DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
PHẬT GIÁO
TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT VÀ CHIẾN TRANH
Thích
Nhất Hạnh
Thích
nữ Tịnh Vân dịch
 |
 |
Bài
tóm tắt
Mầm
mống chiến tranh và xung đột ở trong chúng ta. Có những đau
buồn trong chúng ta trở nên dễ nhận, bao gồm và biến đổi
như: giận dữ, sân hận, đối xử phân biệt, kiêu mạn, thất
vọng… Thực hành là để thấy tận cội nguồn của chúng,
hiểu chúng và biết làm thế nào hoá giải chúng. Chúng ta
cần lắng nghe nỗi khổ riêng của chúng ta, nỗi khổ của
gia đình ta, cộng đồng và quốc gia ta. Chúng ta có thể giúp
nhau trong mối quan hệ của chúng ta để nhận ra rằng những
đau đớn này còn đó trong mỗi tự thân và chúng ta sống
theo một cách như vậy để cho phép các khổ đau này lớn
mạnh - mỗi chúng ta phải làm lời cam kết không được tưới
những hạt giống bạo lực, hận thù, phân biệt đối xử
và thất vọng trong chúng ta. Trong tình cốt nhục của chúng
ta, ví như người cộng sự với nhau, cha đối với con trai,
mẹ đối với con gái, anh đối với em… chúng ta có thể
giúp nhau thực hiện, luôn học cách lắng nghe nhau bằng lòng
từ, luôn dùng lời ái kính giúp người kia nhận ra buồn khổ
đang ngự trị trong tâm vị ấy. Chúng ta cũng dùng lời ái
kính ban cho người khác những hạt giống hiểu biết, từ
bi, hỷ lạc và tình cốt nhục vốn sẵn ở trong. Chúng ta
giúp nhau giải quyết tình huống quan hệ cá nhân chúng ta,
trước khi chúng ta mong giúp giải quyết cá tính con người
và trần gian. Giải quyết có thể trong mỗi hơi thở, mỗi
bước chân, mỗi lúc chúng ta nói một điều, phát ra một
ý tưởng và giữ lại một việc làm, ngay cả việc làm mỉm
cười đối với người khác. Trần gian lắm bịnh, xã hội
chúng ta lắm bịnh, lại có quá nhiều thất vọng và bạo
lực. Thực hành theo lời đức Phật dạy về nghĩ đúng (suy
nghĩ không phân biệt, có từ tâm và hiểu biết), nói đúng,
làm đúng, sống đúng là nòng cốt cho việc giải quyết cái
mà tất cả chúng ta quan tâm. Người trẻ nên học cách thực
hành con đường Bát Chánh trong tình huống gia đình và học
đường của họ, và công dụng của từ ngữ vô tội luôn
được áp dụng, nếu có thể. Đàm phán về Hoà bình dẫn
đến kết quả tốt nếu số đông tham gia giải trừ xung đột
có hiểu biết nhau và biết làm thế nào để sử dụng nhuần
nhuyễn đức tính lắng nghe và dùng lời ái ngữ.
Vai
trò của Phật giáo trong việc
giải
quyết xung đột và chiến tranh
(Bài
giảng nhân Đại lễ Phật Đản LHQ (Vesak) 2008 tại Trung tâm
Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình - Hà Nội) Chân Giác Lưu phỏng
dịch:
Âm
thanh MP3 : Phần
1 - Phần
2
Kính
thưa các vị khách quí, kính thưa đại chúng,
Chúng
ta có thể mô tả sự thực tập trong đạo Phật như là một
nghệ thuật sống an lạc và xây dựng hòa bình trong xã hội
trên toàn thế giới. Là một Phật tử, là sự tiếp nối
của Đức Thế Tôn, chúng ta phải học được nghệ thuật
sống an lạc và xây dựng hòa bình trong gia đình, trong cộng
đồng, trong xã hội của chúng ta.
