với Đại Thừa
thì Niết Bàn không phải là một lý tưởng tối cao;
lý tưởng tối cao là đạt tới Phật tánh, tức là
tuệ giác siêu việt (prajnà) và đại từ bi (karuna).
4/
Sự khác biệt về phương tiện để đạt tới Niết
Bàn
Nguyên Thủy cho rằng nhờ lãnh ngộ “bổ đặc già
la vô ngã tánh” (pudgalanairàtmya) (vô ngã hoặc vô thực
thể tánh của con người) mà ta có thể đạt tới Niết
Bàn.
Đại Thừa thì cho rằng, muốn đạt đến cảnh giới
Niết Bàn chân chính không những chỉ cần phải lãnh
ngộ “bổ đặc già la vô ngã tánh” (pudgala-nairàtmya)
mà còn phải lãnh ngộ “pháp vô ngã tánh” (dharma-nairàtmya:
tức là các pháp và các thành tố của sự sinh tồn
đều không có tánh thực thể, không có thực thể độc
lập của chính nó) thì ta mới có thể đạt tới Niết
Bàn.
Theo phái Đại Thừa thì muốn đạt tới Niết Bàn cần
phải lãnh hội cả “bổ đặc già la vô ngã tánh”
lẫn “pháp vô ngã tánh”.
5/
Khác biệt về sự trừ khử những chướng ngại vật
(àvaranas)
Có sự liên quan mật thiết đối với vấn đề trên
đây là vấn đề khử trừ phúc chướng.
Nguyên Thủy cho rằng sở dĩ người ta chưa thể chứng
đắc Niết Bàn là vì Thực Tại bị che dấu bởi cái
màn (àvaranas: “chướng”) của những đam mê như sự
chấp trước, ác cảm, ảo tưởng (klesàvarana). Klèsàvarana
là chướng ngại trên con đường đạt tới Niết Bàn.
Vì thế, muốn chứng đắc Niết Bàn thì cần phải
trừ khử klesàvarana. Tuy nhiên, sự tác động của các
klesàs (ảo tưởng) tùy thuộc vào sự tin tưởng về
một bản ngã đồng nhất (satkàyadrsti). Vì vậy, chỉ
có sự lãnh ngộ “bổ đặc già la vô ngã tánh”
(pudgalanairàtmya, tức là vô thực tại tánh hoặc vô thực
thể tánh của một bản ngã cá biệt), mới có thể
trừ khử ảo tưởng hoặc những chướng ngại. Và chỉ
khi nào ảo tưởng và chướng ngại bị trừ khử hết
thì mới có thể đạt được cảnh giới
Niết Bàn. Cho nên, trừ khử ảo tưởng, và chướng
ngại và “bổ đặc già la vô ngã tánh” liên quan mật
thiết với nhau. Nguyên Thủy cho rằng chỉ cần trừ khử
ảo tưởng là đủ để đạt được cảnh giới Niết
Bàn.
Nhưng Đại Thừa thì cho rằng Thực Tại không những chỉ
bị che phủ bởi ảo tưởng (klesàvaranam) mà còn bị ngăn
che bởi “trí chướng” (jneyàvarana), tức là cái màn
che phủ lên kiến thức đích thực. Vì thế, trừ trí
chướng cũng là điều cần thiết, mà muốn trừ khử
trí chướng thì cần phải lãnh ngộ “pháp vô ngã
tánh” (dharmanairàtmya) hoặc “chư pháp không tánh” (dharmasùnyata),
tức là sự vô ngã và không tánh của tất cả thành
tố của sự sinh tồn.
Chính vì tiêu trừ ảo tưởng (klesàvaranam) và lãnh ngộ
“bổ đặc già la vô ngã tánh” (pudgada-nairatmya) có
sự liên quan mật thiết với nhau, nên việc tiêu trừ
“trí chướng” (jneyàvarana) và lãnh ngộ “pháp vô
ngã tánh” (dharmanairàtmya) cũng có liên quan mật thiết
lẫn nhau. Đại Thừa cho rằng, chỉ dựa vào việc tiêu
trừ ảo tưởng thì không ̣̣đủ để có thể đạt
được tự do hoàn toàn, mà việc tiêu trừ trí chướng
cũng là một điều rất cần thiết.
6/
Sự khác biệt trong khái niệm về pháp (dharma)
Phái Nguyên Thủy tin tưởng vào một số thực hữu rốt
ráo (ultimate reals) gọi là “dharma”. Chữ “dharma” hiểu
theo ý nghĩa này rất khó phiên dịch. Có lúc nó được
dịch thành “sự vật” (“things” trong Anh ngữ). Nhưng
nên chú ý rằng dharma không phải là “sự vật” hiểu
theo nghĩa những dữ kiện của tri thức thông thường.
