|
GIAO
HƯỞNG-HỢP XƯỚNG “KHAI GIÁC”:
MỘT
TÁC PHẨM CÓ MỘT KHÔNG HAI TRONG LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT
NAM
Nguyễn
Thụy Kha
 |
 |
Việc
luyện tập "Khai giác" của nhà soạn nhạc Nguyễn Thiên Đạo
viết để trình diễn tại "Đại lễ Phật đản Liệp Hợp
Quốc 2008" tổ chức ở VN, đang giai đoạn hoàn thiện.
Chưa
bao giờ ở nước ta lại có một tác phẩm âm nhạc thể loại
giao hưởng - hợp xướng lại huy động đến một dàn hợp
xướng đông tới 350 người và dàn nhạc giao hưởng 150 người
để trình diễn trong 40 phút liên tục.

Đó
vừa là biểu hiện sự nỗ lực của nhà soạn nhạc và những
người tổ chức, vừa là biểu hiện lòng thành của con người
Việt với đạo Phật từ ngàn năm nay.
Nguyễn
Thiên Đạo từ Paris về quê hương từ ngay sau ngày thống
nhất đất nước. Khoảng mười năm nay, ông mới thực sự
có điều kiện thường xuyên ở VN và thường xuyên đắm
chìm trong "Con âm xứ sở" để mong ước tạo ra những tác
phẩm âm nhạc đậm chất phương Đông, đậm chất quê hương.
Dù đã kề tuổi "Nhân sinh thất thập", Nguyễn Thiên Đạo
vẫn không ngừng tìm kiếm những cuộc hoá thân mới trong
sáng tạo. Và ông đã gặp được Đại đức Thích Đức Thiện.
Trong
không gian tịch mịch của chùa Phật Tích, Nguyễn Thiên Đạo
đã choáng ngợp bất ngờ khi nghe giọng thỉnh kinh đầy mê
lực của vị đại đức trẻ, nhưng thông minh đĩnh ngộ với
trí lự sâu sắc. Ham muốn viết một tác phẩm âm nhạc tầm
vóc về Phật giáo đã bén bùng trong tâm hồn nhà soạn nhạc.
Ham muốn ấy đã gặp nhân duyên.
Để
có thể thực hiện được một tác phẩm âm nhạc tầm vóc
về Phật giáo, Nguyễn Thiên Đạo đã nghiên cứu rất kỹ
bài kệ dài của Phật tử Ngô Minh Thơm được viết ra bằng
linh giác kỳ lạ, nhưng kỳ lạ hơn là nó lại mang đầy tinh
thần của "Khoá
hư lục" - một bộ kinh Phật giáo VN hiếm hoi của
Vua Trần Thái Tông (1218-1277). Sau nhiều trăn trở, Nguyễn Thiên
Đạo bước tới nhất nguyên thật sự của sự đốn ngộ.
Vượt qua ngôn ngữ âm nhạc phi cung, phi điệu tính, ông trở
về với ngôn ngữ âm nhạc điệu tính, với ngũ cung, nhưng
với lối tiến hành không như những nhà soạn nhạc dùng ngôn
ngữ điệu tính, nhưng chưa trải qua ngôn ngữ âm nhạc phi
cung, phi điệu tính.
Nguyễn
Thiên Đạo đã quyết định chọn cấu trúc cho tác phẩm âm
nhạc của mình gồm 7 chương dựa trên tích 7 tuần Thái tử
Sĩ-Đạt-Ta (Siddharta) tham thiền nhập định giác ngộ hoàn
toàn trở thành Phật Thích Ca Mâu Ni - Giáo tổ khai sáng đạo
Phật.
Chương
mở đầu mang tên "Thiền quán tưởng" nhằm mô
tả không khí thiền định khi thái tử mới bắt đầu tĩnh
tâm thoát khỏi những vướng bận trần thế trong ý nghĩ.
Câu niệm "Na mô A Di Đà Phật" được khai thác như một môtuýp
lặp lại tả cảnh mới nhập thiền của thái tử.
Chương
hai mang tên "Tử" tả sự đau buồn của loài người
trước cái chết sinh vật. Dòng nhạc từ trầm lên cao vút
trong tiếng thét rồi xuống trầm để nổi lên tiếng ma hú
rùng rợn. Nhưng chính khi con người ý thức rằng mình sẽ
chết thì khát khao sống mới mạnh mẽ vượt qua cái chết
sinh vật
Chương
ba mang tên "Sinh" tả sự ngoái nhìn xa hơn về đời
sống con người trên dương thế với những trạng thái tâm
lý đặc biệt như cuồng, hỷ, nộ. Ơ đây, tinh thần "Khoá
hư lục" đã thấm vào những đoạn niệm của Phật tử Ngô
Minh Thơm và đã được tác giả thổi vào âm hưởng dân gian
của tuồng, chèo, tài tử Nam Bộ. Mạnh Dũng - giọng nam cao,
Quốc Hưng - giọng nam trầm, Bích Thuỷ - giọng nữ cao hát
với dàn nhạc đã thể hiện rất xuất sắc ba trạng thái
tâm lý này.
Chương
bốn mang tên "Trừ tà" miêu tả sự trừ ma chướng
và cám dỗ. Dàn nhạc như thác đổ lở đất long trời. Hợp
xướng như những tiếng gầm thét của ác quỷ.
Chương
năm mang tên "Thiền nhập định" với sự xuất
hiện tụng kinh "Bát nhã Ba La Mật" của tốp hợp xướng tăng
ni đem lại sự độc đáo đột ngột. Một giọng nam đọc
thơ Ngô Minh Thơm và tốp hợp xướng tăng ni quyện nhau cùng
dàn nhạc. Kết thúc bằng cụm nốt đẹp của hợp xướng
nữ.
Chương
sáu mang tên "Bay lên". Đàn dây trữ tình nổi lên
dần dần. Tiếng chuông đổ lưng trời mừng Đại lễ Phật
đản, mừng Phật bay lên Niết bàn.
Chương
bảy mang tên "Niết bàn" tràn đầy một cảm xúc
mênh mang của cõi Niết bàn như lời Trần Thái Tông trong "Khoá
hư lục": "Ngàn sông có nước ngàn trăng chiếu/ Muôn dặm
không mây muôn dặm trời".
Để
thực hiện trình diễn được tác phẩm âm nhạc tầm vóc
về Phật giáo như thế, những người tổ chức đã chọn
lực lượng nghệ sĩ là sinh viên Học viện Âm nhạc quốc
gia VN. Một tốp chỉ huy giúp cho nhạc trưởng từng bè gồm
có các nhạc sĩ Nguyễn Hoà Bình, Phạm Ngọc Khôi và Đặng
Châu Anh. Ngày 21.4.2008, toàn bộ nửa ngàn người tham gia "Khai
giác" đã có buổi trình diễn trên sân khấu lớn của Trung
tâm Hội nghị quốc gia (Hà Nội).
"Khai
giác" với sự giác ngộ và tài năng của nhà soạn nhạc Nguyễn
Thiên Đạo xứng đáng là một đóng góp vào dòng chảy của
dòng Phật nhạc đã được khởi sự từ buổi đầu tân nhạc
VN suốt 70 năm qua (1938-2008) mà bắt đầu từ tác phẩm "A
Di Đà Phật" của nhạc sĩ Thẩm Oánh, được giới thiệu
nhân tuần lễ khánh thành chùa Quán Sứ - Hà Nội (ngôi chùa
được trùng tu cuối năm 1942) và sau đó là sự đóng góp
của nhiều nhạc sĩ khác như Hoàng Quý, Trần Văn Khê, Nguyễn
Hữu Ba, Văn Giảng v.v...
"Khai
giác" dường như gợi nhớ đến những lời thơ của Trần
Thái Tông trong "Khoá
hư lục":
Mây
sinh đỉnh núi nhiều màu trắng/
Nước
đến Tiêu Tương một vẻ trong/
Mưa
xuân không cao thấp/
Cành
hoa có ngắn dài/
Nước
chảy xuôi non đâu có ý/
Mây
tuôn qua núi vốn vô tâm/
Chớ
bảo vô tâm là có đạo/
Vô
tâm còn cách mấy trùng quan...
Nguyễn
Thụy Kha
(Lao
động)
04-24-2008
04:23:12
TỔNG
DUYỆT BẢN GIAO HƯỞNG KHAI GIÁC
MỪNG ĐẠI
LỄ PHẬT ĐẢN LIÊN HỢP QUỐC
 |
 |
Giao
hưởng - hợp xướng "Khai giác": Một tác phẩm có một không
hai trong lịch sử Phật giáo Việt Nam
GIAO
HƯỞNG-HỢP XƯỚNG “KHAI GIÁC”:
MỘT
TÁC PHẨM CÓ MỘT KHÔNG HAI TRONG LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT
NAM
Ngày
21/4/2008, tại Hội trường Trung tâm hội nghị Quốc gia (Mỹ
Đình, Hà Nội) đã diễn ra buổi tổng duyệt bản giao hưởng
hợp xướng “Khai giác” của nhà soạn nhạc Nguyễn Thiện
Đạo với sự tham gia biểu diễn của 450 ca sĩ, vũ công, nhạc
công và 50 Tăng sinh Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà
Nội.
Bản
giao hưởng hợp xướng gồm 7 chương kéo dài 40 phút, dựa
trên lịch sử 7 tuần thái tử Shiddarta giác ngộ thành Phật,
tìm ra chân lý cứu khổ, giác ngộ, giải thoát, đem lại hòa
bình và an lạc cho nhân loại.
Đại
đức Tiến sĩ Thích Đức Thiện: "Bản hợp xướng truyền
thông điệp của Đức Phật về hòa bình, về trí tuệ đến
với tất cả mọi người để cùng xây dựng thế giới hòa
bình, an lạc, đúng với tinh thần của ngày Đại lễ Phật
đản Liên hợp quốc. Âm nhạc là một kênh hoằng pháp, để
tất cả mọi người vượt qua bất đồng ý kiến để cùng
xây dựng một xã hội hòa hợp."
Bản
giao hưởng Khai giác là tác phẩm của nhà soạn nhạc Việt
kiều Nguyễn Thiện Đạo. Ông phải mất nhiều năm nghiên
cứu về Phật giáo để lĩnh hội được những tinh thần
cơ bản của Văn hóa Phật giáo để đưa vào âm nhạc. Ông
đã quyết định không viết bản giao hưởng theo 12 bán cung
của âm nhạc phương Tây mà sử dụng ngũ cung được biến
đổi và từ âm nhạc dân tộc để viết lên Khai giác.
Nhạc
sĩ Việt kiều Nguyễn Thiện Đạo: "Tôi đã quyết định triệt
để đi từ dòng nhạc truyền thống Việt Nam như chèo, tuồng,
tài tử Nam bộ, đặc biệt là bộ trống hùng hậu của nghệ
thuật Tuồng ở vùng Tây Sơn."
Đây
là một chương trình hòa nhạc mang tầm vóc lớn và lần đầu
tiên được thực hiện trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Bản giao hưởng là thông điệp về một Việt Nam giàu truyền
thống văn hóa, thân thiện, yêu chuộng hòa bình, và một Giáo
hội Phật giáo Việt Nam ngang tầm thời đại.
Tăng
sinh Thích Di Sơn - Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội:
“Tôi
rất vui mừng được tham gia vào bản hợp xướng này. Chúng
tôi đến đây là để đọc kinh bát nhã, mong muốn rằng câu
kinh này sẽ hòa theo tiếng nhạc để mãi bay vút vào không
gian, truyền đến khắp mọi người, khắp chúng sinh thông
điệp từ bi và cứu khổ của Đức Phật trong kỳ Đại lễ
Phật đản quốc tế.”
Từ
hơn một tháng nay, các ca sĩ, nhạc công, vũ công, Tăng sinh
đã
bắt đầu luyện tập . Do số lượng người tham gia lớn nhất
từ trước đến nay
nên
việc chỉ đạo luyện tập cũng khá gian nan.
50
Tăng sinh của Học viện Phật giáo Việt Nam
sẽ
tụng kinh Bát nhã hòa vào giàn hợp xướng
Các
ca sĩ, nhạc sĩ, vũ công đến từ Nhạc viện quốc gia Việt
Nam (Nhạc viện Hà Nội),
Giàn
nhạc giao hưởng quốc gia...
Đây
là một sự kiện lần đầu tiên được tổ chức trong lịch
sử Phật giáo Việt Nam
Các
ca sĩ, nhạc sĩ, vũ công đến từ Nhạc viện quốc gia Việt
Nam (Nhạc viện Hà Nội),
Giàn
nhạc giao hưởng quốc gia..