Làm
lắng dịu những căng thẳng trong thân
Nếu
nhìn sâu vào bản thân mình, chúng ta thấy rằng trong đó đã
có sẵn những mầm móng của chiến tranh. Mỗi người trong
chúng ta, ai cũng có sự căng thẳng trong thân, ai cũng có những
cảm xúc như sợ hãi, bạo động, hận thù, tuyệt vọng, ai
cũng có những tư duy và những tri giác sai lầm. Đó có thể
xem là những mầm móng của chiến tranh. Tu tập trong đạo
Phật là để nhận diện được những yếu tố tiêu cực
trong mình để có thể chăm sóc và chuyển hóa nó.
Khi
trở về với hơi thở, thở vào, thở ra và ý thức được
toàn thân của mình thì chúng ta nhận ra rằng trong thân mình
có rất nhiều căng thẳng và đau nhức. Chúng ta phải làm
thế nào để làm lắng dịu những căng thẳng, những đau
nhức đó? Trong kinh Quán Niệm Hơi Thở (Satipatthanasutta), Bụt
có dạy cho chúng ta phương pháp thực tập buông thư những
căng thẳng trong thân. Đó là bài tập thứ ba và thứ tư trong
kinh Quán Niệm Hơi Thở:
Thở
vào, tôi ý thức được toàn thân tôi với những căng thẳng
trong nó. Thở ra, tôi buông thư hết những căng thẳng trong
thân tôi.
Chỉ
cần tập thở như vậy trong vài phút thì chúng ta có thể
làm lắng dịu những căng thẳng trong thân mình. Những căng
thẳng đó, nếu bị chất chứa và dồn nén trong thân, thì
nó sẽ làm phát sinh ra nhiều chứng bệnh.
Các
nhà khoa học hiện đại nhận thấy rằng, nếu chúng ta có
khả năng buông thư những căng thẳng trong thân thì cơ thể
của chúng ta sẽ có cơ hội để tự chữa lành những chứng
bệnh. Chúng ta không cần sử dụng nhiều thuốc men. Chúng
ta chỉ cần buông bỏ những căng thẳng thì thân chúng ta tự
nhiên có khả năng trị lành bệnh tật. Chúng ta có thể hòa
giải với cơ thể của mình và khi chúng ta hòa giải được
với cơ thể của mình rồi thì chúng ta cũng có thể hòa giải
được với cảm thọ của mình.
Làm
lắng dịu những căng thẳng trong tâm
Chúng
ta có những cảm thọ khó chịu hay những cảm xúc khổ đau
mà chúng ta không biết làm thế nào để xử lý? Bụt dạy
chúng ta kinh Quán Niệm Hơi Thở, chỉ cho chúng ta phương pháp
nhận diện, ôm ấp, làm lắng dịu để có thể chuyển hóa
những cảm thọ khó chịu hay những cảm xúc đau khổ của
mình.
Bài
tập thứ bảy là: Thở vào, tôi nhận diện những cảm thọ
và cảm xúc đau khổ trong tôi. Và bài tập thứ tám là:
Thở ra, tôi buông thư những căng thẳng trong cảm thọ của
tôi, tôi học nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa những cảm
xúc như sợ hãi, giận hờn, hận thù, ganh tị, tuyệt vọng
trong tôi.
Điều
đó rất quan trọng! Đó là cách trở về hòa giải với mình,
chăm sóc thân mình, chăm sóc cảm thọ và cảm xúc của mình.
Bụt dạy chúng ta phương pháp nhận diện những tâm hành của
mình trong đó có tưởng hay tri giác. Chúng ta có rất nhiều
vọng tưởng tức tri giác sai lầm. Tri giác sai lầm đưa tới
lời nói sai lầm và hành động sai lầm. Đó là nguyên nhân
gây ra sự xung đột giữa chúng ta, giữa những người cùng
một nhóm, giữa những nhóm trong cùng một quốc gia và giữa
những quốc gia với nhau.
