CHƯƠNG
V
13.
BIỂU HIỆN CỦA THỰC TẠI (SAMVRTI: TỤC ĐẾ)
VÀ
THỰC TẠI TUYỆT ĐỐI
(PARAMÀRTHA
SATYA: THẮNG NGHĨA ĐẾ)
Phải chăng hiện tượng hoàn toàn không có thật? Bồ
Tát Long Thọ cho rằng hiện tượng cũng có một thứ
thực tại tánh. Chúng chính là “biểu hiện của thực
tại” (samvrti satya: Thế tục đế). Biểu hiện chỉ đường
dẫn đến sự vật mà nó biểu trưng. Biểu hiện của
thực tại (samvrti) là biểu tượng, là bức màn. Biểu
hiện của thực tại là sợi dây tơ nhỏ bay bổng trong
chân không, nó che khuất thực tại tuyệt đối (paramàrtha:
Thắng nghĩa đế). Long Thọ bảo:
Dve satye samupàsritya buddhànà dharmadesanà /
Lokasamvrtisatyam ca datyam ca paramàrthatah //
(Trung Quán Tụng, XXIX, 8)
“Đức Phật dùng hai chân lý là biểu hiện của thực
tại
(samvrti-satya, chân lý thực nghiệm) và thực tại
tuyệt đối (paramàrtha-satya) để giảng dạy giáo pháp
(Ddharma)”.
Sự phân biệt này vô cùng trọng yếu, vì thế, Long
Thọ cho rằng những ai không biết sự phân biệt này
thì không thể nào có thể lý giải được giáo nghĩa
của đức Phật.
Ye nayor na vijànanti vibhàgam satyaor dvayoh/
Te tattvam na vijànanti gambhìram buddhasàsane//
(Trung Quán Tụng, XXIV, 9)
“Những ai không biết sự phân biệt về hai chân lý
này thì không thể lý giải được ý nghĩa sâu xa do
Đức Phật thuyết giảng”.
Đối với biểu hiện của thực tại (samvrti: thế tục
đế), Nguyệt Xứng đã thuyết giảng như sau:
Samantàdvaranam samvrtih Ajànam hi
Samantat-sarvapadàrthatattvàvacchàdanàt
Samvrtirityucyate//
(Minh Cú Luận, p. 215)
“Những gì che phủ tất cả là biểu hiện của thực
tại
(samvrti: thế đế). Samvrti là vô minh (ajnàna) che
đậy bản thể của tất cả sự vật.”
Hiện tượng vốn có đặc tính như là biểu hiện
của thực tại (thế đế), bởi vì chúng phủ một bức
màn lên thực tại. Nhưng đồng thời chúng có nhiệm
vụ chỉ đường dẫn đến Thực Tại như là cơ sở
của hiện tượng. Samvrti-satya (biểu hiện của thực tại)
cũng là vyàvahàrikia-satya, thực tại của thực dụng
hoặc thực tại kinh nghiệm. Paramàrtha-satya là thực tại
tuyệt đối (Thắng nghĩa đế). Nhưng, hai chân lý này
– samvrti và paramàrtha-satya – không ngụ ý hai lãnh vực
khác nhau mà chúng được áp dụng. Tuyệt Đối được
hiểu qua những phạm trù tư tưởng thì là hiện tượng,
và, những hiện tượng khi bị tước bỏ những phạm
trù này thì chúng là tuyệt đối.
Nguyệt Xứng đã đề cập đến ba ý nghĩa của biểu
hiện của thực tại (samvrti: Thế Đế):
(1)
Samantat sarvapadàrthatattvàvacchàdanàt samvrvrith
(Minh Cú Luận, p. 125)
Samvrti (Thế Đế) là thứ gì che phủ lên bản tánh đích
thực của sự vật. Nguyệt Xứng gọi đó là vô minh
(ajnàna). Samvrti bắt nguồn từ ajnàna (vô minh) và tương
đồng với nó. Chính vô minh phủ một bức màn trùm
lên thực tại.
(2)
Parasparasambhavanam và samvrtianyonyasamàsrayena
(Minh Cú Luận, p. 125)
Samvrti là tùy thuộc hỗ tương của sự vật hoặc tương
đối tánh của sự vật. Trong ý nghĩa này nó tương
đồng với hiện tượng.
(3)
Samvrtih samketo lokavyavahàrah.
Sa ca abhidhànàbhi-dheyajnànajneyàdilaksanah.
Những tập quán được đa số người tiếp nhận là
Thế đế (samvrti).