Đại
đức Tiến sĩ Thích Đức Thiện và Nhạc sĩ Nguyễn Thiện
Đạo
Cẩm
Vân
(PhatTuVietNam)
GIÁO
LÝ CỦA ĐẠO PHẬT LÀ THÔNG ĐIỆP CỦA TÌNH THƯƠNG
VÀ DI SẢN
VĂN HOÁ VIỆT NAM
Nguyễn
Quốc Tuấn
 |
 |
Ông
Nguyễn Quốc Tuấn: Trong ý tưởng, lãnh đạo Viện Nghiên
cứu Tôn giáo mong muốn nhân dịp tiến hành Đại lễ Vesak
Liên Hiệp Quốc 2008 tổ chức tại Việt Nam vào tháng 5 năm
2008 sẽ được khởi động từ cuộc hội thảo này.
Cuộc
hội thảo lần này là lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu,
các vị cao tăng thạc đức trong Giáo hội Phật giáo Việt
Nam và các nhà quản lý của các cơ quan Nhà nước cùng nhau
gặp gỡ và bàn bạc về vai trò của Phật giáo Việt Nam trong
thời kỳ đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế. Có thể coi đây là sự chia sẻ
các suy tư chung về vai trò của Phật giáo trong thời kỳ hiện
tại và mở ra một triển vọng mới để có thể nghiên cứu
và quảng bá sâu rộng hơn vị thế độc đáo của di sản
đạo Phật Việt Nam trong hiện tại và tương lai.
-Xin
ông cho biết có bao nhiêu bản tham luận, ông nhận xét như
thế nào qua các bài tham luận này?
Cuộc
hội thảo đã nhận được 16 bản tham luận từ phía các
nhà quản lý, các vị cao tăng và học giả Phật giáo, các
nhà nghiên cứu ở trong và ngoài Viện Khoa học Xã hội Việt
Nam và Viện Nghiên cứu Tôn giáo. Trong 16 bài đó, có thể
coi là các phát biểu từ các góc độ khác nhau tập trung vào
chủ đề chính là Phật giáo Việt Nam có vị trí như thế
nào trong công cuộc xây dựng đất nước hiện tại và thời
gian tới và muốn như vậy, Phật giáo cần phải làm gì, cần
đổi mới ra sao để có thể đáp ứng được kỳ vọng chung.
Các bài tham luận cho thấy một sự khẳng định rằng Phật
giáo không là một di sản văn hóa của thời đã qua, mà đang
hiện diện cùng với nhân dân và Tổ quốc ngay trong hiện
tại, và còn tiếp tục đi cùng đất nước ta trong tương
lai. Phật giáo đã chứng minh rằng đây là một trong những
sức mạnh của đất nước trong thời đại quốc tế hóa,
hội nhập và là một động lực của sự phát triển bền
vững của dân tộc ta trong khi hội nhập. Có rất nhiều bài
tham luận đi trúng vào chủ đề đã chọn của hội thảo
và mỗi bài có một vị trí đáng trân trọng trong hội thảo,
không thể coi bài nào là bài “đinh” trong cuộc hội thảo
này.
-Ông
nghĩ như thế nào về vai trò của Phật giáo Việt Nam đóng
góp vào sự phát triển bền vững của đất nước?
Qua
cuộc hội thảo này, tôi nghĩ rằng đã từ lâu, do nhiều
lý do, chúng ta chưa có dịp rà soát một cách tương đối
thấu đáo vai trò của Phật giáo Việt Nam đối với văn hóa
và xã hội, và đây là dịp để chúng ta cùng nhìn nhận thêm
vai trò đó một cách đầy đủ và cận cảnh hơn. Nếu cho
phép tôi rút ra được điều gì từ cuộc hội thảo về vai
trò của Phật giáo Việt Nam đóng góp vào sự phát triển
bền vững của đất nước thì tôi nghĩ rằng vai trò đó
trước hết là hiện thực và không có gì che phủ được.
Thật vậy, đạo Phật Việt Nam là một hiện thực sống động
mặc dầu đã trải qua bao thăng trầm, thậm chí đã từng
tụt xuống “sàn” của sự tồn vong thời cuối thế kỷ
XIX và hai thập kỷ đầu thế kỷ XX, nhưng bằng sự tự đổi
mới và chấn hưng, đạo Phật Việt Nam đã lấy lại sinh
khí và đã đáp ứng thích đáng đòi hỏi của thời đại.
Từ thời kỳ đổi mới đến nay, cùng với sự nhận thức
sâu sắc thêm về di sản văn hóa truyền thống của Đảng
Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam và đồng tình với
đường lối phát huy di sản văn hóa dân tộc, coi đó là một
trong những động lực của sự phát triển, các giới trong
và ngoài đạo Phật đã liên tục và nỗ lực cho công bố
và nghiên cứu ngày một cụ thể hơn vai trò của đạo Phật
trong sự phát triển, mà xin dẫn lại ý của tôi trong bài
tham luận của mình qua đúc kết các luận điểm đã được
thực tế chứng minh và các nhà nghiên cứu đề cập rằng
đạo Phật là một khoa học, khoa học về nội tâm, góp phần
khai phá và đào sâu vào tâm hồn con người Việt Nam, giúp
người Việt Nam ta có phương tiện để soi tỏ suy nghĩ và
hành động của mình trên tinh thần tự phê phán, từ bi và
chia sẻ một tương lai chung của đất nước. Và do là một
di sản truyền thống, trong đời sống tâm linh, cùng với tiếng
nói, thờ cúng tổ tiên, đạo Phật sẽ tạo thành một trong
ba cột trụ của bản sắc văn hóa Việt Nam , dù đứng ở
góc đứng tộc người hay ở góc đứng quốc gia. Vì vậy,
không có lý do gì mà không thể làm sống động thêm di sản
đó, để nó vừa tạo ra sự cởi mở như tư tưởng
của chính đạo Phật đề xuất, lại vừa là một trong ba
động lực để giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc mà ngày
nay chúng ta đã có dịp kiểm chứng và đang hòa trong không
khí đó.
-Theo
ông giáo lý của nhà Phật phù hợp với sự phát triển
của đất nước ta hiện nay ra sao?
Giáo
pháp của Phật tổ thực sự là một công cụ để giúp con
người cải biến nội tâm một cách khoa học nhất, tràn đầy
lòng thương nhất và lại quen thuộc nhất đối với đại
đa số người Việt Nam.Nhìn ra ngoại quốc, ta có thể thấy
giáo pháp của Phật tổ đang chứng minh rằng nhiều tầng
lớp người thuộc nhiều thành phần và quốc gia khác nhau,
trong đó có những sắc dân và quốc gia được coi là tiên
tiến nhất, là đất cố cựu của Kitô giáo đã và đang tiếp
nhận, thì có thể hiểu giáo pháp đó không phải là một
“trò chơi trí tuệ và hý luận” cho vui, mà thực sự là
một con đường mà nhân loại trong hơn 25 thế kỷ đã lựa
chọn để đạt được sự cân bằng nội tâm, không sa vào
bên nào trong hai thể “thân và tâm” hay “duy tâm và duy
vật” như đã có thời chúng ta hoặc nhấn vào mặt này,
hoặc nhấn vào mặt kia.
Vì
thế, với riêng tôi, giáo pháp của đức Phật tổ là một
lựa chọn hay nếu ta đem vào công cuộc xây dựng và bảo
vệ đất nước hiện tại và tương lai. “Phương tiện”
đó thật sự phù hợp với mọi chiều kích của cuộc sống
hiện nay, từ gia đình cho đến cộng đồng nhỏ và cả xã
hội, nếu như ta nắm chắc rằng đó là phương tiện để
ta có thể tìm thấy ý nghĩa đích thực của cuộc sống: Xây
dựng một sự hòa hợp và công bằng xã hội, bình đẳng
trong cơ hội trên cơ sở của lòng thương đồng loại và
bảo vệ môi sinh. Do đó, tôi tin chắc rằng giáp pháp của
đức Phật vẫn là thông điệp tình người của tương lai
của đất nước ta và của nhân loại.
- Xin
chân thành cảm ơn ông.
Cẩm
Vân thực hiện
(Giác
Ngộ Online)
Bầy
chim sẻ lại sà xuống, xúm xít quanh đĩa bánh mì vụn. Tiếng
chíu chít làm rộn cả vườn sau như lời chào một bình minh
rạng rỡ buổi tàn xuân. Một bình trà buổi sáng mùa xuân,
nắng ấm. Bầu trời trong xanh, chỉ gợn vài đám mây mỏng.
Hương thơm của nhiều loài hoa trong vườn tỏa nhẹ. Bầy
chim sẻ vô tư, không sợ hãi, vừa ăn vừa trò chuyện tíu
tít, nhảy nhót lăng xăng bên cạnh một người ngồi bất
động.
Chẳng
có gì mà phải sợ hãi. Tôi vẫn thường tự nhắc mình như
thế. Nhắc bằng sự ám thị, có khi bằng một câu kinh, một
đoạn kinh, hay một bài kinh ngắn. Thường xuyên nhất là một
đoạn trong Bát-nhã Tâm kinh. “Tâm vô quái ngại, vô quái
ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng,
cứu cánh niết-bàn…” Thực sự là chẳng có gì đáng
phải sợ hãi nếu tâm không còn vướng mắc, ngăn ngại.
Ấy
thế mà trên thực tế đời sống, vẫn còn rất nhiều điều
làm cho mình phải sợ, hay đúng hơn là e ngại, muốn né tránh,
muốn được yên. Nhưng những vị thầy của tôi thì không
sợ hãi.
Một
thời, hàng chục triệu người phải im hơi lặng tiếng, cúi
đầu tuân phục trước bạo lực, hàng trăm ngàn người phải
bó tay trong các trại lao cải, hàng triệu người khác đã
ùn ùn rời bỏ quê hương, hoặc lặng lẽ vượt thoát trên
những chiếc thuyền lớn-nhỏ, thì những vị thầy của tôi,
đứng dậy, cất lên tiếng nói của lương tri, của lẽ phải.
Rồi họ đi tù, mang án tử hình, chung thân khổ sai, hoặc
nhiều năm cấm cố. Những vị thầy khác, để bảo vệ Phật
giáo, người thì cứng rắn, một mực duy trì cơ cấu và danh
xưng của tổ chức truyền thống, người thì nhu thuận chấp
nhận sinh hoạt trong một tổ chức bị giới hạn bởi thế
quyền. Cứng rắn thì bị lưu đày, giam nhốt, quản thúc;
mềm mỏng thì bị lôi kéo, đẩy xô, mang tiếng nhục với
đời. Cả hai thái độ, hai cách hành xử ấy, đều nhằm
mục đích bảo vệ Phật Pháp, đều là những việc khó làm.
Phải vượt qua được sự sợ hãi đối với cái chết, tù
ngục, khổ nhọc thân xác và tâm trí, cũng như nỗi đau nhục
kéo dài đối với dư luận, với miệng lưỡi thế gian mới
có thể thực hiện được những điều bất khả tư nghì
như thế.
Mới
đây, vào tháng 9 năm 2007, những vị thầy khác của tôi ở
Miến Điện, cũng đã đứng dậy, sẵn sàng đối diện với
chết chóc và tù đày, thay mặt toàn dân nói lên tiếng nói
của công bình xã hội, của tự do dân chủ, dấy lên một
phong trào đấu tranh bất bạo động lan rộng trên một đất
nước lâu năm bị khống chế dưới chế độ quân phiệt.
Quả nhiên, chết chóc và tù đày đã đến với họ, những
nhà sư hiền lành áo nâu. Tiếng nói của họ bị bạo lực
dập tắt thật nhanh, nhưng âm hưởng của nó làm rung động
lòng người trên toàn địa cầu.
Và
trong thời gian tôi viết những dòng này, những vị thầy khác
của tôi ở Tây Tạng, một đất nước hiền hòa, linh thiêng,
thơ mộng, nằm trên chóp đỉnh của hành tinh, cũng đã và
đang cất lên tiếng nói và nguyện vọng chung của toàn dân,
khiến cho cả thế giới chấn động, lên tiếng ủng hộ.
Bạo lực sắt máu đã đổ ập xuống những con người tay
không tấc sắt, những con người không bao giờ muốn tổn
hại bất cứ sinh vật nào, dù là những sinh vật bé xíu.
