Quyển
thứ sáu
(4
nước)
Tam
Tạng Pháp Sư Huyền Trang phụng chiếu Vua dịch
Chùa
Đại Tổng Trì, Sa Môn Biện Cơ soạn
1.
Nước Thất La Phiệt Tất Để
2.
Nước Kiết Tỷ La Phạt Tốt Đổ
3.
Nước Lam Ma
4.
Nước Câu Thi Na Yết La
1)
Nước Thất La Phiệt Tất Để chu vi 6000 dặm. Đô Thành
bị hoang phế không còn kỷ cương gì nữa. Cung thành nầy
chu vi hơn 20 dặm, cũng rất tiêu điều, chỉ còn lại ít người
ở. Nơi đây trồng lúa, khí hậu điều hòa. Phong tục thuần
chất, người ham học và thích làm phước. Có trên 100 ngôi
Già Lam, bị đổ nát rất nhiều, ít tu sĩ, phần lớn họ
tu theo Chánh Lượng Bộ. Có 100 đền thờ và có rất nhiều
ngoại đạo ở đây. Khi Như Lai còn tại thế, có Vua Bát La
Thê Na Thị Đa (Ba Tư Nặc) trị vì nơi cố cung, có một nơi
còn lại dấu tích điện đài cũ của vua. Cách đó về hướng
đông không xa mấy, lại có một nền gạch cũ, trên nền gạch
ấy có một Bảo Tháp. Nơi đây ngày xưa, nhà Vua đã vì đức
Như Lai, mà xây dựng nơi thuyết pháp cho Ngài. Phía pháp đường
không xa mấy, laị có một Bảo Tháp để ghi dấu lại nơi
đây là tịnh xá Tỳ Kheo Ni của Di Mẫu đức Phật, Bát La
Xà Bát Đề (Ba Xà Ba Đề). Tháp nầy chính nhà Vua đã xây
dựng nên. Tiếp theo đó về phía đông. Có một Bảo Tháp
là ngôi nhà cũ của ông Tu Đạt Đa (Thiện Thí - Cấp Cô Độc).
Bên cạnh nhà của ông Trưởng giả Thiện Thí có một Bảo
Tháp lớn, là nơi mà ông Ma Lu Li Ma La (Angulimala - Vô Não) đã
xả tà quy chánh. Vô Não là một người hung bạo ở thành
Xá Vệ, đã làm hại rất nhiều sanh linh trong thành nầy, người
mà đã giết người, lấy ngón tay xâu vào đeo lên cổ, muốn
hại mẹ mình cho đủ số ngón tay. Đức Thế Tôn vì lòng
bi mẫn hiện ra để hóa độ. Từ xa thấy đức Thế Tôn,
ông vui mừng nói rằng hôm nay chắc chắn là sẽ sanh thiên,
điều mà Thầy của ta đã di chúc như vậy. Hại được Phật,
giết được mẹ được sanh thiên, nên hướng về mẹ mà
nói rằng, nay con thả mẹ, đi hại vị Sa Môn trước đã.
Rồi đi ngược hướng Thế Tôn, đức Như Lai vẫn đi như
thế không thối lui. Bỗng nhiên, kẻ sát nhân không di chuyển
được, đức Thế Tôn liền bảo:
- Sao
lại vẫn giữ việc xấu, bỏ việc lành. Đó không phải là
nguyên nhân của việc ác?
Lúc
bấy giờ chàng Vô Não hối hận những việc làm sai trái của
mình. Sau đó liền quy y và xin gia nhập vào Giáo Pháp của
Ngài, tinh cần tu học không giải đãi và chứng được quả
vị A La Hán.
Phía
Nam của thành cách năm dặm sáu, có rừng cây Kỳ Đà, thuộc
vườn của ông Cấp Cô Độc. Vua Ba Tư Nặc vì Phật, mà kiến
tạo tinh xá. Nơi đây ngày xưa có chùa viện nhưng bây giờ
đã hoang phế. Cửa phía đông trái phải đều có những thạch
trụ cao hơn 47 thước. Trụ bên trái có những hình bánh xe
rất đẹp. Trụ đá bên phải, khắc hình con bò ở bên trên.
Cả hai đều do Vua A Dục dựng nên. Phòng ốc đã hư hại
hết chỉ còn nền nhà, duy nhất một mái ngói của một phòng
còn tồn tại trong đó có một tượng Phật, mà tượng nầy
là tượng ngày xưa đức Như Lai đã lên cõi trời thứ ba
mươi ba vì mẹ thuyết pháp và sau đó vua Ba Tư Nặc đã nghe
Vua Xuất Ái, khắc tượng Phật nầy bằng trầm hương.
Trưởng giả Cấp Cô Độc rất hoan hỷ tán thán mà giữ gìn
lại tượng nầy. Người mà đã vì sự nghèo khổ của những
người già đã có một đức hạnh tốt đẹp nên hiệu là
Cấp Cô Độc. Ông đã nghe về công đức của đức Phật
rất thâm hậu và tôn kính nên đã xây dựng tinh xá thỉnh
Phật đến đây. Đức Thế Tôn ra lệnh cho ngài Xá Lợi Phất
tùy theo nhu cầu mà tìm hiểu trước.
Chỉ
có khu vườn của Thái Tử Kỳ Đà là cao ráo đẹp đẽ, cho
nên đến gặp Thái Tử mà hỏi mua. Thái Tử bảo đem vàng
đến lót thì mua. Cấp Cô Độc nghe xong tâm hoan hỷ liền
xuất kho, lấy vàng trong kho để mà lót lên đất. Có chỗ
không lót được. Thái Tử nói: Phật thật là ruộng
Phước, chúng ta nên cùng gieo giống lành. Sau đó xây tinh xá
trên khoảng đất trống và đức Thế Tôn bảo ngài A Nan rằng:
Vườn
do ông Trưởng Giả mua, còn cây do Thái Tử Kỳ Đà cúng. Cả
hai người cùng có tâm có sức là một công đức rất lớn.
Cho nên từ nay về sau nên gọi nơi đây là rừng của Thái
Tử Kỳ Đà và Vườn của ông Cấp Cô Độc. Phía đông bắc
của vườn ông Cấp Cô Độc có một Bảo Tháp, nơi đây đức
Như Lai đã rửa vết thương bịnh cho một Tỳ Kheo. Lúc Như
Lai còn tại thế, có một vị Tỳ Kheo, bịnh đau nhức nhối
khổ sở. Thế Tôn thấy như vậy mà hỏi rằng:
- Ngươi
vì sao khổ như thế, tại sao ngươi lại ở một mình?
Đáp
rằng:
- Con
tên là Sơ Lại, không chịu khám bịnh. Lại cũng chẳng có
người nào đoái hoài đến con.
Như
Lai lúc bấy giờ thương cảm mà nói rằng:
- Nầy
con! Nay ta sẽ khám bệnh cho con.
Đoạn
lấy tay xoa vào người, bệnh liền tiêu. Rồi đem ra bên ngoài
đặt nằm trên cỏ mà rửa vết thương, thay đổi y phục
mới. Phật bảo vị Tỳ Kheo rằng:
- Hãy
nỗ lực tinh tấn lên.
Khi
nghe lời ai mẫn ấy, rất cảm động thân tâm nhẹ nhàng.
Phía
tây bắc của vườn Cấp Cô Độc có một Bảo Tháp nhỏ.
Đây là nơi ghi lại chỗ ngài Mục Kiền Liên vận thần thông
không thể nhấc nổi y áo của ngài Xá Lợi Phất. Ngày
xưa khi Phật còn tại thế, tại đây có một cái hồ gọi
là Vô Nhiệt Não cùng trời người đều tụ họp, duy chỉ
có ngài Xá Lợi Phất chưa đến được. Phật ra lệnh ngài
Mục Kiền Liên đến triệu ngài lại. Ngài Mục Kiền
Liên vâng mệnh liền đi. Ngài Xá Lợi Phất đang giữ pháp
y. Ngài Mục Kiên Liên nói:
- Đức
Thế Tôn hiện đang ở tại hồ Vô Nhiệt Não, bảo tôi gọi
Ngài đến.
Ngài
Xá Lợi Phất đáp rằng:
- Tôi
không thể đi được.
Ngài
Mục Kiền Liên nói:
- Nếu
không
đi nhanh được, Ngài có muốn tôi vận thần thông đưa ngài
đến thạch thất đó không?