Tất cả những ý nghĩa trên đây có liên quan hỗ trương
với nhau. Ý nghĩa thứ nhất là ý nghĩa chủ yếu,
nhưng mỗi ý nghĩa này đều có một sự quan trọng
khi nhìn từ quan điểm của thực tại kinh nghiệm.
Khi samvrti được hiểu theo nghĩa “thực tại thực dụng”
thì là phương tiện (upàya) để đạt tới Thực Tại,
tức là mục đích (upeya). Long Thọ đề cập một cách
minh bạch đến sự quan trọng của vyavahàra (thực tại
kinh nghiệm) để đaṭ tới paramàrtha (thực tại tuyệt
đối). Ngài bảo:
Vyavahàramansàsritya paramàrtho na desyate/
Paràmarthamanàgamya nirvànam nàdhigamyate//
(Trung Quán Tụng, XXIV, 10)
“Nếu không dựa vào thực tại thực dụng (thế đế)
thì
không thể giáo huấn về chân lý tuyệt đối (Thắng
nghĩa đế). Và, nếu không biết chân lý tuyệt đối
thì
không thể đạt tới niết bàn.”
Đối với đoạn này, Nguyệt Xứng đã chú giải rằng:
Tasmàd nivànàdhigamopàyatvad avasyameva
yathàvasthita samvrtih àdàveva abhyupeyà
bhàjanam iva salilàrthimà//
(Minh Cú Luận, p. 216)
“Vì thế, khi samvrti (Thế Đế) được coi là công cụ
để đạt đến Niết Bàn, ta phải nắm lấy nó, như
người muốn có nước thì cần phải sử dụng bình
để chứa.”
Samvrti (biểu hiện thực tại) là upàya (phương tiện),
Pàramartha (chân lý tuyệt đối) là upeya (mục đích).
Samvrti có hai loại: (1) Loka-samvrti (biểu hiện của thực
tại trên phương diện nhân gian) và (2) Aloka-samvrti (biểu
hiện của thực tại phi nhân gian). (1) Loka-samvrti nói tới
những đồ vật thông thường mà mọi người đều coi
là thật, thí dụ như một chiếc bình, một miếng vải,
v.v... (2) Aloka-samvrti nói đến những thứ mà người ta
có kinh nghiệm khi ở trong những điều kiện bất bình
thường. Những thứ hư ảo, những nhận thức lệch
lạc gây ra những giác quan bệnh hoạn hoặc khuyết tật,
những đối tượng trong chiêm bao, v.v... là thuộc về
aloka-samvrti (phi thực nghiệm), vì chúng không có thực.
Dù sao thì chúng ta cũng cần phải nghiên cứu, tìm hiểu
về hai danh từ “Phật Giáo Nguyên Thủy” và “Phật
Giáo Đại Thừa” thử xem chúng đã được khởi nguyên
và lưu truyền như thế nào. Theo nhận xét của R. Kimura
thì Đại Chúng Bộ (Mahàsanghikas) là hệ phái đã bảo
tồn giáo nghĩa Phật Giáo thông tục, đã có nhiều
tiến bộ và tự do hơn Thượng Tọa Bộ (Sthaviras). Trong
cuộc hội tập tại Tỳ Xá Ly (Vaisàli), các vị tỳ khưu
thuộc Đại Chúng Bộ (Mahàsanghikas) hoặc Vijjian (Bạt
Kỳ Tộc) đã bị quở trách và trụt xuất vì các thầy
tỳ khưu thuộc Thượng Tọa Bộ (Sthaviras) cho rằng giáo
nghĩa chính thống và kiến giải của họ đã bị vi phạm
bởi những quan điểm dị biệt, và, đã công khai chỉ
trích các thầy tỳ khưu thuộc Đại Chúng Bộ là “ác
tỳ khưu” (Pàpa Bhikkhus) và “kẻ thuyết phi pháp” (Adhamma
vadins).
Đại Chúng Bộ (Mahàsanghikas) vì muốn biểu thị rằng
giáo nghĩa của họ là giáo nghĩa ưu thắng, vượt hẳn
giáo nghĩa của Thượng Tọa Bộ (Sthaviras), cho nên họ
đã đặt ra danh từ “Đại Thừa” (chiếc xe lớn) để
làm tên gọi cho hệ phái của họ và họ đã gọi đối
thủ là “Nguyên Thủy” (chiếc xe nhỏ). Vì vậy, danh
từ Nguyên Thủy và Đại Thừa dần dần trở thành thông
dụng và, dĩ nhiên chỉ có Phật Giáo đồ Đại Thừa
mới sử dụng nó.