Hàng trăm người chết và hàng ngàn người bị bắt giam, vẫn
không ngăn cản được bước tiến của những nhà tu và phật-tử
hướng về ước mơ tự do và dân chủ của họ.
Làm
thế nào mà họ có thể làm được những điều người khác
không dám làm?
Chỉ
nhờ ở nền tảng triết lý Phật giáo rất đơn giản này:
khi vượt qua được những rào cản của bản ngã, tâm họ
hòa nhập với tâm của những người khác, của số đông.
Nhờ đó, họ không còn cô đơn; tiếng nói, hành động và
ước nguyện của họ không còn là của cá thể, mà là của
đại khối dân tộc, và trong nhiều trường hợp, là của
toàn nhân loại.
Điều
đơn giản như thế, nhưng không phải ai cũng làm được.
Nếu
vì tham vọng cá nhân hay của bè phái thì dù mạnh dạn lên
tiếng, cũng không được sự ủng hộ của số đông, không
gây ảnh hưởng lan rộng. Nếu vì quan điểm cục bộ, thiển
cận, thành kiến, thiên vị mà lên tiếng, cũng không tác động
đến lương tâm của dân tộc, chưa nói đến lương tâm của
nhân loại.
Điều
đơn giản thứ hai, cũng từ nền tảng của triết lý Phật
giáo, mang tính xã hội phổ quát hơn, đó là: ý nghĩ, lời
nói và hành động trung thực. Người con Phật dù trong bất
kỳ hoàn cảnh nào, cũng phải giữ sự trung thực. Ý nghĩ,
lời nói và hành động trung thực, không trái ngược mâu thuẫn
nhau. Thấy sai thì nói là sai; thấy đúng thì nói là đúng.
Thấy xấu thì nói là xấu, thấy đẹp thì nói là đẹp. Thấy
bất công thì nói là bất công; thấy công bằng thì nói là
công bằng. Không vì bạo lực, khủng bố, danh vọng, quyền
lợi, tư kiến và tình cảm mà nói trái với sự thực.
Sống
với tinh thần vô ngã, với sự thực, là sống với tâm thức
tự do cá nhân; trong tương tác xã hội, đó là sống trong
dân chủ, công bằng. Chỉ nhờ vậy mà những vị thầy của
tôi vượt qua sự sợ hãi, có thể với hai bàn tay không, đứng
vững trước phong ba, bạo lực.
Thế
nên, nhìn sâu vào cuộc đấu tranh bất bạo động của người
Tây Tạng, chúng ta thấy, những người biểu tình đòi tự
do cho Tây Tạng và chống xâm lăng đàn áp của Trung Hoa không
phải lúc nào cũng thuận ý với Đức Đạt-lai Lạt-ma, có
khi còn mâu thuẫn rõ rệt. Trong khi ngài luôn kiên trì chủ
trương tự trị cho Tây Tạng thì nhiều người khác quyết
liệt đòi độc lập; trong khi ngài vẫn tôn trọng và chưa
hề có ý phản đối việc tổ chức thế vận hội Olympic
2008 tại Trung quốc thì nhiều người chống Trung quốc đã
kêu gọi tẩy chay. Một vài vụ ném đá từ phía người biểu
tình khi bị cảnh sát và quân đội Trung quốc tấn công tàn
bạo khiến Đức Đạt-lai Lạt-ma buồn lòng. Lễ châm lửa
Thế vận tại Olympic, Hy Lạp, bị số người biểu tình phản
đối. Cuộc rước đuốc Olympic ở London và Paris cũng bị
ngăn trở bởi những người ủng hộ Tây Tạng. Vài vận động
viên các nước tuyên bố tẩy chay rước đuốc. Đệ tử thân
tín của Đức Đạt-lai Lạt-ma là tài tử Richard Gere cũng
kêu gọi tẩy chay Olympic 2008. Nhưng Đức Đạt-lai Lạt-ma vẫn
luôn từ bi, ôn tồn nói rằng chính quyền Trung quốc xứng
đáng được ủy nhiệm tổ chức thế vận hội, và trên một
tỷ ba trăm triệu dân Trung Hoa cũng xứng đáng được hưởng
niềm vinh hạnh đón chào cả thế giới qua thế vận hội
này. Dù có những mâu thuẫn như thế, Đức Đạt-lai Lạt-ma
không bao giờ chê trách, ngăn cản hoặc ra lệnh cấm chỉ
những biểu hiện yêu nước nhiệt tình của giới trẻ Tây
Tạng cũng như của những người ủng hộ ngài. Ngài và các
phong trào đấu tranh cho Tây Tạng luôn tôn trọng nhau, dù cách
ứng xử và quan niệm có khác. Đó là nếp nghĩ và hành xử
văn minh của sinh hoạt dân chủ.
Qua
những điểm nêu trên, có thể nhìn thấy một vài sai
khác nào đó giữa người phật-tử Tây Tạng và Việt
Nam trong cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ của xứ sở mình.
Vị
lãnh đạo tinh thần của Phật giáo Tây Tạng và những người
Tây Tạng lưu vong, suốt 59 năm đất nước bị Trung quốc
xâm chiếm, vẫn thường vận động tổ chức các hội đoàn,
tổ chức, công khai hoặc ngấm ngầm thực hiện các chương
trình văn hóa, giáo dục, từ thiện xã hội, nhằm bảo vệ
nền văn hóa truyền thống Tây Tạng, đối kháng trường kỳ
với chủ trương Hán-hóa của Trung quốc. Cuộc đấu tranh
gian lao, khổ nhọc, phải đổi nhiều xương máu và nước
mắt, nhưng những vị thầy của tôi nơi xứ sở ấy vẫn
theo gương Đức Đạt-lai Lạt-ma, luôn giữ gìn lòng từ bi,
chủ trương đấu tranh bất bạo động, không những bất bạo
động trong hành xử và lời nói, mà còn ngay trong ý niệm:
vẫn xem người Trung quốc nhiều tham vọng, bất hảo, là “những
người anh em” trong cộng đồng nhân loại. Đối với Trung
quốc, Đức Đạt-lai Lạt-ma vẫn giữ niềm tôn trọng, chưa
hề khởi tâm sân hận, chưa hề nguyền rủa hoặc nặng lời
phê phán, huống chi là đối với đồng bào của ngài, cho
dù giữa các thế hệ già-trẻ trước-sau có những sai biệt
về quan điểm và phương thức hành động. Trong khi đó thì
người phật-tử Việt Nam vẫn thường có khuynh hướng loại
trừ, phân liệt, không chấp nhận nhau; có khi không còn xem
nhau như là anh em, đồng đạo; những ai không suy nghĩ giống
mình, không hành động và phát ngôn như mình, thì đẩy hết
về phía đối nghịch, nghĩa là đồng hóa họ với những
người mà mình cho là kẻ thù.
Không
những khác với phật-tử Tây Tạng, phương cách đấu tranh
cho tự do dân chủ của phật-tử Việt Nam cũng khác với tín
đồ của tôn giáo bạn. Chúng ta mưu cầu phúc lạc cho toàn
dân, nhưng thường khi lại chẳng quan tâm đến số đông,
chỉ nhìn thấy cái xấu-ác của thiểu số. Những cơ hội
tốt đẹp có tính cách quốc tế, rộng mở, thì chúng ta cục
bộ, khép chặt, chống đối, ngăn trở. Những chương trình
dài hạn, cần từng bước xây dựng, un đúc, khai triển, thì
chúng ta phá đổ, san bằng, cố tình bóp chết không cho khởi
phát. Như một con bệnh mê sảng, chúng ta sẵn sàng đánh đổ
bất cứ ảnh tượng nào vừa xuất hiện. Chúng ta không có
viễn kiến. Chúng ta chỉ nhìn được cái gì tức thời, ở
trước mắt.
Hãy
nhìn về phía tôn giáo bạn: Đức Giáo hoàng John Paul II tiền
nhiệm đã từng viếng thăm Ba Lan năm 1979, một năm sau khi
đăng ngai, và hai mươi năm sau, đã chính thức viếng thăm
Cuba vào tháng 01 năm 1998. Sau khi Đức Giáo hoàng viếng thăm
hai nước cộng sản này, một nước đã được chuyển hóa,
thay đổi, và một nước vẫn còn trơ lì với thứ chủ nghĩa
thối trào, lạc hậu. Thay đổi hay không thay đổi khó lòng
tiên liệu được, nhưng không phải vì vậy mà ngài không
đến. Cũng không ai vì việc Đức Giáo hoàng viếng thăm các
nước cộng sản mà lên án, chống đối, cản ngăn hay chụp
mũ, xuyên tạc. Dù ông Fidel Castro và chính phủ Cuba có thu
được những lợi ích nào đó về mặt ngoại giao, tháo gở
được phần nào những bế tắc về kinh tế, cấm vận, hoặc
chứng minh giả tạo về tự do tôn giáo ở nước họ, nhưng
lợi ích tinh thần cho hàng trăm ngàn con chiên và hàng chục
triệu người dân của đất nước đói khổ triền miên và
thiếu tự do vẫn là điều Đức Giáo hoàng nhắm đến. Người
Thiên Chúa giáo, hay không Thiên Chúa giáo, chẳng ai chống đối
việc Giáo hoàng thăm viếng các nước cộng sản, trái lại,
còn vui mừng, tán trợ, và nuôi hy vọng nào đó. Nếu nay mai,
Đức Giáo hoàng đương nhiệm Benedict XVI hoặc khâm sứ Tòa
thánh thăm viếng Cuba, Bắc Hàn, Trung quốc hay Việt Nam, người
ta cũng sẽ có thái độ tôn trọng, gián tiếp hoặc trực
tiếp ủng hộ. Không ai có lý do thích đáng nào để cản
ngăn người khác mang ánh sáng vào nơi tăm tối.
Phật
giáo không có giáo hoàng, cũng không có vị lãnh đạo tối
cao đại diện Phật giáo đồ khắp thế giới. Vậy thì, Đại
lễ Vesak Liên Hiệp Quốc (Lễ Tam Hợp - kỷ niệm Đức Phật
Đản Sinh, Thành Đạo và Niết Bàn trong cùng tháng 5 dương
lịch) có thể nói là ánh sáng của Đức Phật, chuyên chở
lý tưởng hòa bình, tinh thần từ bi và khoan dung của Phật
giáo đến với bất cứ quốc gia nào đăng cai. Ai cũng biết,
Lễ Vesak Liên Hiệp Quốc trở thành sinh hoạt văn hóa quốc
tế chính thức kể từ năm 2000, bước vào thiên kỷ thứ
ba của nhân loại. Đây là niềm vinh hạnh của phật-giáo
đồ khắp năm châu. Không có quyết định của Đại hội
đồng Liên Hiệp Quốc về lễ quốc tế Vesak, phật-giáo
đồ khắp thế giới sẽ tiếp tục tổ chức lễ Phật Đản
riêng biệt của từng quốc gia. Thông qua Đại lễ Vesak Liên
Hiệp Quốc, phật-giáo đồ các nước có cơ hội chung lòng
tưởng niệm, vinh danh Đức Phật trong cùng một địa điểm,
một thời gian, công bố thông điệp hòa bình và khoan dung
của Phật giáo đến khắp thế giới.
Lễ
Vesak do Liên Hiệp Quốc chủ trương và chính phủ Việt Nam
đăng cai, sẽ được tổ chức tại Hà-nội vào tháng 5, 2008,
qui tụ ít nhất là 600 phái đoàn với hàng ngàn đại biểu
đến từ 90 quốc gia trên thế giới. Đối với Liên Hiệp
Quốc, Vesak là cơ hội để giới thiệu, cổ súy lý tưởng
hòa bình, giá trị đạo đức và văn hóa của Phật giáo đến
với thế giới đầy những bạo động, chấp tranh, khủng
bố, kỳ thị; đối với phật-giáo đồ khắp năm châu, là
cơ hội để vinh danh Đức Phật, hoằng truyền chánh pháp,
trao đổi và học hỏi kinh nghiệm hành đạo, đóng góp các
nguyên lý thực tiễn của Phật giáo đối với những vấn
nạn của môi trường hành tinh và đời sống nhân loại, trình
bày bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia ảnh hưởng Phật
giáo, kết chặt mối tương giao của người con Phật khắp
nơi; đối với phật-tử Việt Nam, là cơ hội để trình bày
nền văn hóa sáng đẹp của Phật giáo vốn đã song hành với
dân tộc gần hai mươi thế kỷ, tạo sự đoàn kết hòa hợp
của mọi hệ phái, giáo hội đang hành hoạt trong lẫn ngoài
nước, vực dậy niềm tin và trí tuệ của phật-giáo đồ
cả nước để trùng hưng nền Phật giáo Việt Nam; đối với
nhân dân trong nước nói chung, là cơ hội để đất nước
mở cửa đón chào những quan khách đại diện tầng lớp tinh
hoa của Phật giáo từ các nước, trực tiếp hoặc gián tiếp
trình bày về đời sống thực của xã hội Việt Nam qua văn
hóa, tôn giáo, kinh tế, văn mỹ nghệ, kiến trúc, ẩm thực,
v.v…; và đối với nhà nước Việt Nam, chủ nhà đăng cai
tổ chức, là cơ hội để chứng tỏ sự rộng mở về mặt
ngoại giao quốc tế, chứng minh chính sách khoan dung và thiện
chí giúp đỡ đối với tôn giáo.