Ngài
Xá Lợi Phất bèn để y áo trên đất, nếu ngài nhấc nổi
y áo nầy lên được thì nhấc nổi thân tôi. Ngài Mục Kiền
Liên vận thần thông nhấc y áo lên nhưng không nổi,. Lúc
bấy giờ đại điạ chấn động. Nhân đó dùng thần túc
đi đến chỗ Phật thấy ngài Xá Lợi Phất đã ngồi đấy
rồi Mục Kiền Liền thán rằng:
- Bây
giờ mới biết là thần thông lực không bằng trí tuệ lực.
Bên
cạnh Bảo Tháp Nhấc Y chẳng xa bao nhiêu có một cái giếng,
Như Lai lúc còn tại thế dùng nước giếng nầy, tại đây
có một bảo tháp do vua A Dục dựng lên trong đó có thờ Xá
Lợi của Như Lai. Đây cũng là nơi kinh hành thuyết pháp của
đức Phật. Bên cạnh gốc cây lại có một Bảo Tháp, do ông
Minh Kỳ Cảnh Vệ Linh Đan xây dựng để nghe âm nhạc của
chư thiên, ngửi mùi hương của chư thần, mà cảnh nầy là
nơi phước đức khó thể diễn tả hết.
Phía
sau Già Lam không xa, có một nơi mà ngoại đạo Phạm Chí,
đã giết hại dâm nữ để phỉ báng Phật. Vì Như Lai là
bậc thập lực vô úy và nhất thiết chủng trí, trời người
đều quy nguỡng, thánh hiền đều tôn sùng, cho nên ngoại
đạo bàn với nhau rằng. Chúng ta nên bày mưu phỉ báng, dụ
một dâm nữ giả bộ vào nghe Pháp. Khi mọi người biết,
chúng ta bí mật giết đi, chôn tử thi dưới gốc cây rồi
báo cho Vua biết.
Nhà
Vua ra lệnh đến khám vườn Thái Tử Kỳ Đà để xem tử
thi.
Lúc
bấy giờ ngoại đạo lớn tiếng nói rằng:
- Sa
Môn Cù Đàm thường xưng là giữ giới thế mà giết người
để bịt miệng. Có phải đã hành dâm rồi giết đi chăng.
Thế là giới là gì, nhẫn là gì?
Chư
Thiên lúc bấy giờ ở trên không trung nói lớn tiếng rằng:
- Nầy
kẻ ngọai đạo hung ác, các ngươi phỉ báng như thế làm
sao nghe cho lọt vào tai được.
Phía
đông của chùa nầy hơn 100 bước. Có một cái hố rất sâu.
Đây là nơi mà Đề Bà Đạt Đa dùng độc dược muốn hại
Phật. Thân nầy còn sống mà bị đọa vào địa ngục. Đề
Bà Đạt Đa (Thiên Thọ) là con của Vua Hộc Phạn, Người
đã tinh cần trải qua 12 năm, trì tụng 80 ngàn Pháp Tạng.
Sau vì lợi dưỡng cầu học thần thông thân cận với bạn
ác, rồi cùng đề nghị rằng. Ta nhỏ hơn Phật 30 tuổi. Đại
chúng vây quanh đâu có khác gì Như Lai.
Suy
nghĩ xong liền làm việc phá tăng. Ngài Xá Lợi Phất, Ngài
Mục Kiền Liên đã cầu thỉnh Phật chỉ bảo và nhờ vào
oai lực của Phật, Thuyết pháp để hối quá. Tăng chúng lại
hòa hợp, nhưng ác tâm của Đề Bà Đạt Đa thì không bỏ,
đã dùng thưốc độc để vào trong móng tay. Muốn rằng nhân
lúc lễ Phật làm cho Phật bị thương. Bèn đi đến với mưu
mô nầy. Từ xa đi đến đây, đất nứt ra liền bị rơi xuống
địa ngục trong lúc còn sống.
Ở
phía Nam lại có một hầm lớn nữa. Tỳ Kheo Cù Đa Lê
đã phỉ báng Như Lai, cũng bị vào địa ngục trong lúc còn
sống.
Phía
Nam hố Châu Cù Đà Di đi bộ 800 bước, có một cái hố sâu
nữa. Đây là nơi mà Bà La Môn Nữ tên là Chiến Giá hủy
báng đức Như Lai, bèn đọa vào địa ngục khi còn sống.
Phật đã vì trời người thuyết các pháp trọng yếu.
Đệ
tử của ngọai đạo xa thấy đức Thế Tôn được đại chúng
cung kính liền tự nghĩ rằng: - Nhất định hôm nay, làm cho
Gotama bị nhục, thất bại trước danh dự và chỉ làm cho
Thầy chúng ta, đăng đàn một mình mà thôi, bỏ một cái bát
gỗ trong mình đến vườn Cấp Cô Độc ở trong đại chúng,
rồi lên tiếng mà nói rằng:
Người
thuyết pháp kia đã cùng ta tư thông với nhau, trong bụng nầy
đã có một đứa con thuộc dòng họ Thích. Những kẻ tà kiến
chưa tin được thật hư, nhưng người có lòng tin kiên cố
biết rằng đây là phỉ báng. Thiên Đế Thích muốn trừ nghi
kia liền hiện làm con chuột trắng, cắn dây buộc bát gỗ.
Bát gỗ rơi xuống thành tiếng làm chấn động đại chúng.
Phàm những kẻ thấy nghe đều tăng thêm sự tin sâu và hỉ
lạc. Trong chúng có một người đứng lên mang bát gỗ đến
chỉ cho người nữ kia mà nói rằng:
Ngươi
là kẻ tà vạy. Tự nhiên lúc bấy giờ mặt đất nứt ra
và toàn thân của cô ta bị rơi vào Vô gián địa ngục thọ
các cực hình. Phàm ở nơi Ba Hố sâu nầy không có bờ đáy.
Mùa Thu mùa hạ có sương phủ trên mặt hồ giống như dưới
hố sâu kia nước không ngừng chảy. Phía đông của Già Lam
hơn 67 bước đi bộ có một tinh xá cao hơn 60 thước ở giữa
có một tượng Phật, ngồi mặt xây về hướng đông. Nơi
đây chính là nơi Như Lai ngày xưa cùng các ngoại đạo luận
nghị. Lại nữa ở phía đông kia cũng có một đền thờ cũng
giống như tinh xá ngày ngày đều phát ra ánh sáng, bóng của
đền thờ không phủ được tinh xá. Khi mặt trời lặn rồi
cái bóng của tinh xá phủ lên trên đền thờ.
Phía
đông tịnh xá đó cách 3.4 dặm, có một Bảo Tháp. Đây là
nơi tôn giả Xá Lợi Phất đã luận nghị cùng ngoại đạo.
Đầu tiên ông Trưởng giả Cấp Cô Độc mua vườn của Thái
Tử Kỳ Đà muốn vì đức Như Lai mà làm tinh xá, mà lúc ấy
Tôn giả Xá Lợi Phất đã tùy theo Trưởng giả mà xem phương
hướng và đo đạc.
Ngoại
đạo luật sư yêu cầu dùng thần lực. Ngài Xá Lợi Phất
đã tùy theo việc nầy mà nhiếp hóa để hàng phục. Bên phía
trước Tịnh Xá nầy có kiến lập một Bảo Tháp. Nơi đây
Như Lai đã dời ngoại đạo đi mà nhận lời thỉnh cầu của
bà Tỳ Xá Khư.
Bên
phía Nam của Bảo Tháp thọ thỉnh ấy là nơi Vua Tỳ Lô Thích
Ca (Tỳ Lưu Ly) dẫn quân lính sát hại, đến đây thấy Phật
bèn dẫn binh lui về. Sau khi Vua Tỳ Lô Thích Ca xưng vương
đã hận việc nhục nhã lúc trước, nên đã đem binh khuấy
động đại chúng. Ông Bộ Trứ Di Tất đã phụng mệnh mà
đi, lúc đó các vị Tỳ kheo đã thấy bạch Phật. Đức Thế
Tôn ngồi dưới gốc cây khô, vua Tỳ Lô Thích Ca xa thấy Thế
Tôn liền xuống ngựa mà thi lễ. Xong rồi liền hỏi:
- Tại
sao, ngài không ngồi chỗ cây tốt mà ngồi dưới gốc cây
khô không còn cành lá gì hết?
Thế
Tôn bảo rằng:
- Tông
tộc cũng như cành lá vậy, cành lá mà nguy thì gốc đâu còn
nữa.
Vua
nói:
- Thế
Tôn vì tôn thân mà có thể hồi giá chăng?
Nói
xong thì cảm nhận được lời Thánh ấy cho nên đem quân
về lại nước mình.