Sống
an lạc trong gia đình và trong học đường
Vì
vậy cho nên phương pháp thực tập đầu tiên trong đạo Bụt
là trở về với chính mình, nhận diện được những căng
thẳng, đau khổ, bức xúc trong mình để có thể lập lại
bình an trong thân và trong tâm của mình.
Nếu
cha mẹ có tu tập thì có thể đem lại hạnh phúc cho con cái
mình và cho gia đình mình. Những người con được lớn lên
trong một gia đình như vậy thì sẽ biết cách nhận diện
và xử lý những căng thẳng, những khó khăn trong thân cũng
như trong tâm mình. Cha mẹ phải thực tập để có thể dạy
cho con cái nghệ thuật sống an lạc.
Trong
học đường các thầy, các cô giáo cũng có thể giúp được
cho học sinh, những em không có cơ hội thực tập trong
gia đình, không được học thương yêu và ban tặng niềm vui
cho những người thân của mình. Nếu các thầy, các cô biết
phương pháp thực tập thì có thể giúp cho học sinh có một
cơ hội thứ hai. Học đường sẽ trở thành gia đình thứ
hai và các thầy cô giáo sẽ trở thành cha mẹ thứ hai của
các em. Hiện nay chúng ta có rất nhiều khó khăn trong gia đình
và trong học đường. Có rất nhiều hiểu lầm, giận hờn,
bạo động trong gia đình và học đường. Vì vậy cho nên
các bậc phụ huynh và các thầy giáo hay cô giáo phải học
nghệ thuật sống an lạc để giúp cho con em mình và cho học
trò mình cũng được sống an lạc.
Chúng
tôi hy vọng các vị thuộc ngành giáo dục nên quán chiếu
vấn đề và đem áp dụng phương pháp thực tập có nguồn
gốc đạo Bụt nầy vào trong gia đình và học đường.
Thực
tập lắng nghe và ái ngữ
Trong
30 năm giảng dạy tại các nước Tây phương, chúng tôi đã
cống hiến cho các bạn Tây phương phương pháp sống an lạc
nầy. Nhiều người đã thực tập và áp dụng được thành
công. Họ đã về hòa giải được với cha mẹ, con cái, vợ
chồng của mình và đã tìm lại được hạnh phúc.
Chúng
tôi cũng chia sẻ phương pháp lắng nghe với tâm từ bi và
dùng ái ngữ để lập lại truyền thông. Hiện nay chúng ta
có nhiều phương tiện truyền thông rất tinh vi nhưng sự truyền
thông giữa vợ chồng, giữa cha con, giữa mẹ con thì trở
nên khó khăn hơn. Chúng tôi đã chứng kiến nhiều trường
hợp cha không nói chuyện được với con, con không lắng nghe
được cha. Nếu không có sự truyền thông với nhau thì làm
sao có thể tháo gỡ tri giác sai lầm để hòa giải lại với
nhau?
Tại
Làng Mai, Pháp quốc, trong nhiều năm qua, chúng tôi có bảo
trợ những nhóm người Palestinean và Do Thái sang tu tập với
chúng tôi. Chúng tôi cũng đã học hỏi rất nhiều nơi họ.
Khi mới đến thì họ không nhìn mặt nhau được tại vì họ
có quá nhiều đau khổ, quá nhiều sợ hãi, hận thù và nghi
kỵ.
Trước
tiên, tăng thân Làng Mai giúp họ làm lắng dịu những căng
thẳng trong thân. Họ tập thở, tập đi, tập ngồi trong chánh
niệm. Họ tập nhận diện những nỗi khổ niềm đau và làm
lắng dịu những cảm xúc của mình bằng phương pháp buông
thư hoàn toàn theo lời Bụt dạy.