Mục
tiêu mà các tập thể, tổ chức nhắm đến qua Lễ Vesak Liên
Hiệp Quốc, có nhiều điểm tương đồng, tất nhiên cũng
có nhiều điểm dị biệt. Đi sâu vào chi tiết, đối với
cá thể mà nói, còn có những mục đích nhỏ hẹp hơn, chẳng
hạn lợi nhuận thu được qua một dịp lễ quốc tế suốt
gần một tuần lễ đối với các công ty du lịch, khách sạn,
nhà hàng, các tiệm buôn bán, xe cộ vận chuyển của công
ty hay tư nhân, v.v... Sau một đêm dài, bình minh rực rỡ sẽ
thúc đẩy mọi người, mọi loài thức dậy, theo nhu cầu và
mục đích của mình mà tiếp nhận ánh sáng mặt trời; nhờ
ánh sáng mà dễ dàng thực hiện những việc họ muốn làm.
Có thể có sự lợi dụng hay hậu ý nào đó của nhà nước
đối với Vesak 2008. Nhưng xét cho cùng, tất cả đều mong
cầu lợi ích, nhiều hay ít, tinh thần hay vật chất, trong
một lễ hội qui mô quốc tế do chính Liên Hiệp Quốc chủ
trương, kêu gọi.
Ánh
sáng từ bi trí tuệ của Phật giáo không thể vì lý do gì
mà không chiếu rọi đến những nơi tăm tối, nơi mà hàng
mấy chục triệu người đang cố gắng ngoi mình dậy từ hậu
quả chiến tranh, nghèo đói, bất công, đạo đức băng hoại...
Phật tử Việt Nam không thể vì hai triệu đảng viên mà bỏ
quên tám chục triệu người dân. Đức Đạt-lai Lạt-ma cũng
không vì 60 triệu đảng viên cộng sản mà chối bỏ 1 tỉ
240 triệu người dân Trung Hoa. Đức Giáo Hoàng John Paul II cũng
không vì 700 ngàn đảng viên mà không quan tâm đến 10 triệu
người dân Cuba. Nói theo cách của Đức Đạt-lai Lạt-ma, trên
một tỉ người dân Trung Hoa, “xứng đáng được làm nước
chủ nhà của cuộc tranh tài Thế Vận Hội,” thì trên
80 triệu dân Việt Nam bao gồm 60 - 70% là phật-tử, xứng đáng
được làm nước chủ nhà cho Lễ Vesak 2008 của Liên Hiệp
Quốc. Những người đấu tranh vì tự do dân chủ cho Tây Tạng
và Việt Nam có quyền ở nơi bất cứ diễn đàn nào, phản
đối chính sách đàn áp và kiểm soát tôn giáo, vi phạm nhân
quyền, độc tài và bất công, của các nhà cầm quyền cộng
sản; nhưng hãy tôn trọng cơ hội và ý nguyện của số đông,
của quần chúng thầm lặng đối với các lễ hội quốc tế
hãn hữu xảy ra trên đất nước của họ. Hãy tiếp tục
lên án, chống lại sự xấu-ác, nhưng đừng bao giờ ngăn
cản những cơ hội cho lẽ thiện bừng tỏa. Không thể vì
việc nhỏ mà trùm lấp hết việc lớn. Không thể vì cái
hạn cuộc nhất thời mà che chắn sự tỏa chiếu của ánh
sáng vô hạn, vô biên.
Người
phật-tử, dù ở bất cứ quốc gia nào, hoàn cảnh nào, thời
gian nào, nên sung sướng hãnh diện về một lễ hội Vesak
do Liên Hiệp Quốc đề xướng nhằm tôn vinh con đường hòa
bình và giáo lý thậm thâm vi diệu của Đức Phật. Và nếu
cần phải nói lên một sự thực, có thể nói rằng, dù tham
dự hay không tham dự lễ Vesak, dù tán đồng hay bất đồng
với nhà nước đăng cai, chúng ta, những người con Phật,
trên khắp thế giới, đều thấy vinh hạnh và cảm động
khi lễ hội ấy được Liên Hiệp Quốc chấp thuận tổ chức
ngay trên quê hương mình.
Con
đường hòa bình của Phật giáo là con đường như thế nào
mà Liên Hiệp Quốc cần đến, cần tôn vinh và truyền rộng
cho toàn cầu? – Là trung đạo. Là con đường mà trải hơn
hai mươi lăm thế kỷ, phật-giáo đồ đã kinh qua trong việc
hành trì và truyền bá để đem lại niềm an lạc và hạnh
phúc chân thực cho mình và cho người. Là con đường tránh
xa các cực đoan; vượt trên những quá khích, cuồng vọng,
bảo thủ, bạo hành, cuồng tín; vượt trên tham lam, sân hận,
si mê; vượt khỏi những giới hạn của bỉ-thử, nhân-ngã.
Chỉ có con đường ấy, qua kinh nghiệm của lịch sử nhân
loại, mới chứng minh được tính cách hòa bình, nhân ái,
khoan dung, khả dĩ cứu vãn sự sống còn của hành tinh, của
nhân loại trước viễn ảnh ngày càng xung đột, bất an, biến
động thật trầm trọng khởi sinh từ tham vọng và cố chấp
của những thế lực chính trị hoặc tôn giáo cực đoan trên
thế giới. Chỉ có con đường ấy mới giúp nhân loại không
còn bị sợ hãi, khủng bố.
Phật-tử
Việt Nam, các giáo hội Phật giáo tại Việt Nam, nhà nước
Việt Nam, hãy thành tâm thể hiện đúng mức tinh thần từ
bi, khoan dung và hòa bình của Phật, trước, trong và sau Lễ
Hội Vesak Liên Hiệp Quốc. Như vậy sẽ xứng hợp với vai
trò những người của nước chủ nhà đăng cai tổ chức.
Và được như vậy thì đất nước và dân tộc chắc chắn
có thái bình an lạc thực sự.
Hãy
chắp tay cầu nguyện cho sự thành công tốt đẹp của Lễ
Vesak tại Việt Nam, hay tại bất cứ quốc gia nào được ủy
nhiệm tổ chức. Và xin mượn lời nhà thơ Nhất Hạnh, “Chắp
tay cầu nguyện cho bồ câu trắng hiện.”
04-11-2008
11:23:46
THẾ
GIỚI ĐÓN CHỜ VESAK Ở VIỆT NAM
Thích
Giác Hoàng dịch
 |
 |
Thầy
Nhật Từ ngồi trong phòng của một ngôi chùa với một số
Thầy lúc 2 giờ sáng đang chi tiết hoá kế hoạch về ngày
Đại Lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008 ở Việt Nam. Thầy
vừa ra Hà Nội từ TP. Hồ Chí Minh và đang ở trong một ngôi
chùa cũ kỹ hàng trăm năm này để chuẩn bị cho Hội nghị
Trù bị lần hai của Uỷ ban Tổ Chức Phật đản LHQ 2008.
Ông
thầy lùn, đeo mắt kính và làm việc không mệt mỏi này là
Tổng Thư ký của Uỷ ban tổ chức Phật đản LHQ 2008. Đại
lễ này là một sự kiện Phật giáo quốc tế lớn nhất chưa
từng có ở VIỆT NAM được tổ chức tại Hà Nội từ ngày
14 đến 17 tháng 05 năm 2008. Nhận thấy tầm quan trọng lớn
lao của việc tổ chức sự kiện quốc tế này cho GHPGVN, chính
phủ và cho cả nhân dân, nên thầy Nhật Từ đã làm việc
không ngừng nghỉ và với ý định đem lại một khuôn mặt
mới cho Phật giáo Việt Nam.
Đó
là phút giây vô cùng vinh dự cho nhân dân Việt Nam và giới
Phật tử để tổ chức sự kiện thiêng liêng trọng đại
với tầm vóc quốc tế này. Chúng tôi đang làm việc với
tốc độ vượt thời gian để bảo đảm sự thành công đại
lễ. Thầy Nhật Từ nhấn mạnh điều đó trong khi tay vẫn
đang nhanh nhẹn gõ đều trên laptop của mình.
Phật
giáo đã có một chiều dài lịch sử hơn 2000 năm ở Việt
Nam . Nó đã chứng kiến những giai đoạn ngửa nghiên của
đất nước, và nhiều người mong đợi đại lễ Vesak quốc
tế sắp đến như là một cơ duyên, một dạng hồi sinh của
Phật giáo.
Trong
một nghị quyết của LHQ năm 1999 đã quyết định tổ chức
ngày Tam Hợp Vesak vào tháng 05. Đại lễ đầu tiên được
tổ chức đầu tiên năm 2000 tại Trụ sở LHQ ở New York từ
năm 2004. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có cơ hội và trách
nhiệm đăng cai tổ chức sự kiện quốc tế này.
Đại
lễ Phật đản LHQ tháng 05 này sẽ kỷ niệm Đức Phật Gotama
đản sinh, thành đạo và Niết-bàn, PL. 2552. Sự kiện này
được xem như là một cơ hội để truyền bá thông điệp
của Đức Phật về hoà bình, tình thương và hoà hợp cho
phúc lợi của loài người.
Đại
lễ Phật đản LHQ tại Hà Nội năm nay đánh dấu một sự
chuyển tiếp từ những đại lễ năm trước ở Bangkok, đặc
biệt chọn chủ đề cho hội thảo và cách tiếp cận riêng
trong bối cảnh thực tại xã hội, kinh tế và tôn giáo hiện
hành.
Chủ
đề chính của hội thảo là ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO TRONG
VIỆC XÂY DỰNG MỘT XÃ HỘI CÔNG BẰNG, DÂN CHỦ VÀ VĂN MINH,
với các chủ đề phụ liên hệ đến tầm quan trọng đương
đại, nơi mà Phật giáo có thể tạo nên sự khác biệt, đó
là: sự thay đổi khí hậu, xung đột gia đình, chiến tranh
và trị liệu, giáo dục Phật giáo, Phật giáo nhập thế và
Phật giáo trong thời đại kỹ thuật số. Thiền sư Thích
Nhất Hạnh - một bậc danh Tăng nổi tiếng khắp thế giới
cũng tổ chức khoá tu khoảng 400 thiền sinh trong giai đoạn
chuẩn bị đại lễ này.
Chủ
tịch IOC và Phó viện trưởng của Học Viện Phật Giáo Việt
Nam, Giáo sư Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát, nói rằng thế
giới Phật giáo đang trông chờ lễ hội Phật đản ở Hà
Nội: Các Phật tử địa phương cũng dâng cao tinh thần. Trên
hết, điều đó thể hiện sự trông mong lâu dài của GHPGVN.
Sự kiện này chỉ ra vai trò to lớn trong việc xây dựng một
xã hội hoà hợp. Chúng tôi hân hoan đón mừng các đại biểu
trên toàn thế giới.
Đại
hội trù bị lần thứ nhất ở TP. HCM ba tháng trước, việc
chuẩn bị cho Đại lễ Phật đản LHQ đã tạo nên sự háo
hức nồng nhiệt giữa các Phật tử và cũng như của quần
chúng khắp Việt Nam, bao gồm các thành phố lớn và các tỉnh
thành xa xôi. Nhân dân đang đợi sự kiện này với lòng phấn
chấn và mong ước, trên hai phương diện văn hoá và tâm linh.
Đại lễ lần này cũng được chính phủ mở rộng trên 54
tỉnh thành.
Để
tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của đại
lễ được diễn ra thành công, các thành viên IOC, GHPGVN và
BĐPQG cùng phối hợp với nhau để làm việc, trên bình diện
địa phương và quốc tế. Sự ủng hộ từ chính phủ đang
diễn ra cụ thể từ Ban ĐPQG do Phó Thủ Tướng Việt Nam chỉ
đạo.