Bên
cạnh Bảo Tháp lui quân ấy là nơi những người đàn bà dòng
họ Thích bị giết. Vua Tỳ Lô Thích Ca đã tru diệt dòng họ
Thích, gồm năm trăm người nữ cho vào cung những người đàn
bà họ Thích giận dữ oán hờn nhưng không trốn, mà mắng
người con của nhà vua. Vua nghe phát giận, liền ra lệnh giết
đi. Người chấp hành lệnh trên của Vua Đa Bảo rằng: hình
phạt là cắt chân tay và vứt vào hầm hố. Lúc bấy giờ
các người nữ dòng họ Thích chịu khổ cho nên mới gọi
danh Phật. Đức Thế Tôn quán chiếu thấy cảnh khổ sở,
ra lệnh các thầy Tỳ Kheo mang y đến mà thuyết pháp cho họ
nghe. Vì sự ràng buộc trong ngũ dục mà lưu chuyển trong tam
đồ, ân ái biệt ly sanh tử nhiều đời. Lúc ấy các người
con gái nghe Phật chỉ bày rồi, liền xa trần cấu chứng được
pháp nhãn thanh tịnh, đồng thời khi mệnh chung được sanh
về cõi chư thiên. Lúc ấy Thiên Đế Thích hóa làm Bà La Môn
thâu nhận những thi hài ấy để hỏa táng và viết để lại
cho người đời sau vậy.
Chẳng
xa bên cạnh tháp tru di dòng họ Thích, có một ao lớn. Đây
là nơi Vua Tỳ Lô Thích Ca còn sống mà đã vào địa ngục.
Sau khi đức Phật đã thấy những người nữ dòng họ Thích
rồi về lại vườn Trưởng Giả Cấp Cô Độc nói với các
vị Tỳ Kheo rằng:
Nay
Vua Tỳ Lô Thích Ca sau bảy ngày, sẽ bị hỏa thiêu nơi hầm
lửa. Vua nghe Phật nói như vậy kinh hoàng và lo lắng vô cùng.
Cho đến ngày thứ bảy mới được an lạc không nguy hiểm.
Nhà Vua vui vẻ khôn xiết cho nên đã ra lệnh cho các cung nữ
đến nơi hồ mà hát xướng ăn uống. Khi mà lửa bốc cháy
thì đánh trống như thác đổ. Khi lửa quây quanh thân Vua,
Vua đọa vào Vô Gián Địa ngục thọ khổ vô cùng.
Cách
Già Lam phía tây bắc 3.4 dặm đến rừng Đắc Nhãn, nơi đây
có di tích ghi lại nơi kinh hành của Như Lai và là nơi tu thiền
định của các Thánh đệ tử. Cả hai nơi dưới gốc cây
nầy đều có kiến lập Bảo Tháp. Ngày xưa nơi nầy là nơi
tập họp của năm tên ăn trộm, chúng đã hoành hành phá phách
khắp nơi trong làng trong xóm. Vua Ba Tư Nặc bắt được ra
lệnh móc mắt thả vào rừng sâu. Bọn trộm khổ sở quá
cầu Phật. Lúc đó Phật đang ở tại Tịnh Xá Kỳ Viên nghe
được âm thanh bi não ấy liền khởi từ tâm, làm cho gió
mát êm dịu thổi thuốc từ núi Tuyết Sơn đến làm cho mắt
họ được sáng lại như cũ. Sau đó họ gặp đức Thế Tôn
ở đây mà phát tâm Bồ Đề hoan hỷ đảnh lễ, lãnh hội
lời Phật rồi lui về trồng căn lành.
Đại
Thành phía tây bắc hơn 60 dặm lại có một thành cũ, nơi
mà trong hiền kiếp nầy con người thọ đến 20 ngàn tuổi,
và cũng là nơi mà đức Phật Ca Diếp Ba sanh ra, thành ở phía
Nam cũng có một Bảo Tháp. Đây là nơi mà sau khi thành Chánh
Giác đức Phật đã gặp Phụ Thân lần đầu. Thành phía bắc
cũng có một Bảo Tháp, nơi đây thờ toàn thân Xá Lợi của
Đức Phật Ca Diếp tất cả đều do Vua A Dục dựng nên. Từ
phía đông nam nầy, đi hơn năm trăm dặm đến nước Kiếp
Tỷ La Phạt Tốt Đổ (Ca Tỳ La Vệ).
2)
Nước Kiếp Tỷ La Phạt Tốt Đổ (Capilavastu - Ca Tỳ La Vệ).
Nước Ca Tỳ La Vệ chu vi hơn bốn ngàn dặm. Cung thành đa
số đều bị hoang phế. Vương thành cũng không biết lớn
là bao nhiêu, chỉ còn thành nội chu vi là 14.5 dặm. Nơi đây
chỉ còn sót lại gạch ngói giống như vườn không nhà trống
lâu nay chẳng ai vào, chẳng có ai là thủ lãnh của thành.
Đất đai nơi đây cũng tốt, cày cấy lúa, khí hậu không
điều hòa, phong tục sáng sủa. Có hơn 1000 ngôi Già Lam, mà
nơi cung thành chỉ có một ngôi mà thôi. Khoảng hơn 3000 Tăng
Sĩ, tu theo Chánh Lượng Bộ thuộc Tiểu Thừa. Đền thờ có
hai cái, ngọai đạo sống rất hỗn tạp.
Tại
cung nội, còn một nơi là điện đường của Vua Tịnh Phạn,
trên đó có dựng một Tịnh Xá và bên trong có tượng của
Vua. Gần đó không xa còn một di tích của bà Ma Ha Ba Xà Ba
Đề (Đạt Thuật). Trên đó cũng dựng một tinh xá và trong
đó có tôn tượng của Phu Nhân. Tinh xá nầy là nơi mà Bồ
Tát Thích Ca đã giáng thần vào thai mẹ. Nơi đó cũng có một
tượng Bồ Tát giáng thần. Theo Thượng Tọa Bộ, Bồ Tát
giáng thần vào thai mẹ nhằm đêm ba mươi của tháng Uẩn
Đản La An Sa Trà, nhằm vào ngày 15 tháng 5. Trong khi đó các
Bộ phái khác, cho rằng Bồ Tát giáng thai mẹ vào đêm 23 cùng
tháng đó, nhằm vào ngày mồng 8 tháng 5.
Phía
bên đông bắc của tháp Bồ Tát giáng thần là nơi kỷ niệm
Tiên A Tu Đà đoán tướng Thái Tử. Ngày Bồ Tát giáng sanh,
là ngày vui mừng của Hoàng Gia. Vua Tịnh Phạn mời các vị
đoán tướng vào để hỏi rằng:
- Đứa
bé nầy sanh như vậy là tốt hay xấu, nói cho ta biết rõ ràng?
Đáp
rằng:
- Nương
vào dấu thánh mà khảo sát thấy có hiện tướng cát tường.
Nếu ở đời thì làm chuyển Luân Thánh Vương, nếu xả tục
thì thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Lúc bấy giờ tiên A Tu Đà
từ xa đến, vào cửa muốn diện kiến, Vua liền hoan hỷ thân
chinh ra đón rồi mời ngồi và nói:
- Chẳng
hay ý đại tiên như thế nào mà hôm nay chiếu cố như vậy?
Tiên
nhơn đáp rằng:
- Ta
đang ở thiên cung an vui ngồi nghỉ, lại nghe thấy chư thiên
quần tụ lại với nhau, tôi bèn hỏi việc gì vậy thì được
đáp rằng:
Đại
Tiên nên biết ở Nam Thiệm Bộ Châu, trong dòng họ Thích của
Vua Tịnh Phạn, vị Phu nhân thứ nhất vừa hạ sanh một Thái
Tử sẽ chứng quả Chánh Giác và thành tựu Nhất thiết trí.
Nghe vậy cho nên tôi mới lại đây chiêm nguỡng và buồn rằng
không thể gặp được Thánh Nhân nữa.
Cửa
phía Nam của thành có một Bảo Tháp, đây là nơi Thái Tử
và các vương tử họ Thích thi đấu voi. Thái Tử có nhiều
kỹ thuật hàng phục voi. Vua Tịnh Phạn mong rằng được thành
tựu rồi trở về, cho phép cỡi voi ra cửa thành. Đề Bà
Đạt Đa cũng là người không kém sức mạnh, từ ngoài đi
vào hỏi ai là người cỡi, và ai là người muốn leo lên con
voi nầy.