Có thể coi những từ ngữ “thành tố của tồn tại”,
“thực hữu rốt ráo” là những chữ phiên dịch sát
nghĩa hơn. Phái Nguyên Thủy cho rằng thế giới được
cấu thành từ sự lưu chuyển không ngừng của một
số pháp rốt ráo nào đó – các pháp này đơn thuần,
nhất thời và khách quan. Trong đó đa số là “hữu
vi pháp” (samkrta), và một số là “vô vi pháp” (asamskrta).
Đại Thừa thì cho rằng những “pháp” này không phải
là những thực thể rốt ráo, mà chỉ là những cấu
tác của tâm trí. Đại Thừa vạch ra rằng ngay cả những
cái gọi là “hữu vi pháp” rốt ráo và “vô vi pháp”
rốt ráo là tùy thuộc vào những ̣điều kiện và
chỉ là tương đối. Vì là tương đối, cho nên chúng
là “sunya” (không có thực thể).
7/
Sự khác biệt trong quan niệm về Phật luận (Buddhology)
Sắc thân (rùpa-kàya) của Đức Phật chẳng qua chỉ là
nhục thể có thể trông thấy được. Nguyên Thủy và
Đại Thừa đều không coi đây là Đức Phật thực sự.
Phật giáo ở thời kỳ sơ khởi đã từng đề ra ý
niệm “hóa thân” (nirmànakàya), đó là một thân xác
hư cấu mà Đức Phật có thể dùng phép thần thông
yoga để có thể hiện ra tại bất cứ nơi đâu mà ngài
muốn. Đối với điểm này, Nguyên Thủy và Trung Quán
Phái đã không có qua điểm khác biệt.
Sự khác biệt là do ở khái niệm về ‘pháp thân”
(dharma-kỳya) của Đức Phật. Khái niệm cao nhất của
phái Nguyên Thủy liên quan tới phẩm chất (dharmas: các
pháp) của đức Phật. Khi một tín đồ qui y với Đức
Phật, tức là nói đến sự qui y với Phật-tánh này,
chứ không phải qui y với Đức Phật Cồ Đàm (Gautama
Buddha) là người đã tịch diệt và không còn nữa.
Trung Quán Phái đã khai triển khái niệm về pháp thân
(dharma-kaya) với một phương pháp khác. Ngoài ra, Du Già
hành phái (Yogàcàrins) còn đề ra khái niệm về báo
thân (sambhoga-kàya). Chúng ta sẽ thâm cứu và thảo luận
thêm về những khái niệm về “thân” (kàyas) này,
dưới một tiêu đề biệt lập khác.
8/
Nguyên Thủy là tri thức, nhưng với Đại Thừa còn có
tín ngưỡng
Nguyên Thủy đã hoàn toàn thuộc về tri thức. Sự quan
tâm chính của tín đồ phái Nguyên Thủy là đi theo Bát
Chánh Đạo do Đức Phật nêu ra. Phái Nguyên Thủy nhấn
mạnh vào phương diện nhân tánh của Đức Phật.
Trong Phật giáo Đại Thừa, đức Phật được xem là
vị Thần tối thượng, là Thực Thể tối cao, vì muốn
giúp nhân loại nên đã ứng hiện thành thân người để
giáng trần. Trong Phật Giáo, khái niệm về Thượng
Đế không phải là đấng tạo hóa, mà chỉ là “Từ
Bi Thánh Thiện” (Divine Love) đã mượn hình thể con người
trần thế để giải thoát cho nhân loại đau khổ. Ngài
đã được sùng bái với tín ngưỡng của Phật giáo
đồ Đại Thừa thể hiện qua nghệ thuật điêu khắc
và hội họa. Những tượng Phật trang nghiêm đẹp đẽ
đã được điêu khắc, những bức tranh do trí tưởng
tượng tuyệt vời đã vẽ Đức Phật và những phương
diện khác nhau của cuộc đời ngài.
Đại Thừa cho rằng con đường gian nan của trí huệ siêu
việt (prajnà) chỉ dành cho một thiểu số tiến bộ
hơn, nhưng đối với những người trung bình thì chỉ
cần đặt tín ngưỡng vào Đức Phật cũng có thể
giúp họ chứng đắc Niết Bàn. Đức Phật đã được
người đời tôn thờ qua Bồ Tát Quán Thế Âm (Avalokitesvara),
qua Phật A Di Đà (Amitàbha) và qua Phật Di Lặc (Maitreya).
9/
Nguyên Thủy thuộc loại chủ nghĩa đa nguyên, Đại Thừa
thuộc loại chủ nghĩa bất nhị
Triết học của Phật Giáo Nguyên Thủy thuộc loại chủ
nghĩa đa nguyên triệt để, còn triết học của Phật
Giáo Đại Thừa thì hoàn toàn là chủ nghĩa bất nhị
(advaya).
10/
Nguyên Thủy thiên về lý trí, Đại Thừa thiên về thần
bí
Cách để đạt đến chân lý mà phái Nguyên Thủy áp
dụng thuộc về chủ nghĩa duy lý đượm mầu sắc thần
bí, còn con đường của Phật Giáo Đại Thừa thì lấy
loại chủ nghĩa siêu lý trí và thần bí thâm sâu.