HTTS.
Dhammaratana, cố vấn cho LHQ và phó Chủ tịch IOC đã diễn
tả sự hài lòng của mình với sự chuẩn bị chu đáo và
cảm ơn Chính phủ VIỆT NAM và các Phật tử cho những nỗ
lực thiện chí cho việc thành công của sự kiện này.
Một
thành viên IOC từ Úc châu, TS. Colin Butler đã thể hiện sự
tự tin về các công tác chuẩn bị: “Tôi cảm thấy rất
phấn khởi vì các khâu chuẩn bị cho hội thảo nhóm đang
diễn ra tốt đẹp. Các hội thảo nhóm đã gút lại, liên
hệ trực tiếp đến các vấn đề trọng yếu mà nhân loại
đang đối diện hôm nay. Tôi càng khẳng định các giá trị
của Phật giáo và tôi tin rằng Phật giáo có thể đóng góp
thật sự trong việc giải quyết các vấn đề của con người.
Hy
vọng rằng Đại lễ này sẽ nâng cao đời sống đạo đức,
tình cảm và tâm linh của người dân Việt, bên cạnh trình
bày các vấn đề mà nhân loại đang đối diện.
Do
vậy, các nhà lãnh đạo Phật giáo trong từng khu vực đang
ráo riết trang hoàng vì mọi người xem Đại lễ Phật đản
LHQ như là một cơ hội để tạo nên một ấn tượng đẹp
về đóng góp của Việt Nam và Phật giáo Việt Nam, trên bình
diện quốc nội và quốc tế.
Tiến
sĩ Elise DeVido, một uỷ viên IOC đến từ Đài Loan, khéo léo
tóm tắt tầm quan trọng của Đại lễ PĐLHQ đối với người
địa phương: “Năm năm về trước, việc tổ chức một sự
kiện trọng thể như thế này là điều không thể. Điều
đó cho thấy giới Phật tử đã đóng góp như thế nào để
đạt được tiếng vang trên quốc tế. Hội thảo vào tháng
05 thật sự là một thử thách cho Phật tử Việt Nam, để
chứng minh về chính bản thân họ đối với chính phủ và
đối với Phật tử trên toàn thế giới. Vesak vào tháng 5
năm 2008 sẽ là cơ hội lớn.”
Phó
thư ký IOC ở Malaysia , ông Goh Seng Chai cũng đồng ý rằng:
“sự mong đợi của thế giới rất cao. Chúng ta phải ủng
hộ GHPGVN để họ có thể làm hết sức mình. Tôi rất hạnh
phúc với sự chuẩn bị của họ. Sự ủng hộ của chính
phủ hết sức nồng nhiệt. Sẽ có có sự tham dự đông đảo
từ mọi giới ở mọi miền đất nước.”
Hàng
ngàn người bao gồm các đại biểu quốc tế từ trên 70 đất
nước đang mong đợi được tham dự ở Đại lễ Vesak lịch
sử tại Hà Nội lần này. Đó là một phút giây đáng ghi
nhớ cho Phật tử Việt Nam và chính phủ vì toàn thể thế
giới trông mong Đại lễ Phật đản LHQ ở Việt Nam với niềm
hy vọng lớn.
Thầy
Nhật Từ quả quyết với nụ cười hoan hỷ: “Chắc chắn
rằng, nhiệm vụ thì khổng lồ và thách thức, nhưng chúng
tôi sẽ tận sức và kiên định trong sự hướng đạo của
Đức Phật để Đại lễ được thành công tốt đẹp. Chúng
tôi đang làm việc ngày đêm và nên nhớ rằng không có gì
vĩ đại đến từ sự dễ dàng.
Thích
Giác Hoàng dịch
|
World
to Watch Vesak in Vietnam
Vietnamese
Buddhist master Thich Nhat Tu sits with a group of monks in a temple room
at 2am, planning meticulously for the Buddha’s Big Day celebrations
– the United Nations Day of Vesak 2008 (UNDV) in Vietnam. He has just
arrived from his monastery in Ho Chi Minh City to this hundreds of years’
old Buddhist Temple in Hanoi , for attending the March Second Preparatory
meeting of the International Organising Committee(IOC) for UNDV 2008.
This
short and bespectacled hard-working master is also the secretary of IOC
for the UNDV 2008 – the first-ever and the biggest Buddhist International
event to be held in Hanoi from May 14 to 17. Realising the immense importance
this international event holds for the Vietnam ’s Buddhists, government
and the public, master Nhat Tu has been working relentlessly and has come
to represent the face of Vietnamese Buddhist preparations for the event.
“It’s
a moment of great honour for the Vietnamese people and Buddhists to organise
this sacred event of international scale. We all are working against the
clock to ensure successful celebrations,” stresses master Nhat Tu, as
he keys in on his laptop, rapidly.
Buddhism
has a long history of more than 2000 years in Vietnam . It witnessed certain
turbulent periods in this country and many view the forthcoming international
Vesak celebrations as an important opportunity, a sort of moment of revival
for Buddhism.
United
Nations in a resolution in 1999 decided to celebrate the thrice-sacred
day of Vesak in the month of May. The first celebrations were held way
back in the year 2000 at the United Nations Headquarters in New York .
Subsequently, these celebrations have successfully been held in Bangkok
since 2004. This is the first time that Vietnam got the chance and responsibility
of hosting this international Buddhist event.
The
UN Vesak celebrations this May will commemorate the 2252nd Year of the
Birth, Enlightenment and Passing Away of the Buddha Gautama. The event
is seen as an opportunity to spread worldwide the Buddha’s message of
peace, love and harmony for the welfare of humanity.
This
year’s UNDV celebrations in Hanoi mark an apparent shift from the previous
celebrations in Bangkok, particularly in the choice of conferences’ themes
and approach, peculiar only to Vietnam ’s current social, political,
economic and religious ground realities.
The
Main theme of the conferences is ‘Buddhist Contribution to Building a
Just, Democratic and Civil Society’, with sub themes of current importance
where Buddhism can make a difference are: climate change, family conflicts,
war and healing, social change, Buddhist education, engaged Buddhism and
Buddhism in the digital age. World-famous Zen master Thich Nhat Hanh is
to organise a spiritual retreat for 400 participants during the celebrations.
IOC
chairperson and vice-president of Vietnam Buddhist University , Most Ven.
Professor Dr Le Manh That, saying that the Buddhist world is looking forward
to UNDV celebrations in Hanoi , adds: “Local Buddhists are in high spirits
too. After all, it’s realisation of the long-standing wish of the Vietnam
Buddhist Sangha. The event points to the greater role we all can play in
building a harmonious society. We are ready to welcome the world delegates.”
Since
the First IOC Preparatory Meeting in Ho Chi Minh City three months ago,
the preparations about the UNDV celebrations have been able to generate
tremendous enthusiasm among the Buddhists and as well as the general public
throughout Vietnam, including big cities and remote provinces. People are
waiting for the event with excitement and expectations, both from spiritual
and cultural perspectives. The celebrations have been extended to include
54 cities and provinces by the government.
To
facilitate the swarm of activities during the celebrations, the IOC, the
Vietnam Buddhist Sangha and the National Coordinating Committee are working
together to make the event a success, both locally and internationally.
The support from the government is forthcoming as evident from the fact
the National Coordinating Committee is being headed by the Deputy Prime
Minister of Vietnam .
Ven.
Dr. T Dhammaratana, consultant to UNESCO and IOC vice-chairman, has expressed
satisfaction with the ongoing preparations and thanked the Vietnamese government
and Buddhists for their dedicated efforts towards the success of the event.
An
IOC member from Australia , Dr Colin Butler, expressed confidence about
the state of preparations: “I am feeling very enthusiastic as the workshops
are coming out well. The workshops are focused, directly linked to the
pressing issues that humanity is confronted with today. I see more acceptance
of the Buddhist values worldwide, and am sure Buddhism can make a real
contribution in solving the problems of humanity.”
The
celebrations are expected to enhance the moral, emotional and spiritual
lives of the Vietnamese people, besides addressing the issues faced by
humanity.
Consequently,
local Buddhist leaders are leaving no stone unturned as they view UNDV
celebrations as an opportunity to impress upon the world as to what kind
of contribution Vietnam and the Vietnamese Buddhists can make both at domestic
and international fronts.
Dr.
Elise De Vido, an IOC member from Taiwan, aptly sums up the UNDV’s importance
for local Buddhists: “Five years ago it would have been unthinkable of
Vietnam holding this event. It shows how much Buddhist circles have worked
to gain more voice and space in Vietnam . The conference in May is really
a test for the Vietnamese Buddhists to prove themselves to their government
and to the Buddhists world over. Vesak in May 2008 will be their chance.”
Agrees
IOC deputy secretary from Malaysia , Mr. Mr. Goh Seng Chai: The world’s
expectations are high. We must support Vietnamese Sangha to do their best.
I am quite happy with the preparations so far. The government’s support
has been very encouraging. There is huge participation from all level at
all fronts.”
Thousands
of people including international delegates from more than 70 countries
are expected to participate in the Hanoi historic Vesak celebrations. It’s
a landmark moment for the Vietnamese Buddhists and the government as the
whole world looks towards the UN Vesak Celebrations in Vietnam with high
expectations.
Master
Nhat Tu assures with his benign smile: “The task is mammoth and challenging,
no doubt. But we are dedicated and determined in the guidance of Lord Buddha
to make the celebrations a great success. We are working day and night,
remembering well that nothing great ever came easy.”
http://vesakday2008.com/tintuc/index.php?menu=detail&mid=1&nid=200
|
04-04-2008
10:23:12
.
BÁO
CÁO
HỘI NGHỊ
TRÙ BỊ LẦN THỨ HAI
UỶ BAN TỔ
CHỨC QUỐC TẾ
ĐẠI LỄ PHẬT
ĐẢN LIÊN HIỆP QUỐC 2008
 |
 |
Hà
Nội, ngày 21 tháng 3 năm 2008
I.
THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM

Hơn
bốn tháng kể từ khi Hội nghị trù bị lần thứ nhất diễn
ra tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM, nhằm phác
thảo kế hoạch tổ chức Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc
2008 tại Việt Nam, vào lúc 8h00 sáng ngày 19 tháng 5 năm 2008,
Hội nghị trù bị lần thứ hai của Ủy ban tổ chức quốc
tế (IOC) đã được khai mạc tại phòng khách của khách sạn
Fortuna, số 6B Láng Hạ, Hà Nội. Hội nghị diễn ra trong hai
ngày. Sáng từ 08h00 đến 11h30, chiều từ 13h00 đến 18h00.
II.
THÀNH PHẦN THAM DỰ
Chủ
tọa Hội nghị là GSTS. Lê Mạnh Thát, Chủ tịch IOC, Tổng
thư ký Ban Điều phối quốc gia. Đến dự hội nghị gồm
có Ông Nguyễn Hữu Oanh, Phó Thường trực Ban Điều phối
quốc gia, Ông Đặng Tài Tính, Ủy viên Ban Điều phối quốc
gia và khoảng 30 thành viên thường trực của Ủy ban tổ chức
quốc tế, đến từ 10 quốc gia, như Thái Lan, Ấn Độ, Tích
Lan, Trung Quốc, Pháp, Hoa Kỳ, Úc châu, Đại Hàn, Malaysia, Singapore
và Việt Nam (Có danh sách đính kèm).
III.
CHƯƠNG TRÌNH NGHỊ SỰ
1.
Phát biểu khai mạc: GSTS. Lê Mạnh Thát nhấn mạnh rằng
trọng tâm của Hội nghị lần này là thảo luận và đúc
kết các công tác chuẩn bị nhằm đảm bảo sự thành công
của đại lễ, một sự kiện Phật giáo quốc tế lớn nhất
trong lịch sử Việt Nam từ trước đến giờ. Đại lễ Phật
đản LHQ 2008 vốn do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc chủ
trương, cổ súy và được nước Việt Nam đăng cai tổ chức.
Đại lễ quốc tế này được tổ chức tại Việt Nam là
niềm hãnh diện và tự hào của đất nước Việt Nam và dân
tộc Việt Nam trong và ngoài nước. Sự đồng tâm hợp lực
và trí tuệ tập thể của các thành viên IOC từ nhiều quốc
gia sẽ góp phần tạo sự thành công của đại lễ.
2.