Đáp
rằng:
- Thái
Tử là người cỡi con voi nầy. Lúc ấy Đề Bà Đạt Đa giận
dữ, giết con voi thi đấu của mình để nằm chận đường
không cho di chuyển. Mọi người ùn lại. Ông Nan Đà đến
sau hỏi rằng:
- Ai
làm chết con voi nầy?
Đáp
rằng:
- Đề
Bà Đạt Đa.
Bèn
đi đường khác. Lúc ấy Thái Tử đến và liền hỏi:
- Ai
đã giết con voi nầy?
Đáp:
- Đề
Bà Đạt Đa đã hại trước cửa thành. Và Nan Đà đã dẫn
lối khác để đi.
Thái
Tử cỡi voi vượt qua thành, con voi bị sa xuống hầm lớn,
mà tương truyền đây là nơi voi bị sụp hầm. Phía tinh xá
nầy có tượng của Thái Tử, cũng có một tinh xá khác, là
nơi nghĩ của Hoàng Phi, trong đó có tượng của Gia Du Đà
La và La Hầu La. Tại cung nầy cũng có một tinh xá, thờ những
tượng lúc còn Thái Tử.
Thành
phía đông nam có một tinh xá có tượng Thái Tử phi bạch
mã. Đây là nơi Thái Tử du thành. Ngoài cửa phía tây của
thành có nhiều tinh xá, trong đó có tạo những tượng về
lão bệnh tử và sa môn. Thái Tử sau khi đi thăm thấy được
các tướng băng hoại, chán ngán cuộc đời và cảm nhận
được điều nầy cho nên ra lệnh hồi xa giá.
Thành
phía nam đi hơn 50 dặm, có một cổ thành, nơi đây có một
Bảo Tháp, đó là nơi mà trong hiền kiếp nầy con người thọ
đến 60 ngàn tuổi, cũng là nơi mà Phật Ca La Ca Phù đã sanh
ra. Cách thành phía nam không xa cũng có một Bảo Tháp, nơi
đây ghi lại sau khi thành Chánh Giác đức Phật đã gặp Phụ
Vương. Thành Phía đông nam cũng có một Bảo Tháp, nơi đó
có thờ di thân của đức Như Lai, trước đây cho xây bằng
trụ đá cao 30 thước bên trên có khắc đầu Sư Tử và bên
cạnh ghi lại sự tịch diệt do vua Asoka xây dựng.
Phía
đông bắc của thành Ca La Ca Phù đã đi hơn 30 dặm đến một
thành cũ. Nơi đó cũng có một Bảo Tháp để ghi lại trong
hiền kiếp nầy lúc mà con người thọ 40 ngàn tuổi và là
nơi đản sanh của Phật Ca Nặc Ca Mâu Ni.
Phía
đông bắc chẳng xa mấy có một Bảo Tháp ghi lại nơi mà
sau khi thành Chánh Giác, Phật đã độ cho Phụ Vương, tiếp
theo đó ở phía bắc cũng có một Bảo Tháp, ở nơi đây cũng
thờ di thân Xá Lợi của Như Lai, trước đây được xây dựng
bằng trụ đá cao hơn 20 thước, trên có khắc hình Sư Tử.
Bên cạnh đó có ghi lại cảnh tịch diệt do vua Asoka dựng
nên.
Phía
đông bắc của thành hơn 40 dặm, lại có một Bảo Tháp, nơi
mà Thái Tử ngồi dưới tàng cây để xem người ta cày cấy.
Lúc đó ngài đã nhập định chứng được pháp ly dục. Vua
Tịnh Phạn thấy Thái Tử ngồi dưới tàng cây nhập định,
thấy ánh sáng mặt trời quay chiếu xuống cây nhưng ảnh không
di động, tâm trí của Vua linh cảm đây là điều lành nên
vua rất trân trọng.
Phía
tây bắc của thành lớn, lại có trăm ngàn Bảo Tháp khác
là nơi mà dòng họ Thích bị tru di, cũng là nơi mà vua Tỳ
Lô Thích Ca sát hại dòng họ Thích. Số người tính đến
9.990 vạn người, tất cả đều bị giết hại, xương chất
thành núi, máu chảy thành hồ. Chư thiên động lòng nên đã
thu cốt hỏa táng.
Phía
tây nam của nơi dòng họ Thích bị mưu hại, có bốn Bảo
Tháp nhỏ là nơi quân của dòng họ Thích kháng cự lại. Lúc
đầu, Vua Ba Tư Nặc muốn cầu hôn với dòng họ Thích. Dòng
họ Thích cho rằng vua thuộc dòng thấp hèn, cho nên mới gã
một gia nhân cho Vua. Sau đó Vua Ba Tư Nặc lập làm chánh hậu.
Bà nầy sinh ra một người con trai. Đó là vua Tỳ Lô Thích
Ca. Tỳ Lô Thích Ca muốn biết dòng họ của mình cho nên họ
bị thọ nghiệp.
Đến
phía nam của thành thì thấy một giảng đường mới trong
đó có chỗ nghỉ ngơi xa giá. Dòng họ Thích nghe như thế
bèn lui mà nói rằng:
- Đây
là nhà của người tỳ nữ ở, do dòng họ Thích lập,
Biết
thế, Vua Tỳ Lô Thích Ca muốn rửa nhục trước nên đem binh
đến đây để đánh với bốn người lực luỡng của dòng
họ Thích, liền kháng cự mạnh, nhưng bị thất bại cho nên
binh lính vào thành, những người hoàng tộc vì thừa mệnh
vua trước mà làm cho đất nước trường tồn và vì là con
cháu của Pháp Vương nên ra đi trước sự hung bạo và an nhẫn
trước sự giết hại, vì đó là sự ô nhục của tông môn,
nên xa rời thân tộc và bốn người đó đi vào phía bắc
của núi tuyết. Một vị làm vua nước Ô Trượng Na, một
vị làm vua nước Phạm Diễn Na, một vị làm vua nước Tu
Ma Đản La, một vị làm vua nước Thương Di, để cho hoàng
đồ cơ nghiệp không tuyệt tự.
Phía
nam của thành ba dặm tư, nơi rừng Câu Luật Thụ có một
Bảo Tháp do vua A Dục xây, đây là nơi mà sau khi đức Thích
Ca thành Chánh Giác rồi, về lại nước gặp phụ vương thuyết
pháp. Vua Tịnh Phạn biết rằng Như Lai đã hàng phục được
ma quân và du hành hóa độ nhưng trong lòng rất khao khát được
đảnh lễ, liền ra lệnh thỉnh Như Lai và nói rằng:
- Ngày
xưa hứa sau khi thành Phật trở về nơi sanh quán, lời nói
nầy vẫn còn ở trong lòng ta.
Vua
sai sứ đến nơi Phật tuyên nhắc lại ý của Phụ Vương.
Như Lai thưa rằng:
- Sau
bảy ngày sẽ trở về lại quê quán.
Sứ
thần về lại tâu lên Vua. Vua ra lệnh cho thần dân phải quét
dọn đường sá cùng trưng bày hương hoa và cùng quần thần
đi 40 dặm hơn, với xa giá để nghinh tiếp. Lúc ấy đức
Như Lai cùng đại chúng câu hội. Có tám vị thần Kim Cang
hộ vệ và tứ thiên vương dẫn đầu. Đế Thích và các vua
trời Dục giới. Phạm Vương cùng các Vua trời Sắc giới
đứng bên phải. Các vị Tỳ kheo tăng xếp hàng đi phía sau.
Chỉ có đức Phật ở giữa chúng hội như là mặt trăng giữa
các vì sao. Uy thần động đến tam giới. Ánh sáng quang minh
gấp bảy lần mặt trời, đi bộ trên hư không, để về lại
nơi sanh quán của mình. Vua cùng triều thần các quan lễ kính
rồi lui. Về lại nơi mình ở. Tại đây cũng có một Già
Lam của Câu Lô Đà Tăng. Phía bên nầy không xa cũng có một
Bảo Tháp. Đây là nơi mà Như Lai đã ngồi dưới gốc cây
đại thọ mặt hướng về hướng đông, thọ nhận Cà Sa bằng
tơ vàng của Di Mẫu. Kế đến là Bảo Tháp để ghi lại nơi
Như Lai đã độ cho tám vương tử và năm trăm người dòng
họ Thích.
Cửa
phía đông của thành và phía bên tay trái có một Bảo Tháp.
Nơi đây ngày xưa tất cả các nghi lễ đã được luyện tập
học hỏi. Bên ngoài cửa có một đền thờ Tự Tại Thiên,
trong đền thờ có tượng Thiên Vương uy nghi đĩnh đạc, mà
nơi đây Thái Tử đã ở lại đền nầy. Vua Tịnh Phạn đã
cho người đến nước Thử Phạt Ni nghinh đón Thái Tử về.
Sau đó đến đền khác, Vua nói đền nầy rất linh. Các đứa
bé dòng họ Thích đều đem đến đây cầu nguyện gia hộ,
có hiệu quả, cho nên đem Thái Tử đến đây để cầu nguyện.
Lúc bấy giờ truyền mẫu hậu vào đền, tượng đá liền
đứng dậy để nghinh đón Thái Tử. Thái Tử đi rồi, tượng
mới ngồi xuống.
Cửa
phía nam của thành ở phía bên trái của đường đi có một
Bảo Tháp, đây là nơi mà Thái Tử và những vương tử họ
Thích thi bắn cung, thi đấu với nhau. Từ phía đông nam hơn
ba mươi dặm, có một Bảo Tháp nhỏ, đây là nơi mà có dòng
suối chảy trong như mặt kính. Nơi đây Thái Tử cùng những
vương tử dòng họ Thích đã thi bắn cung tên và biểu diễn
các nghệ thuật khác. Tiếp theo có một cái ao nước rất
trong, tương truyền rằng đây là dòng suối của cung tên.
Phàm người nào có bệnh uống nước nầy vào thì khỏi. Người
ở xa đôi lúc mang cả bồn về tùy theo sự bịnh khổ mà
những linh thần hộ vệ để tật bệnh được tiêu trừ.
Phía đông bắc của suối cung tên, cách hơn 89 dặm, đến
rừng Thử Phạt Ni. Nơi đây là ao tắm của dòng họ Thích,
nước trong như gương, hoa thơm đầy dẫy. Từ đây qua phía
bắc 24 dặm rưỡi có một cây Vô ưu bây giờ đã khô héo
hết rồi. Đây là nơi linh thiêng đản sanh của Bồ Tát. Bồ
Tát sanh ra vào lúc nửa đêm vào ngày mồng tám tháng Phệ
Xá Khư (Vesakha) tức nhằm ngày mồng tám tháng tư, mà theo
Thượng Tọa Bộ cho rằng nhằm giữa đêm ngày 15 tháng Phệ
Xá Khư, tức ngày 15 tháng 4.
Tiếp
đến ở phía đông có một Bảo Tháp do Vua A Dục dựng nên.
Nơi đây có hai con rồng phun nước tắm Thái Tử. Sau khi Bồ
Tát sanh liền tự đi không cần nâng đỡ ngài đi bốn hướng,
mỗi hướng bảy bước, và tự nói rằng: "THIÊN THƯỢNG THIÊN
HẠ DUY NGÃ ĐỘC TÔN. ĐÂY LÀ LẦN SANH CUỐI CÙNG CỦA TA"
Tự nhiên dưới chân mọc lên những đóa hoa lớn, rồi hai
con rồng bỗng nhiên xuất hiện từ hư không cùng phun nước
xuống, một vòi nước lạnh, một vòi nước ấm để tắm
cho Thái Tử.
Bên
Bảo Tháp tắm rửa cho Thái Tử về hướng đông có hai dòng
suối trong veo. Bên cạnh đó có hai Bảo Tháp là nơi mà hai
con rồng từ dưới đất trồi lên. Bồ Tát sanh rồi mà những
người hoàng tộc chưa kịp mang nước đến để tắm thì
trước mặt hoàng hậu đã phát sinh ra hai dòng suối, một
ấm một lạnh để tắm rửa. Phía Nam của Bảo Tháp là nơi
mà Thiên Đế Thích đã đón tiếp Bồ Tát khi Bồ Tát mới
đản sanh. Thiên Đế Thích đã dùng áo mềm mại của trời
quỳ xuống dâng cho Bồ Tát. Tiếp theo đó có bốn Bảo Tháp,
đây là nơi Tứ Thiên Vương bồng ẵm Bồ Tát. Bồ Tát từ
hông phải mà sanh ra.
Tứ
Đại Thiên Vương mặc áo màu vàng, ẵm Bồ Tát để trên
bàn vàng, rồi đến trước hoàng hậu thưa rằng phu nhân đã
sanh một quý tử phước đức, xin hoan hỷ chúc mừng. Chư
thiên còn hỷ lạc huống gì người trần thế.
Cách
Bảo Tháp của Tứ Thiên Vương bồng Thái Tử không xa mấy,
có một thạch trụ lớn, trên đầu có chạm hình con ngựa
do Vua A Dục kiến tạo nên. Sau nầy bị con ác long nổi sấm
sét làm cho trụ đá bị gãy ngang ở giữa và rơi xuống đất.
Bên cạnh đó có một con sông nhỏ chảy về hướng đông
nam. Phong tục địa phương gọi nơi đây là sông Dầu, là
nơi mà hoàng hậu Ma Gia sanh xong, chư Thiên hóa ra ao nầy để
tắm gội cho sạch sẽ. Muốn làm cho phu nhân lấy nước nầy
trừ khử những gió bụi và sau đó biến thành nước chảy
qua dòng sông nầy. Từ phía đông đi tiếp qua khu rừng rậm,
đến nước Lam Ma.
3)
Nước Lam Ma bây giờ đã hoang phế không còn dấu vết gì,
thành ấp đã đổ nát xiêu vẹo, người dân thưa thớt. Thành
xưa ở phía đông nam có một Bảo Tháp lợp ngói cao gần 100
mét. Ngày xưa sau khi đức Như Lai nhập diệt, Vua của nước
nầy đến phân chia Xá Lợi mang về nước của mình rồi ra
sức tôn tạo kiến thiết nên. Đây là nơi rất linh thiêng,
có ánh sáng phát ra từ Tháp. Bên cạnh Bảo Tháp có một ao
nước trong. Mỗi lần con rồng ra đi nó biến thành con rắn.
Phía bên phải cũng có một Bảo Tháp. Có các con voi dùng vòi
để rải hoa. Để cho các thế lực khác không thể xen vào,
Vua Asoka đã kiến tạo nên Bảo Tháp ấy. Bảy nước đã xây
dựng xong rồi bắt đầu đến nước nầy muốn làm Bảo Tháp
khác, nhưng con rồng ở hồ nầy giận dữ khi thấy được
và muốn cướp đoạt nên biến thành một Bà La Môn cúi đầu
trước con voi mà nói: Đại Vương có tấm thịnh tình hoằng
dương Phật Pháp là một ruộng phước rất lớn, xin thỉnh
đại vương giáng lâm nơi tệ xá của tôi. Vua hỏi:
- Nhà
của ngươi cách đây xa gần?
Bà
La Môn đáp:
- Tôi
là vua rồng của hồ nầy, thấy đại vương muốn xây dựng
nơi phước đức nên đến thỉnh mời. Vua thọ nhận sự thỉnh
mời mà đi vào Long cung, ngồi chờ một hồi lâu rồng tiến
đến nói:
- Tuy
tôi thọ ác nghiệp nên làm thân rồng nầy. Nay muốn cúng
dường xá lợi để được tiêu tội, nên mời vua đến đây
để mà đảnh lễ.
Vua
A Dục nghe thấy xong liền vui vẻ mà nói:
- Mọi
sự cúng dường không phải chỉ của người trong nhân gian.
Rồng
đáp:
- Nếu
vậy thì nguyện không bao giờ phá hoại.
Vua
A Dục tự nghĩ chính mình làm không cần người khác, lui về
mà chẳng khai phát và sau khi đi khỏi ao rồi, chỗ nầy vẫn
còn nguyên như cũ.
Bên
cạnh Bảo Tháp chẳng bao xa, có một Già Lam, tăng chúng an
hòa thanh tịnh trang nghiêm mà hầu như chỉ có Sa Di là đảm
nhận việc chúng. Khách tăng từ xa đến lễ bái gặp những
vị nầy, chắc chắn được ở lại ba ngày và tứ sự cúng
dường. Nghe người xưa thuật lại rằng:
Ngày
xưa ở đây có một vị Tỳ Kheo đã gọi mời bạn của mình
đến. Khi từ xa đến lễ Tháp thấy những con voi bao bọc
chung quanh và tới lui nơi đó, hoặc chúng lấy ngà xới cỏ,
lấy vòi phun nước, chúng mang những hoa lạ đến cúng dường.