Giới thiệu Phó chủ tịch mới của IOC: GS Lê Mạnh Thát
thay mặt IOC giới thiệu Thượng tọa Học Thành, Phó chủ
tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc đã
hoan hỷ đến dự với tư cách Phó chủ tịch IOC.
3.
Phát biểu của Ban Điều phối quốc gia: Thay mặt Ban Điều
phối quốc gia, ông Nguyễn Hữu Oanh bày tỏ sự quan tâm và
ủng hộ của Chính phủ và các Bộ ngành hữu quan trong việc
Việt Nam đăng cai tổ chức Đại lễ Phật đản Liên Hợp
Quốc, đồng thời khẳng định sự phối hợp giữa IOC, Ban
Điều phối quốc gia và GHPGVN chắc chắn sẽ mang lại sự
thành công của Đại lễ.
4.
Báo cáo tóm tắt và thảo luận: Đại đức Thích Nhật
Từ, Tổng thư ký IOC, Ủy viên Ban Điều phối quốc gia, điểm
lược bốn phương diện tâm linh, hội thảo, văn hóa và du
lịch của đại lễ năm nay, qua đó khẳng định vai trò và
ý nghĩa xã hội to lớn của đại lễ Phật đản LHQ trong
bối cảnh hội nhập và phát triển, đồng thời giới thiệu
các giá trị ứng dụng Phật pháp trong việc giải quyết các
vấn nạn toàn cầu. Sau khi điểm lược các công tác chuẩn
bị, các vấn đề sau đây lần lượt được IOC thảo luận
và đúc kết:
4.1.
Địa điểm chính: Trung tâm Hội nghị quốc gia là nơi
diễn ra các hoạt động chính như khai mạc, bế mạc, hội
thảo, diễn đàn, tuyên bố Hà Nội, lễ thắp nến cầu nguyện
hòa bình, các chương trình văn nghệ, triển lãm văn hóa, hội
chợ văn hóa Phật giáo v.v… Ngoài Trung tâm Hội nghị quốc
gia, Ban Trị sự 55 tỉnh thành sẽ tổ chức đại lễ Phật
đản LHQ cấp tỉnh trang nghiêm, hoành tráng, hơn các năm trước.
Có vài tỉnh thành đã thành lập Ban Điều phối cấp tỉnh
với sự phối hợp của nhiều thành phần để tạo nên khung
cảnh lễ hội văn hóa tâm linh sinh động và đầy ý nghĩa.
4.2.
Thành phần tổ chức: Để đảm bảo sự thành công của
đại lễ, bên cạnh Ủy ban tổ chức quốc tế, còn có sự
hợp tác của GHPGVN và Ban Điều phối quốc gia do Thủ tướng
thành lập GHPGVN với hai Văn phòng I và II. Ban Điều phối
quốc gia gồm có các bộ ngành hữu quan cấp trung ương và
tỉnh thành. Mục đích phối hợp là để nhằm đảm bảo
được tiến độ chuẩn bị cũng như sự thành công về phương
diện địa phương và quốc tế.
4.3.
Thành phần tham dự: Bao gồm đại biểu chính thức, tự
túc và dự thính.
4.3.1.
Đại biểu chính thức: Gồm hơn 600 đại biểu, bao gồm
VIPs, lãnh đạo các tổ chức Phật giáo thế giới và các
nhà nghiên cứu Phật học. Ban Tổ chức sẽ bảo trợ vé máy
bay khứ hồi, khách sạn, đưa đón sân bay, ăn uống và di
chuyển trong suốt thời gian 13-18 tháng 5 năm 2008. Khoảng 300
đại biểu HĐCM, HĐTS, Ban Trị sự các tỉnh thành do VP1 và
VP2 giới thiệu sẽ được bảo trợ tương tự.
4.3.2.
Đại biểu tự túc và dự thính viên:
Khoảng 500 thiền sinh phương Tây tham dự khóa tu của Thiền
sư Nhất Hạnh và khoảng 1000 đại biểu tự túc và dự thính
viên ngoại quốc. Thành phần này sẽ tự chi phí vé máy bay
và tiền khách sạn (do Ban tổ chức sắp xếp). Ban Tổ chức
tài trợ đưa đón sân bay, ăn uống và di chuyển dự lễ.
Các đại biểu tự túc và dự thính viên gồm Tăng Ni và Phật
tử trong nước bao gồm Việt kiều cũng tự chi trả vé máy
bay và khách sạn (do Ban Tổ chức sắp xếp thông qua một công
ty du lịch được đặc trách).
4.4.
Đăng ký tham dự: Có hai loại phiếu đăng ký, phiếu 1A
và phiếu 1B. Phiếu 1A dành cho từng cá nhân (bao gồm chính
thức và dự thính). Phiếu 1B dành cho nhóm (cả chính thức
và dự thính).
Đại
biểu và dự thính viên quốc tế có thể hạ tải hai phiếu
này từ trang nhà của IOC (www.vesakday2008.com) và nộp lại cho
Ban tổ chức qua email: unvesakday2008@vbu.edu.vn.
Đại
biểu và dự thính viên trong nước có thể đăng ký với phiếu
có sẳn tại Văn phòng các Ban Trị sự tại tỉnh thành của
mình, hoặc tại VP1, VP2 hay Văn phòng IOC.
4.5.
Các hoạt động văn hóa: Sẽ có 200 gian hàng trưng bày
trong hội chợ văn hóa Phật giáo trong khuôn viên Trung tâm
hội nghị quốc gia, triển lãm về các hình thái văn hóa Phật
giáo, 5 chương trình văn nghệ, diễu hành xe hoa, trang trí cờ
phướn, lồng đèn, thả hoa đăng, bong bóng Phật đản, ở
những nơi công cộng và quan trọng. Sẽ có khinh khí cầu Phật
đản sinh cao 26,32m đứng trên hoa sen bay trên độ cao 50m và
lá cờ Phật giáo thế giới với chiều dài 26,32 bay phất
phới trong không gian Trung tâm hội nghị quốc gia, tượng trưng
cho 2632 năm đản sinh của đức Phật.
4.6.
Tiệc chiêu đãi của Thủ tướng: Diễn ra vào lúc 10h30
đến 13h00 ngày 15-5-2008 tại Trung tâm hội nghị quốc gia,
thay vì theo dự kiến trước đây là đêm 16-5-2008 tại Phủ
Thủ tướng.
4.7.
Du lịch văn hóa ngày 17-5: Các đại biểu sẽ tham quan Trúc
Lâm Yên Tử để tìm về cội nguồn dòng thiền Việt Nam,
hoặc tham dự Lễ khánh thành Chùa Bái Đính với các công
trình Phật tượng kỷ lục quốc gia và lễ trồng 100 cây
Bồ-đề. Các du lịch tự túc trước và sau đại lễ sẽ
được các công ty du lịch tổ chức.
4.8.
Các tiểu ban thực hiện: IOC đã thành lập các tiểu ban
hành động với sự phân công trách nhiệm (có danh sách đính
kèm).
4.9.
Các diễn đàn và hội thảo chuyên đề: IOC đã nhận được
khoảng 100 bài tóm tắt về chủ đề chính và 7 chủ đề
phụ, đồng thời đã phân công và thỉnh mời người thuyết
trình chính, người điều phối, thuyết trình viên và các
thư ký hội thảo.
4.10.
Hỗ trợ Visa:
Sau khi nhận được thư mời của Ban Tổ chức, các đại biểu
cần điền đơn xin Visa tại Đại sứ quán hoặc Tổng lãnh
sự Việt Nam càng sớm càng tốt. Trường hợp không được
Visa do bất kỳ lý do gì, các đại biểu chắc chắn sẽ được
cấp Visa tại sân bay Nội Bài. Đại biểu cần mang thư mời
theo để được Ban tổ chức làm thủ tục nhập cảnh nhanh
chóng.
5.
Tuyên bố Hà Nội: IOC đã phác thảo bản dự thảo Tuyên
bố Hà Nội gồm có 15 điều, xoay quanh các vấn nạn toàn
cầu mà LHQ đang quan tâm (có Tuyên bố đính kèm).
6.
Tiệc chiêu đãi của Ban Điều phối quốc gia: Trưa ngày
20-3-2008, ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng Ban Điều phối quốc
gia, đã chiêu đãi tất cả thường trực IOC trong tinh thần
cởi mở, thân thiện, để lại ấn tượng tốt đẹp cả
hai phía. Theo lời mời của Chủ tịch IOC, Thượng tọa Dharmaratana
(Cố vấn UNESCO, Pháp), Thượng tọa Học Thành (Phó chủ tịch
Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc, Trung Quốc) và cư sĩ Phallop
Thaiarry (Tổng thư ký Hội Liên Hữu Phật tử thế giới, Thái
Lan) đã lần lượt chia sẻ những kinh nghiệm của những năm
trước và tin tưởng vào sự thành công của đại lễ năm
nay, đồng thời hy vọng, Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Phật
đản LHQ thêm lần nữa. Thay mặt Chính phủ Việt Nam và Ban
Điều phối quốc gia, ông Nguyễn Thế Doanh đã bày tỏ lòng
hân hoan trong sự hợp tác giữa GHPGVN và các tổ chức Phật
giáo thế giới, góp phần tạo nên các đóng góp to lớn của
đạo Phật cho các vấn đề thế giới đang quan tâm.

7.
Thăm viếng HĐTS GHPGVN: Vào lúc 16h00 ngày 20-3-2008, phái
đoàn IOC đã chính thức thăm viếng Hòa thượng Thích Thanh
Tứ, Phó chủ tịch thường trực HĐTS GHPGVN, Phó Ban Điều
phối quốc gia để báo cáo kết quả hai ngày làm việc của
IOC trong tinh thần hòa hợp, dân chủ vì sự thành công của
đại lễ. HT. Thích Thanh Tứ chào mừng và hy vọng vào trí
tuệ tập thể của nhiều tổ chức Phật giáo quốc tế qua
IOC và GHPGVN sẽ tổ chức thành công đại lễ Phật đản
LHQ lần đầu tiên và lớn nhất tại Việt Nam từ trước
đến giờ.
TM.
UỶ BAN TỔ CHỨC QUỐC TẾ
ĐẠI
LỄ PHẬT ĐẢN LIÊN HỢP QUỐC
TỔNG
THƯ KÝ
THÍCH
NHẬT TỪ
Nơi
nhận:
-
Ban Điều phối quốc gia
-
Ban Tôn giáo chính phủ
-
VP1, VP2
-
Lưu
.
ĐOÀN
KẾT, THỐNG NHẤT Ý CHÍ TỔ CHỨC THÀNH CÔNG
ĐẠI LỄ PHẬT
ĐẢN LIÊN HIỆP QUỐC 2008
 |
 |
Sáng
10/3/2008, tại VP II TƯGH, Ban Thường trực HĐTS GHPGVN đã tổ
chức phiên họp liên tịch giữa Ban Điều phối quốc gia (ĐPQG),
Thường trực HĐTS GHPGVN và Thường trực Ủy ban Tổ chức
quốc tế (IOC) nhằm đúc kết các công tác phối hợp và tổ
chức Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2008 (ảnh). PV Giác
Ngộ đã ghi nhận những ý kiến đáng chú ý.
HT.
Thích Trí Quảng - Phó Chủ tịch HĐTS, Trưởng Tiểu ban Nội
dung:
Hiện
nay, Tiểu ban Nội dung do tôi làm Trưởng ban đã và đang tiến
hành soạn thảo đề án tổng thể, các đề án chi tiết,
các bài phát biểu liên quan đến Đại lễ Phật đản và
Hội thảo... Tất cả các văn kiện sẽ hoàn tất vào cuối
tháng 3 trình Ban ĐPQG để thống nhất nội dung, trước khi
được sử dụng. Riêng cá nhân tôi có những nhận xét như
sau:
Thái
Lan là nước có kinh nghiệm tổ chức Đại lễ Phật đản
LHQ từ nhiều năm. Các khách mời tham dự được tăng cường
sau mỗi năm. Việt Nam lần đầu tổ chức với số lượng
90 quốc gia là điều rất đáng mừng nhưng cũng rất lo ngại
về các khâu tổ chức.
Thế
nhưng hiện nay, Ủy ban Tổ chức quốc tế, Ban ĐPQG và GHPGVN
vẫn chưa phối hợp nhịp nhàng. Có một số nhập nhằng giữa
ba phía chưa được thống nhất nên công việc không thông
lắm. Do đó chúng tôi đề nghị giữa Ban ĐPQG, IOC và GHPGVN
phải phối hợp chặt chẽ, đoàn kết nhất trí trong điều
phối công việc.