Lúc thấy chúng như vậy, cho nên mới bi thán cảm động và
có một vị Tỳ kheo liền xả giới cụ túc nguyện ở lại
đó để cúng dường, rồi cùng chúng nói rằng:
Ta
tuy có nhiều phước nhưng lạm ở trong tăng. Năm tháng qua
mau mà hành nghiệp chẳng có gì. Trong tháp nầy có thờ Xá
Lợi. Do đức độ của Phật mà dung thông đến loài voi, cho
nên ta mang thân đến nơi nầy để cùng chịu cực khổ với
các ngươi. Nói xong liền được thêm một cái răng nên rất
sung sướng.
Loài
voi bảo rằng:
- Thật
là đáng quý hóa thay. Chúng tôi không có tâm xấu để làm
việc nầy, mà do sự tự ái không thể thắng được nghiệp.
Cũng như đã xa bầy mà làm nên lời nguyện. Riêng ở một
mình cho đến cuối đời để lập chí. Đây giống như cỏ
tranh để làm nhà, dẫn nước mưa thành hồ. Hái hoa trải
ra, quét dọn sạch sẽ. Cả thời gian như thế mà tâm không
giải đãi. Các Vua nước khác nghe việc như trên, bèn bỏ
của báu ra để kiến tạo Già Lam, để mà khuyến khích nhiệm
vụ của một vị Tăng. Từ đó đến nay không lãng xao công
việc cho nên gọi là Sa Di Tổng Tri Tăng Sự. Phía đông của
chùa Sa Di là một rừng lớn, đi hơn một trăm dặm thì đến
một Bảo Tháp do Vua A Dục dựng nên. Đây là nơi Thái Tử
du thành cởi bỏ hoàng bào, chuỗi anh lạc giao lại cho phụ
thân. Thái Tử đi ra khỏi thành từ lúc nửa đêm cho đến
sáng thì đến đây. Nhờ túc duyên đời trước mà nay được
thân người nên nói rằng:
- Ta
cởi Long Bào xa lìa sự ràng buộc là nơi sang trọng cuối
cùng của vương tử dòng họ Thích, rồi đưa lên trên không
trung những bảo vật nầy nói:
Ngươi
nên mang những thứ quý giá nầy về cho phụ vương ta. Đừng
trông chờ ta nữa vì ta đã xa lìa rồi. Ta muốn đọan bỏ
sự vô thường và cắt trừ các lậu hoặc. Xa Nặc đáp:
- Kẻ
hạ thần nầy phải trở về xa giá không sao? Thái Tử liền
uỷ dụ những lời lẽ thân tình rồi bảo lui. Phía đông
của Bảo Tháp hồi giá có một cây Trâm (Jimbu), cành lá đã
khô nhưng vẫn còn chắc. Bên cạnh đó lại có một Bảo Tháp
nhỏ, nơi mà Thái Tử cởi áo quý làm bằng da nai rồi tự
mình cắt tóc. Tuy chỉ cởi chuỗi anh lạc mà còn chiếc áo
trên người, y phục bình thường làm sao có thể cải đổi
dễ dàng được. Lúc đó trời Tịnh Cư hoá thành chuột núp
trong hai cánh áo da nai. Thái Tử đưa y lên mà nói rằng:
- Muốn
trao đổi, thì nguyện phải đầy đủ.
Con
chưột thưa rằng:
- Tốt
Đoạn
Thái Tử cởi y phục giao cho con chuột. Được y con chuột
thăng lên trời, mang áo nầy lui về hư không.
Nơi
cởi áo của Thái Tử chẳng xa mấy có một Bảo Tháp do Vua
A Dục dựng lên. Đây là nơi Thái Tử cắt tóc. Thái Tử tự
lấy dao nơi Xa Nặc để cắt tóc. Thiên Đế Thích đưa về
Thiên cung để cúng dường. Lúc bấy giờ Vua trời Tịnh Cư
hóa làm một người có tóc cầm con dao đi bộ đến. Thái
Tử hỏi:
- Có
thể cắt tóc sao? Ngươi có thể cạo sạch cho ta.
Sau
đó kẻ hóa thành người đó phụng mệnh cạo tóc.
Sau
khi đi rời thành xuất gia mà thời gian nầy không rõ, có nơi
nói lúc Bồ Tát 19 tuổi, có nơi nói 29 tuổi đó là nhằm
giữa đêm ngày mồng 8 tháng Vệ Sa Khư, ra khỏi thành xuất
gia tìm đạo nhằm ngày mồng tám tháng ba. Hoặc có nơi nói
giữa đêm ngày 15 tháng Vệ Sá Khư, tức nhằm ngày 15 tháng
3.
Phía
đông nam của Bảo Tháp, nơi Thái Tử cắt tóc là một ngôi
rừng đi hơn 189 dặm, đến rừng Ni Câu Lô Đa, nơi đó có
một Bảo Tháp cao hơn 30 thước. Ngày xưa, sau khi Như Lai tịch
diệt, Xá Lợi được phân chia mà các Bà La Môn thì không
có được. Sau lễ Trà Tỳ nên đến lấy phần than còn lại
để mang về nước mình xây tháp để cúng dường. Tại nơi
nầy có nhiều điều linh thiêng, ai có tật bịnh đến cầu
nguyện thì khỏi.
Nơi
phía Tháp trơ có một Già Lam cũ, đó cũng là nơi di tích của
bốn vị Phật quá khứ tọa thiền cùng kinh hành.
Hai
bên trái phải của Già Lam cổ có cả hàng trăm Bảo Tháp
khác. Trong đó có một cái lớn do Vua A Dục xây, đã được
tôn sùng nhưng đã bị hư hoại, cao hơn 100 thước.
Từ
phía đông bắc đi về phía rừng lớn qua một con đường
rất khó khăn và đầy nguy hiểm có sơn dương, voi, sư tử.
Chúng đã làm hại không biết bao nhiêu người lữ hành nơi
đây. Ra khỏi rừng nầy thì đến nước Câu Thi Na Kệ La.
4)
Nước Câu Thi Na Kệ La thành ấp đã bị hư nhưng cũng có
nhiều chỗ còn tốt, chu vi thành bằng gạch hơn 10 dặm. Người
ở rất thưa thớt. Trong thành nội phía đông bắc có một
Bảo Tháp do Vua A Dục dựng nên. Đây là nhà cũ của ông Thuần
Đà, trong nhà có một cái giếng, mà ông đã lấy nước cúng
cho Phật, thời gian tuy qua lâu nhưng nước giếng vẫn còn
trong suốt.
Phía
tây bắc của thành hơn 3.4 dặm băng qua sông A Tỳ Ba Phạt
Đễ. Không xa bờ sông phía tây thì đến rừng Sa La. Loại
cây nầy có vỏ xanh trắng, lá có nhiều ánh sáng. Có bốn
cây thật cao. Đây là nơi Như Lai đã tịch diệt. Trong tịnh
xá làm bằng gạch, có tạc tượng Như Lai nhập Niết Bàn,
đầu nằm xây về hướng bắc. Bên cạnh đó có một Bảo
Tháp do Vua A Dục xây, mà nền móng đã nghiêng, cao hơn 200
mét. Phía trước có dựng một trụ đá ghi lại sự tịch
diệt của Như Lai. Tuy có chữ ghi nhưng không thấy ngày tháng.
Tương truyền rằng: Phật sống 80 tuổi đến ngày 15 tháng
Vê Sa Khư thì nhập Niết Bàn. Bây giờ nhằm ngày 15 tháng
3. Theo Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ. Phật nhập Niết Bàn vào
lúc nửa đêm ngày mồng tám tháng Ca Sắc Đệ Ca, bây giờ
nhằm ngày mồng tám tháng chín. Việc Phật nhập Niết Bàn
có nhiều bộ phái có ý kiến khác nhau, hoặc nói hơn 1200
năm, hoặc nói hơn 1300 năm, hoặc nói hơn 1500 năm, hoặc nói
hơn 900 đến 1000 năm, (tính từ thời Ngài Đường Tam Tạng)
Cách
Tịnh Xá chẳng xa, có một Bảo Tháp, đó là nơi ngày xưa
Như Lai tu Bồ Tát hạnh cứu con chim trĩ chúa thoát chết. Vì
là rừng cây cho nên có nhiều thú và chim muông làm tổ. Gió
từ bốn phương thổi mạnh, con chim bị thương đau đớn phát
tiếng ai oán mỗi lần nó bay lên. Lúc ấy Thiên Đế Thích
thấy và nói rằng:
- Nhà
ngươi sao lại ngu thế mang một đôi cánh nặng nhọc như thế.
Khi lửa cháy rừng há ngươi chẳng biết bị hại đến tánh
mạng sao?
Con
chim trĩ đáp rằng:
- Ai
nói vậy?
Đáp
rằng:
- Ta
là Thiên Đế Thích đây
Con
chim trĩ nói:
- Hôm
nay Thiên Đế Thích có đại phước lực, không muốn chẳng
gặp. Cứu tai trừ nạn, nếu có thể ra tay. Bằng không thì
chẳng có công đức gì hết. Bây giờ, lửa cháy đã nhiều
rồi không thể dùng lời nói nữa, hãy làm cho tất cả bay
đi, lòai khác thì cho lặn xuống nước.
Rồi
thì Đế Thích mang nước tưới vào rừng, lửa tắt hết khói
các mạng sống hoàn mệnh. Cho nên, đây có tên là Bảo Tháp
Cứu Hỏa.
Cách
Bảo Tháp Cứu Hỏa không xa, đó là nơi Như Lai tu Bồ Tát
hạnh cứu sanh mạng của con nai. Ngày xưa đây cũng là một
khu rừng lớn. Khi lửa bắt đầu cháy, muôn thú chạy tứ
tán. Chạy phía trước gặp một nơi rất nguy hiểm, thối
lui sau thì gặp ngọn lửa lớn. Chắc phải trầm mình để
thí thân mạng nầy. Trong lúc con nai lo chạy thoát thân nhìn
tới nhìn lui, không muốn bị chết thiêu, bỗng nhiên có một
con thỏ phía sau chạy tới, trông thấy nó rất là khổ sở.
Nước đã đến cổ và đến lưng nên phải chết. Chư Thiên
thâu cốt về xây tháp. Không xa về phía tây của Bảo Tháp
con nai nầy là nơi ông Tu Bạt Đà Na nhập diệt. Ông ta vốn
là người theo Phạm Chí sống đến 120 tuổi, là người đặc
biệt đa trí, nghe Phật nhập diệt, đến rừng Ta La Song Thọ
yêu cầu ngài A Nan thưa rằng:
- Tuy
biết đức Phật sắp Nhập diệt, nhưng tôi còn nhiều điều
nghi ngờ, nguyện muốn được thỉnh vấn.
A Nan
bảo:
- Phật
sắp vào Niết Bàn không nên quấy rầy.
Đáp
rằng:
- Tôi
nghe Phật ở đời khó gặp, chánh pháp khó nghe. Tôi có lòng
nghi lớn sợ rằng không thể hỏi ở đâu được.
Tu
Đạt bèn được vào trước gặp Phật và hỏi Phật rằng:
- Ai
cũng tự xưng làm Thầy riêng biệt, Mỗi vị có mỗi
pháp khác nhau để giảng dạy cho người đời, Cồ Đàm có
thể biết hết không?
Như
Lai đáp:
- Ta
đã chứng đắc và hiểu biết sâu xa mà vì đó diễn thuyết.
Ngài Tu Đạt nghe xong tín tâm thanh tịnh, cầu vào trong pháp
nầy để được thọ Cụ Túc giới.
Như
Lai bảo rằng: Ngươi há có thể làm được sao? Ông là kẻ
ngoại đạo tu học theo Phạm Chí, từ lúc lên bốn?
Sau
khi quán sát những việc làm và tư cách, oai nghi tịch tĩnh,
ngôn ngữ thành thật, liền cho vào trong Giáo đoàn của Ngài
để tu phạm hạnh. Tại đó ông thực hành không có gì khó
cả.
Tu
Đạt đáp rằng:
- Thế
Tôn thương tưởng tế độ vô tư. Từ bốn tuổi đã học
ba nghiệp cho nên thuận lợi.
Phật
bảo rằng:
- Ta
đã nói hết rồi, ngươi tự mà hành trì.
Liền
cho phép Tu Đạt xuất gia và thọ giới Cụ Túc. Ông ta tinh
cần tu tập phát tâm dõng mãnh. Ở trong pháp chẳng nghi mà
tự chứng được đạo quả. Đêm chưa tàn, ông đã chứng
được quả A La Hán, các lậu đã hết, các phạm hạnh đã
lập và không muốn thấy cảnh Phật nhập Niết Bàn cho nên
liền từ trong chúng nhập vào lửa tam muội hiện biến thần
thông để tịch diệt trước. Đây là đệ tử cuối cùng
của đức Như Lai.
Cho
đến trước khi nhập diệt Như Lai còn độ cho ông Tu Đạt,
hậu thân của con thỏ què kiếp trước.
Bên
cạnh tháp tịch diệt của Thiện Hiền là nơi của các thần
Chấp Kim Cang. Đức Đại Bi Thế Tôn tùy căn cơ mà làm lợi
lạc. Việc hóa độ đã xong nên vui vào cảnh Niết Bàn, nơi
hai cây Ta La Song Thọ, nằm đầu xoay về hướng bắc. Thần
Chấp Kim Cang Mật Tích Lực Sĩ thấy Phật diệt độ sầu
thảm than rằng:
- Như
Lai đã bỏ con mà vào Niết bàn rồi, không có chỗ nương
tựa, không có chỗ bảo hộ, như gặp phải tên độc và gặp
phải lửa dữ. Thần Kim Cang buồn thả chày trên mặt đất,
rồi bi ai luyến tiếc và tự nói rằng: Biển sanh tử lớn
lao, ai là người có thể tạo thuyền được. Đêm dài vô
minh tăm tối ai là bậc làm đuốc soi đường.
Phía
bên Bảo Tháp nơi Thần Kim Cang bỏ chày là nơi mà thiết lễ
cúng dường sau khi Như Lai diệt độ bảy ngày. Khi Như Lai
sắp diệt độ ánh sáng chiếu bừng lên, trời người đều
thấy biết, chưa hết sầu bi thì đã nghe la rằng:
Đấng
Đại Giác Thế Tôn sắp vào Niết Bàn, chúng sanh phước đã
hết, Thế gian không có nơi nương tựa. Đức Như Lai nằm
với dáng sư tử nghiêng bên phải bảo với đại chúng rằng:
- Hãy
đừng thấy Như Lai nhập diệt, vì pháp thân thường trụ
lìa các sự biến đổi. Hãy đừng giải đãi nữa mà sớm
cầu giải thoát.
Các
vị Tỳ kheo nghe rồi lòng rất bi cảm. Lúc bấy giờ ngài
A Na Luật bảo cùng các Tỳ Kheo rằng:
- Hãy
đừng sầu bi nữa, để cho chư thiên quở trách. Lúc bấy
giờ dân chúng làng Mạt La đến cúng dường rồi muốn giở
kim quan của đức Phật nơi ngài nhập Niết Bàn thì ngài A
Na Luật bảo rằng:
Hãy
dừng lại, chư thiên muốn lưu lại bảy ngày để cúng dường.
Chư
Thiên mang hoa hương kỹ nhạc từ trên không trung tán tụng
Thánh Đức, ai ai cũng đều thành tâm để lo việc cúng dường.
Bên
cạnh chỗ để kim quan ấy có một Bảo Tháp, là nơi Ma Gia
phu nhân khóc thương Phật. Sau khi đến viếng thăm kim quan.
Lúc đức Như Lai tịch diệt. Lúc bấy giờ Ngài A Na Luật
cáo bạch với Ma Gia phu nhân rằng:
- Đấng
Đại Thánh Pháp Vương đã tịch diệt rồi.
Ma
Gia nghe xong bi lụy buồn khổ, cùng với Thiên Chúng xuống
nơi Ta La Song Thọ. Thấy Đại Y, Bình Bát và Tích Trượng,
vỗ kim quan sầu thảm bi ai than rằng:
- Phước
của trời người đã hết. Thế gian không còn mắt nữa. Từ
đây không còn ai làm chủ.
Lúc
ấy nhờ vào Thánh lực của Như Lai, nắp kim quan tự mở ra,
phóng đại quang minh, đức Phật ngồi dậy chắp tay an ủi
hỏi han từ mẫu từ xa giáng xuống. Các pháp hành đều như
thế xin đừng sầu bi. Ngài A Nan đứng kế cận đó cũng bi
ai mà thỉnh Phật rằng:
- Như
người đời sau hỏi con, con biết đối đáp làm sao!