Động
viên tinh thần của Tăng Ni, Phật tử trên cả nước, trong
đó có đội ngũ Tăng Ni trẻ của các HVPGVN tại TP.HCM, Hà
Nội và Thừa Thiên-Huế, và nhất là Tăng Ni thuộc văn phòng
IOC phải hết lòng phụng sự cho Đại lễ.
Theo
tôi được biết, tình hình hoạt động của các Tiểu ban
đã và đang triển khai rất khẩn trương. Tiểu ban Nghi lễ
- Văn hóa do HT.Thích Thanh Tứ làm Trưởng ban, HT.Thích Trí
Tâm và HT.Thích Trung Hậu làm Phó ban Điều hành. Ban Văn hóa
và Ban Nghi lễ cũng đã lập đề án về hai hoạt động này,
bao gồm lễ khai mạc, lễ bế mạc, lễ đốt nến cầu nguyện
hòa bình. Về Tiểu ban Khánh tiết - Trang trí gồm 41 vị, phụ
trách 51 khu vực do HT.Thích Thiện Tánh và TT.Thích Bảo Nghiêm
trực tiếp điều phối cũng đã có phương án hoạt động.
GS.TS.
Lê Mạnh Thát - Chủ tịch IOC:
Ngày
29/5/2007, trong phiên bế mạc Đại lễ Phật đản LHQ tại
Thái Lan, Ủy ban Tổ chức Quốc tế đã chuyển giao quyền
đăng cai cho Việt Nam và tôi được đề cử làm Chủ tịch
IOC theo Hiến chương.
Thủ
tướng Chính phủ đã cho phép đặt văn phòng IOC tại HVPGVN
TP.HCM, đồng thời chỉ đạo thành lập 7 tiểu ban do GHPGVN
đề xuất. Cho đến nay, các đề án tổng thể và chi tiết
tổ chức đã được hoàn tất và đệ trình Chính phủ.
Mặt
khác, tôi cũng được giao làm Trưởng Tiểu ban Lễ tân - Giao
tế. Hiện nay, danh sách của các phái đoàn quốc tế tham dự
đã hoàn tất, trong đó gồm 90 quốc gia với hơn 600 phái đoàn.
Chúng tôi sẽ phối hợp cùng Tăng Ni sinh HVPGVN tại Hà Nội
và sinh viên Trung ương Đoàn TNCS HCM đảm trách việc tiếp
đón và hướng dẫn khách trong thời gian tham dự Đại lễ.
Ông
Nguyễn Hữu Oanh - Phó ban Thường trực Ban ĐPQG
Tôi
vui mừng được tham dự Hội nghị quan trọng và nghe được
nhiều ý kiến phát biểu mang tính trách nhiệm và xây dựng.
Tôi tin Đại lễ sẽ thành công tốt đẹp.
Về
phía Ban ĐPQG, chúng tôi cần nêu một vài vấn đề để chúng
ta cùng nhau thực hiện tốt hơn. Thứ nhất, Chính phủ Việt
Nam muốn đề cao vai trò của GHPGVN đối với dân tộc và
gắn bó với dân tộc. Nhà nước Việt Nam hỗ trợ thông qua
Ban ĐPQG. Nhà nước không thể làm thay các hoạt động liên
quan đến nội dung và hình thức trang trí, khánh tiết, văn
hóa, văn nghệ, các lễ nghi tôn giáo của GH và IOC. GH và
IOC phải chủ động về mọi mặt.
Trên
cơ sở yêu cầu của GH + IOC, Nhà nước cố gắng đáp ứng.
Đối với khách mời tham dự, Thủ tướng đã chấp nhận
tại Trung tâm Hội nghị quốc gia với sức chứa là 3.500 khách.
Nhà nước bảo trợ toàn bộ 600 khách nước ngoài (bao gồm
các học giả, lãnh đạo PG…), trong đó có 280 vị giáo phẩm
trong HĐCM, HĐTS GHPGVN.
Ngoài
ra Nhà nước còn hỗ trợ những phần ăn cho các khách mời
theo đề nghị của GHPGVN.
Về
trang trí: Các khẩu hiệu, tượng Phật trong hội trường chính,
hội trường phụ và dọc các tuyến đường từ sân bay Nội
Bài đến hội trường chính, các điểm văn hóa, các chùa
lớn được trang hoàng hoành tráng thì GHPGVN và IOC phải phối
hợp, chủ động lên bản thảo đề xuất. Bản thảo phải
có chữ ký thông qua của GHPGVN và IOC, lúc đó Ban ĐPQG mới
tiến hành thực hiện.
Về
biểu diễn văn nghệ, đây là dịp để chúng ta giao lưu văn
hóa nên Ban Tổ chức đã thống nhất tổ chức ba đêm biểu
diễn văn nghệ nhưng phải có sự tham gia của GHPGVN và IOC.
Cụ thể là phía GH và IOC phải có kịch bản để Ban ĐPQG
chỉ đạo thực hiện. Kể cả các khâu như: triển lãm, nghi
lễ Phật giáo, quà tặng…
Về
giấy mời các đại biểu tham dự thì chúng ta phải thống
nhất một mẫu giấy mời. Đối với khách mời quốc tế
do Nhà nước mời thì Chính phủ ký, còn khách mời thuộc
phía GH phải do GHPGVN và IOC ký.
Ông
Bùi Hữu Dược - Vụ trưởng Vụ Phật giáo, Ban Tôn giáo Chính
phủ:
Đây
là phiên họp liên tịch giữa Thường trực GHPGVN, IOC và Ban
ĐPQG từ khi Chính phủ Việt Nam chính thức đăng cai tổ chức
Đại lễ Phật đản LHQ 2008.
Đứng
về phía quản lý Nhà nước trong lĩnh vực Phật giáo, chúng
tôi xin nói rằng, Đại lễ Phật đản LHQ tại Việt Nam khác
với Vương quốc Thái Lan. Thứ nhất, do Chính phủ Việt Nam
đăng cai tổ chức với sự phối hợp ba bên: GHPGVN, IOC và
Ban ĐPQG. Thái Lan giao cho Đại học Mahachulalongkorn tổ chức
(ngang bằng Cục Quản lý Tôn giáo Thái Lan).
Sở
dĩ Chính phủ Việt Nam thành lập Ban ĐPQG là để thể hiện
tính thống nhất, đoàn kết. Trong quá trình thực hiện thì
GHPGVN đóng vai trò chính, có sự hỗ trợ của Nhà nước vì
đây là hoạt động văn hóa tôn giáo thế giới, có sự tham
gia của LHQ, các đại sứ quán.
IOC
được thành lập vừa có tính chất tư vấn, giám sát theo
đúng quy định quốc tế. Nhà nước chỉ hỗ trợ để thực
hiện, chứ không tài trợ toàn bộ.
Về
mặt tổ chức nhân sự của Ban ĐPQG gồm ba thành phần, GHGPVN,
IOC Việt Nam và các bộ ban ngành Trung ương. Do đó, chúng ta
phải có sự phối hợp chặt chẽ, có thể có những sai sót
khách quan vì lần đầu tiên chúng ta tổ chức nên vừa làm
vừa rút kinh nghiệm.
Mặt
khác, chúng tôi cũng đề nghị, trong các hoạt động chuẩn
bị IOC đã chủ động thì sự phối hợp giữa IOC + GHPGVN
cần tăng cường hơn cũng như giữa IOC và Ban ĐPQG, nhất là
các văn kiện liên quan đến Đại lễ Phật đản.
Giang
Phong (ghi)
(Giác
Ngộ online)
ĐẠI
LỄ PHẬT ĐẢN LIÊN HIỆP QUỐC 2008
TẠO CƠ HỘI
THIẾT LẬP NHỊP CẦU TÂM LINH
 |
 |
Trước
thềm Xuân Mậu Tý, phóng viên đã có cuộc trao đổi với
GS.TS Lê Mạnh Thát, Phó Viện trưởng Học viện PGVN tại TP.HCM,
Chủ tịch Ban Tổ chức quốc tế, về cơ duyên Việt Nam lần
đầu tiên vinh dự đăng cai tổ chức Đại lễ Phật đản
LHQ 2008. Xin trân trọng giới thiệu đến quý độc giả.
-
Phóng viên: Xin GS cho biết đôi nét về Lễ Vesak và LHQ lại
công nhận ngày lễ này như là một Đại lễ văn hóa, tôn
giáo quốc tế?
-
GS.TS Lê Mạnh Thát: Vesak là một lễ hội quan trọng
bậc nhất của Phật giáo. Vesak hay Tam hợp là Đại lễ kỷ
niệm ngày Phật đản sinh, thành đạo và nhập diệt. Tên
gọi Vesak bắt nguồn từ một tháng của Ấn Độ, tương đương
với tháng 5 dương lịch. Đại lễ Vesak vốn đã được tổ
chức tại nhiều nước Phật giáo từ xưa cho đến nay. Vesak
trong truyền thống Phật giáo Theravada ứng với ngày Phật
đản sanh theo truyền thống Phật giáo Mahayana, tức ngày trăng
tròn tháng Visakha.
Phật
giáo là một trong những tôn giáo lâu đời nhất trên thế
giới; lời dạy của Đức Phật đã đóng góp tích cực cho
đời sống tinh thần nhân loại hơn 2.500 năm qua và sẽ còn
tiếp tục đóng góp. Vì vậy, nhằm tôn vinh các giá trị đạo
đức, văn hóa, tư tưởng hòa bình của Đức Phật, ngày 15-12-1999,
Đại Hội đồng LHQ tại phiên họp thứ 54, mục 174 của Chương
trình Nghị sự, đã chính thức công nhận Đại lễ Vesak là
một lễ hội văn hoá, tôn giáo quốc tế của LHQ (United Nations
Day of Vesak).
Những
hoạt động kỷ niệm sẽ được diễn ra hàng năm tại trụ
sở LHQ và tại các trung tâm LHQ trên thế giới. Năm 2000, Đại
lễ Vesak Quốc tế lần đầu tiên được tổ chức ở trụ
sở chính LHP tại New York. Từ năm 2004 trở về sau, các Đại
lễ đều được tổ chức thành công tại Thái Lan.
-
Phóng viên: Được biết, một số nước khác như Trung Quốc,
Sri Lanka, đặc biệt là Myanmar…, đều muốn đăng cai tổ
chức Đại lễ Phật đản LHQ (ĐLPĐLHQ) 2008. Như vậy, cơ
duyên nào khiến cho Việt Nam chứ không phải các nước khác
nhận được vinh hạnh này?
-
GS.TS. Lê Mạnh Thát: Tất cả đều nhờ vào mối quan
hệ tốt đẹp của Việt Nam đối với Thái Lan. Như chúng
ta đã biết, trong nhiều năm liền, Thái Lan đã đăng cai tổ
chức thành công Đại lễ Vesak LHQ; Văn phòng Ban Thư ký quốc
tế IOC cũng đã được đặt vĩnh viễn tại trường Đại
học Mahachulalongkorn, Bangkok.
Trong
các kỳ Đại lễ trước, Việt Nam là thành viên thường trực
của Ủy ban Tổ chức quốc tế (IOC), có nhiều sáng kiến
đóng góp, ủng hộ tích cực trong công tác tổ chức cũng
như xây dựng dự án thành lập Hiệp hội Đại học Phật
giáo thế giới; số tham luận của Đại biểu Việt Nam cũng
đã được chọn thuyết trình nhiều hơn so với các nước
khác, khẳng định được vị thế học thuật của đại biểu
Việt Nam đối với quốc tế; nhiều nhà nghiên cứu Phật
học lớn trên thế giới cũng đã nhiệt tình ủng hộ Việt
Nam. Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để Thái
Lan đưa Việt Nam vào danh sách ưu tiên hàng đầu. Dĩ nhiên,
để nhận được quyền đăng cai, GHPGVN và Bộ Ngoại giao
VN cũng đã gởi công hàm yêu cầu Chính phủ Thái Lan và Trưởng
ban Tổ chức quốc tế ủng hộ Việt Nam đăng cai tổ chức
ĐLPĐLHQ 2008.
-
Phóng viên: Thưa GS, chúng ta có gặp phải sự phản đối nào
trong quá trình vận động để trở thành nước đăng cai ĐLPĐLHQ
2008?
-
GS.TS. Lê Mạnh Thát: Dĩ nhiên có một số người không
đồng tình. Trong khi chúng tôi vận động để nhận được
quyền tổ chức từ phía Thái Lan, một vị sư người Sri Lanka
hỏi tôi rằng: Việt Nam có phải là một đất nước Phật
giáo không để có thể nhận được quyền đăng cai tổ chức
ĐLPĐLHQ 2008?