Đáp
rằng:
- Khi
Phật nhập Niết Bàn mà từ mẫu Ma Gia từ thiên cung giáng
xuống rừng Sa La. Như Lai vì chúng sanh bất hiếu mà từ kim
quan trổi dậy chắp tay để nói pháp. Phía bắc của thành
qua con sông ba trăm bước đi bộ có một Bảo Tháp. Đó là
nơi làm lễ trà tỳ của đức Như Lai. Nơi đất hỏa táng
nầy cho đến bây giờ vẫn còn màu vàng và màu đen. Có người
chí thành thỉnh cầu cũng được Xá Lợi. Khi đức Như Lai
tịch diệt, trời người bi cảm, đã bọc bảy lớp báu chung
quanh quan tài với cả ngàn sợi dây, đem hương hoa và tràng
phan bảo cái trang hoàng trang nghiêm đẹp đẽ trước sau hai
bên đường. Phía bắc qua một con sông toàn là mùi hương
dầu gồm nhiều loại hương khác nhau từ gỗ thơm để hỏa
thiêu. Gồm hai lớp quấn không thiêu được, một lớp sát
trong thân, một lớp bao ở bên ngoài, để vì chúng sanh mà
phân tán Xá Lợi. Duy chỉ có tóc và móng tay là không tổn
hại.
Bên
cạnh chỗ trà tỳ có một Bảo Tháp, đây là nơi mà Như Lai
đã hiện hai chân ra cho ngài Đại Ca Diếp thấy. Vì dưới
kim quan đức Như Lai, chất toàn là gỗ thơm. Khi hỏa thiêu,
không cháy làm cho mọi người kinh ngạc. Ngài A Na Luật bảo
rằng hãy chờ Ngài Ca Diếp đã. Lúc ấy Ngài Đại Ca Diếp
cùng năm trăm đệ tử từ rừng xa về đến thành Câu Thi
và hỏi ngài A Nan rằng:
- Có
thể xem thân thể Thế Tôn chăng?
Ngài
A Nan đáp:
- Đã
quấn hàng ngàn lớp vải chung quanh rồi, đồng thời đã chưẩn
bị gỗ thơm để thiêu.
Ngay
lúc ấy, Phật từ trong kim quan thò hai chân ra và hình bánh
xe trong lòng bàn chân đã biến sắc. Đoạn hỏi A Nan:
- Làm
sao có việc nầy được?
Đáp
rằng:
- Phật
đã vào Niết Bàn lần thứ nhất. Trời người bi lụy.
Nước mắt của họ đã thấm vào chân cho nên mới biến sắc
như vậy.
Ngài
Ca Diếp đã đảnh lễ đi nhiễu và tán thán ca ngợi. Lúc
bấy giờ gỗ thơm mới bắt đầu phựt lửa cháy lớn. Đây
là ba lần ra khỏi quan tài của Như Lai sau khi tịch diệt.
Lần thứ nhất ra để hỏi A Nan cách trị lộ (giữ đường).
Lần thứ hai, ngồi dậy thuyết pháp cho mẫu hậu. Lần thứ
ba hiện đôi chân cho Ngài Ca Diếp thấy. Phía nơi hiện chân
ra của đức Phật có một Bảo Tháp do Vua A Dục xây dựng.
Đây là nơi phân chia tám phần Xá Lợi cho tám ông Vua. Phía
trước có dựng trụ đá có khắc ghi lại việc nầy. Sau khi
thị tịch, Phật vào sâu trong Niết Bàn. Chư Vương trong tám
nước đem bốn loại binh đến và có những vị Trực Tánh
Bà La Môn đến thành Câu Thi yêu cầu những đại lực sĩ
rằng:
- Bậc
Thầy của trời và người đã tịch diệt ở nước nầy cho
nên lặn lội đến đây để chia Xá Lợi
Lực
sĩ đáp:
- Như
Lai giáng sanh ở đây là bậc Tôn Quý, thị tịch ở đây.
Việc thị tịch ấy thế gian đã biết rõ. Ngài là bậc cha
lành của chúng sanh, đương nhiên Xá Lợi của Như Lai được
cúng dường, mà những kẻ bên ngoài không được gì cả.
Lúc
bấy giờ các Đại Vương mới tìm đến, rồi chẳng hài lòng
nên nói rằng:
- Việc
thỉnh Xá Lợi chẳng phải là dùng binh lính từ xa đến uy
hiếp và ông Trực Tánh Bà La Môn nói cao giọng rằng:
- Kính
lạy đức Đại Bi Thế Tôn, Ngài tu phước và làm lành qua
nhiều đời nhiều kiếp. Ở đây ai cũng nghe đầy đủ rồi,
mà nay còn muốn tranh giành xá lợi của Ngài là điều rất
phi lý.
Bấy
giờ Xá Lợi chia ra làm tám phần, mỗi vị đều được cúng
dường, khỏi phải cần binh lính. Các lực sĩ y theo lời nầy,
liền chia ra làm tám phần và Đế Thích nói với chư Vương
rằng:
- Trời
cũng sẽ có một phần xin đừng dùng lực mà mang đi.
Long
Vương A Na Bà Đáp Đa, Long Vương Văn Lân, Long Vương Y Na Bát
Đản Đa... cùng bàn với nhau tại sao mình không có. Nếu mà
dùng lực để cạnh tranh, chắc là không địch nổi.
Ông
Trực Tánh Bà La Môn nói rằng:
- Đừng
có tranh nữa. Ai cũng có phần hết.
Sau
đó chia ra làm ba phần, phần thứ nhất cho chư Thiên, phần
thứ hai cho Long Vương, phần thứ ba cho Người lưu giữ, chia
đều cho tám Vua. Lúc ấy Trời, Rồng, Người, Vua chẳng ai
buồn gì cả.
Phía
Tây Nam của Bảo Tháp phân chia Xá Lợi, đi hơn hai trăm dặm,
thì đến làng của một vị Bà La Môn. Ông nầy là người
giàu có sung túc, thật học không xen tạp, nghiên cứu Ngũ
Minh, tôn kính Tam Bảo. Ông ta đến ở đây và kiến lập nơi
chốn để cúng dường chư Tăng. Ông cung cấp đầy đủ những
vật dụng cần thiết khi mà chúng Tăng ngang qua nhà. Ông vui
vẻ cung thỉnh lưu lại và phát tâm cúng dường. Hoặc ở
lại một đêm cho đến bảy ngày. Trong khi đó Vua Thường
Ca hủy diệt Phật pháp, chúng Tăng dần dần chẳng còn ai.
Ông Bà La Môn luôn luôn hoài niệm. Có hôm đang đi kinh hành,
thấy một vị Sa Môn tóc bạc mi dài tay cầm tích trượng
đang đi. Vị Bà La Môn chạy đến trước mặt và hỏi:
- Ngài
từ đâu đến?
Sau
đó thỉnh vào tăng phòng để làm lễ cúng dường cháo nấu
bằng sữa. Vị Sa Môn đang ăn, bị sút một cái răng. Ngài
để bình bát xuống và trầm ngâm suy nghĩ. Vị Bà La Môn quỳ
xuống hỏi rằng:
- Đại
Đức liễu tri. Nhân duyên gì mà suy tư như thế, có phải
vì đêm qua không an ổn hay vì cháo không ngon?
Vị
Sa Môn từ tốn đáp rằng:
- Ta
thương cho chúng sanh phước mỏng, muốn nói mà chưa đúng
lúc. Ăn xong sẽ nói.
Sau
khi Sa Môn ăn xong xếp y. Ông Bà La Môn thưa:
- Ngài
đã hứa khả, sao Ngài chưa nói?
Sa
Môn đáp:
- Ta
không quên đâu. Nhưng mà nói không dễ dàng. Cho đến khi nào
sự viêc thành nghi, ta mới nói. Ta tán thán không phải coi
nhẹ bát cháo của ngươi đâu, và từ trăm năm nay chưa được
mùi vị như thế. Ta đã có mặt từ khi Như Lai còn tại thế.
Trong Tinh Xá Trúc Lâm, thành Vương Xá, ta rửa chén bát, hoặc
lấy nước tắm. Khi phước báo của trời người đã hết
giống như sữa sẽ thành nước trong.
Bà
La Môn hỏi:
- Đích
thân Đại Đức có gặp Phật không?
- Đương
nhiên, Người không nghe La Hầu La, đệ tử của Phật. Chính
ta đó. Vì hộ trì Chánh Pháp của Phật mà chưa vào Niết
Bàn.
Nói
xong, liền biến mất không còn thấy nữa. Vị Bà La Môn bèn
quét dọn căn phòng sạch sẽ, xông hương và tạo tượng và
cung kính như lúc đã gặp.
Lại
nữa từ rừng sâu kia đi hơn 500 dặm, đến nước Bà La Nê
Tu (Ba La Nại)
Đại
Đường Tây Vức Ký hết quyển thứ sáu