Tôi
đã trả lời rằng Việt Nam là đất nước có truyền thống
PG lâu đời. PG đã đến Việt Nam từ rất sớm, sớm hơn
cả Trung Quốc, và tinh thần PG đã ăn sâu vào tâm thức của
mỗi người dân Việt; văn hóa Việt Nam thấm đẫm văn hóa
Phật giáo. Thống kê của Mỹ cho thấy rằng Việt Nam hiện
có 60-70% là Phật tử. Như vậy rõ ràng Việt Nam xứng đáng
được nhận quyền đăng cai này.
-
Phóng viên: GS từng cho rằng việc đăng cai tổ chức ĐLPĐLHQ
2008 là vinh dự của tất cả chúng ta. Xin GS nói rõ hơn về
vinh dự ấy?
-
GS.TS. Lê Mạnh Thát: Chúng ta sẽ tạo được một hình
ảnh Việt Nam tốt đẹp đối với bạn bè năm châu, qua đó
nâng vị trí của Việt Nam trên thế giới, thiết lập bang
giao và hữu nghị với nhiều quốc gia. Chúng ta cũng có cơ
hội thiết lập nhịp cầu tâm linh và học hỏi kinh nghiệm
Phật sự của hơn 500-600 phái đoàn Phật giáo đến từ 70-100
quốc gia.
Bên
cạnh đó, chúng ta sẽ có được một ĐLPĐLHQ như ngày lễ
quốc tế về tôn giáo và văn hóa, đồng thời kêu gọi ý
thức bảo tồn và phát huy di sản văn hóa thế giới, trong
đó bao gồm các di sản văn hóa Phật giáo cấp thế giới
và quốc gia…
-
Phóng viên: Công tác tổ chức ĐLPĐLHQ 2008 hiện đã gặp phải
những khó khăn nào thưa GS?
-
GS.TS. Lê Mạnh Thát: Không có khó khăn nào hết! Nhà
nước đã đăng cai tổ chức, Giáo hội phối hợp và nhận
được sự bảo trợ của Chính phủ. Bên cạnh đó, chúng
ta còn nhận được sự ủng hộ của các cá nhân, đoàn thể,
đại diện các doanh nghiệp v.v… Như vậy, việc còn lại
của chúng ta là hãy bắt tay vào làm cho được, thực hiện
tốt những công việc còn lại để có được một ĐLPĐLHQ
thành công mỹ mãn. Tất cả đều là vì Phật giáo mà làm!
Phóng
viên: Xin cảm ơn giáo sư!
| Ngày
28-4-2007 HT.Thích Hiển Pháp đã thay mặt GHPGVN gởi công văn
đến BTC quốc tế và Chính phủ Hoàng gia Thái Lan. Vào ngày
2-3 tháng 5-2007, GS.TS Lê Mạnh Thát và ĐĐ.TS Thích Nhật Từ
đã thay mặt GHPGVN đến làm việc với ban Tổ chức quốc
tế để thảo luận về Thỏa hiệp chuyển giao cho Việt Nam
đăng cai tổ chức ĐLPĐLHQ 2008 tại Việt Nam.
Trong
công văn của Trưởng Ban Tổ chức quốc tế ký ngày 3-5-2007
và công hàm của Phó Thủ tướng Chính phủ Thái Lan ký vào
tháng 5-2007 đã nhất trí ủng hộ Việt Nam làm nước đăng
cai, với điều kiện Chính phủ Việt Nam phải gởi công hàm
yêu cầu được đăng cai.
Ngày
17-5-2007, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gởi công hàm số 241
yêu cầu Chính phủ Thái Lan và Trưởng ban Tổ chức quốc
tế ủng hộ Việt Nam làm nước đăng cai. Trong các phiên họp
ngày 23-5-2007, Bí thư thứ nhất của Đại sứ quán Việt Nam
tại Thái Lan đã thay mặt nước ta yêu cầu Ban Tổ chức quốc
tế xem xét tình trạng đăng cai của Việt Nam.
Sau
hơn hai ngày làm việc với ba nước đương đơn, GS.TS Lê Mạnh
Thát và ĐĐ.Thích Nhật Từ đã thuyết phục được IOC chấp
thuận Việt Nam đăng cai ĐLPĐLHQ năm 2008. Điều này đã được
xác lập bằng công văn của Chủ tịch IOC gởi cho Thủ tướng
Việt Nam vào ngày 25-5-2007 cũng như đã được công bố trong
lễ bế mạc và được ghi nhận tại điều 2 của Tuyên bố
Bangkok về Phật đản 2007.
Ngày
29-5-2007, trong lễ bế mạc ĐLPĐLHQ, sau khi xem xét thư thỉnh
nguyện của GHPGVN và thư đăng ký đăng cai của Bộ Ngoại
giao nước ta, HT.Dharmakosajarn (Chủ tịch sáng lập ngày Đại
lễ Vesak LHQ) đã căn cứ vào Hiến chương ĐLPĐLHQ công bố
trước hơn 500 đại biểu PG thuộc 62 quốc gia rằng Việt
Nam sẽ là nước đăng cai ĐLPĐLHQ 2008. |
(Nguyệt
san Giác Ngộ)
02-03-2008
11:23:56
VÌ
MỘT THẾ GIỚI HOÀ BÌNH AN LẠC
 |
 |
Năm
2008, Phật tử Việt Nam sẽ đón lễ Phật Đản đặc biệt
nhất trong lịch sử 2.000 năm Phật giáo Việt Nam khi được
kỷ niệm ngày lễ này cùng các Phật tử trên toàn thế giới
nhân sự kiện Đại lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc (UN Vesak
2008) lần đầu tiên được tổ chức tại nước ta.
Khai thác các
tư tưởng tốt đẹp của Phật giáo
Đại
lễ Vesak LHQ kỷ niệm tam hợp của Đức Phật (ngày Phật
sinh, ngày Phật thành đạo và Phật nhập niết bàn), diễn
ra vào giữäa tháng 5 dương lịch. Ngày 15.12.1999, theo đề
nghị của 34 nước, Đại hội đồng LHQ đã chính thức công
nhận Đại lễ Vesak là một lễ hội văn hóa, tôn giáo quốc
tế của Liên Hiệp Quốc và các hoạt động kỷ niệm sẽ
được tổ chức hàng năm tại trụ sở cũng như các trung
tâm của LHQ trên thế giới. Sự kiện này đã gây sự chú
ý trong cộng đồng Phật giáo trên khắp thế giới, được
xem là cơ hội truyền bá thông điệp tình thương, hòa bình,
bất bạo động và lòng từ bi cho thế giới; Thúc đẩy giá
trị nhân văn về một xã hội công minh và thịnh vượng của
cả nhân loại. Trong thư gửi Phật tử quốc tế nhân ngày
Vesak 2007, Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon khẳng định: “Hơn
2.500 qua, những lời dạy của Đức Phật vẫn là kim chỉ
nam và có ý nghĩa đối với hàng triệu người trên thế giới.
Việc tổ chức hàng năm Đại lễ này là cơ hội để Phật
tử xác quyết niềm tin vào giáo lý của Ngài, đồng thời
phát huy tinh thần Từ bi, Trí tuệ và Hòa bình mà Phật tổ
đã truyền trao... Nhân ngày Vesak (ngày của giác ngộ chân
lý), tất cả chúng ta - những người Phật tử và không phải
là Phật tử - hãy đến với nhau trong tinh thần khách quan
và độ lượng. Chúng ta hãy phấn đấu mỗi ngày vì sự tiến
bộ của bản thân và của thế giới”.
Vesak
không thuần túy là một sự kiện mang tính tôn giáo mà nó
là các hoạt động xung quanh những sự kiện liên quan đến
Đức Phật, khai thác các tư tưởng cao đẹp của Phật giáo
vì một thế giới hòa bình, an lạc. Bên cạnh nội dung sinh
hoạt tôn giáo, hội thảo về Phật giáo, Vesak còn có các
hoạt động biểu diễn và triển lãm văn hóa nghệ thuật
dân gian của nước đăng cai. Chủ tịch Uỷ ban Tổ chức quốc
tế Đại lễ Vesak (IOC), Giáo sư Lê Mạnh Thát, Phó hiệu trưởng
Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh cho biết,
Vesak 2008 sẽ nhấn mạnh đến giá trị văn hóa Phật giáo
và Việt Nam, trong đó Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ giới
thiệu về lịch sử, đặc trưng, hành trình phát triển, nhập
thế và hòa hợp tâm linh của Phật giáo trong truyền thống
của người Việt, những đóng góp to lớn của Phật giáo
trong lịch sử gắn bó và đồng hành cùng dân tộc. “Các
phần trình diễn văn hóa truyền thống và triển lãm văn hóa
Phật giáo sẽ được tổ chức tại Trung tâm Hội nghị Quốc
gia và trong các chùa tại Hà Nội. Cũng sẽ có các nghi lễ
tụng kinh cầu nguyện của các truyền thống Phật giáo. Các
hoạt động đặc biệt như hội chợ văn hóa, hội chợ thực
phẩm và các hoạt động văn hóa khác cũng sẽ được tổ
chức cho các tham dự viên”.
Vì một xã
hội công bằng, dân chủ và văn minh
Đại
lễ Vesak 2008 sẽ diễn ra từ ngày 13–17.5.2008 tại Trung tâm
Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình ở Thủ đô Hà Nội. Thời gian
tổ chức Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2008 nằm trong
mùa Phật đản ở Việt Nam, gần kề ngày Rằm tháng Tư âm
lịch và không làm ảnh hưởng tới lễ Phật đản theo truyền
thống ở các địa phương. Đây là cơ hội để Giáo hội
Phật giáo Việt Nam được tiếp đón hàng nghìn nhà lãnh đạo
các truyền thống và tông phái Phật giáo, chư tôn đức, các
học giả, hành giả Phật giáo đến từ khắp nơi trên thế
giới. UN Vesak 2008 có chủ đề: Sự đóng góp của Phật giáo
trong việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn
minh. Tại Đại lễ cũng sẽ diễn ra các hội thảo nhánh xoay
quanh các vấn đề: Quan điểm của Phật giáo trong việc giải
quyết các vấn đề chiến tranh và xung đột; Sự đóng góp
của Phật giáo đối với công bằng xã hội; Bàn về vấn
đề Phật giáo nhập thế và phát triển; Các giải pháp của
Phật giáo về sự thay đổi khí hậu và chăm sóc môi sinh;
Thực hành và ứng dụng Phật giáo đối với các vấn đề
gia đình và xung đột thế hệ; Đề cập giáo dục Phật giáo
mang tính kế thừa và phát triển. Một điểm nổi bật của
đại lễ là IOC đã đồng ý cho trình diễn Sáng kiến bản
đồ văn hóa điện tử (ECAI), một cách tiếp cận về khoa
học kỹ thuật số để trình chiếu các thông tin về di sản
và các truyền thống Phật giáo. Giáo sư Lewis Lancaster đang
giảng dạy tại trường Đại học California, Mỹ, sẽ chủ
trì chuyên đề đặc biệt này. Bản đồ điện tử là một
trong những cải cách lớn khi giới thiệu một thư viện điện
tử hay văn khố. Điều đó sẽ thúc đẩy sự tương tác giữa
các nước Phật giáo. Bản đồ có thể lưu trữ 4.000 mạng
lưới Phật giáo Việt Nam và 8.000 mạng lưới của Trung Quốc.
Trong
xu thế hội nhập quốc tế, việc trở thành thành viên của
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), là Uỷ viên không thường
trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc làm cho vị thế Việt
Nam ngày càng vững mạnh. Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành
cùng dân tộc. Theo Hòa thượng Thích Thanh Tứ, Phó chủ tịch
thường trực Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt
Nam, Phó trưởng ban Điều phối quốc gia Vesak 2008: Đây là
một duyên lành cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam có cơ hội
giao lưu, trao đổi với các Giáo hội Phật giáo và Tăng già
trên toàn thế giới, gắn kết tình thân hữu với bạn bè
Phật giáo quốc tế và thông qua đó, Giáo hội Phật giáo
Việt Nam cũng mong bạn bè thế giới sẽ hiểu biết hơn về
Phật giáo Việt Nam, về văn hóa, đất nước và con người
Việt Nam.
Nguyên
Anh
(NDBND)
01-23-2008
09:34:55
|