Sau
khi cả hai nhóm đều thực tập được một tuần lễ thì
họ được hướng dẫn thực tập phương pháp lắng nghe và
dùng ái ngữ. Khi chúng ta đau khổ thì chúng ta có khuynh hướng
làm cho người kia cũng đau khổ như mình. Nhưng nếu mình biết
dùng ái ngữ tức là những lời nói không có tính cách trách
móc, lên án, buộc tội thì mình có thể giải bày cho người
kia biết nỗi khổ niềm đau, những khó khăn và những mong
ước của mình. Và nếu mình là người lắng nghe thì mình
phải trở về với hơi thở, mình thở vào thở ra, mình phải
nhớ rằng lắng nghe là một pháp môn tu tập để chế tác
tình thương. Chỉ cần lắng nghe một giờ đồng hồ thôi
thì chúng ta đã làm cho người kia bớt khổ nhiều lắm rồi.
Trong
Phật giáo đại thừa có Đức Bồ Tát Quan Thế Âm là một
vị Bồ Tát có khả năng lắng nghe với tâm từ bi. Nếu chúng
ta học được hạnh lắng nghe của Bồ Tát Quan Thế Âm thì
chỉ trong vài ngày là chúng ta có thể lắng nghe được người
kia hay nhóm kia. Chúng ta biết rằng, chúng ta chỉ cần lắng
nghe trong một hay hai giờ đồng hồ thì người kia đã đỡ
khổ nhiều lắm rồi. Người kia có thể không có lời nói
dễ thương, không ai có thể lắng nghe người đó được.
Nhưng bây giờ mình đã học được hạnh lắng nghe của Đức
Quan Thế Âm, mình có thể lắng nghe họ với tâm từ bi và
như thế thì mình đã giúp được họ nhiều lắm rồi. Người
kia hay phía bên kia có dịp nói ra hết tất cả nỗi khổ niềm
đau, tất cả những khó khăn của họ và nhóm người bên
đây (Palestinean hay người Israeli) chỉ im lặng nghe thôi. Tăng
thân Làng Mai ngồi kế bên để yểm trợ cho họ trong sự
thực tập.
Sau
khi thực tập như vậy độ chừng một giờ đồng hồ thì
tình trạng thay đổi hẳn. Ai cũng nhận ra rằng: Những người
phía bên kia, người lớn và cả trẻ con, họ cũng đau khổ
y hệt như mình vậy! Vì vậy cho nên lần đầu tiên mình nhìn
được người phía bên kia bằng con mắt thương. Người kia
cũng là một con người như mình vậy! Trước đó mình tưởng
rằng chỉ có mình là khổ thôi, người kia không có khổ gì
hết, người kia chỉ muốn làm mình khổ thôi. Bây giờ, sau
vài lần thực tập lắng nghe nhau thì mình nhận ra rằng người
kia cũng khổ rất nhiều y như mình vậy. Biết được điều
đó thì cả hai bên cảm thấy đỡ khổ rồi.
Cuối
cùng, sau muời ngày thực tập thì hai nhóm đã có thể nắm
tay nhau đi thiền hành. Họ có thể ngồi chia sẻ với nhau
trong tình huynh đệ. Những nhóm người Palestinean và Do Thái
thực tập luôn luôn thành công. Đến cuối khóa tu thì hai
bên lên báo cáo thành quả tu tập của họ với đại chúng.
Họ hứa khi trở về nhà sẽ tổ chức những tăng thân tức
những nhóm tu học để những người Palestinean hay người
Do Thái trong nước đến tu tập cho bớt khổ.
Cái
thấy vô ngã và tương tức
Chúng
ta biết rằng, nếu muốn có lời nói đúng đắn (chánh ngữ)
và hành động đúng đắn (chánh nghiệp) thì chúng ta phải
có một cái thấy đúng đắn (chánh kiến). Cái thấy đúng
đắn là cái thấy của duyên khởi, của vô ngả và tương
tức. Người có tu tập phải luôn luôn nhớ đem tuệ giác
đó áp dụng vào trong đời sống hằng ngày. Trong khi nhìn,
trong khi nghe, chúng ta cũng phải tiếp xúc được với tuệ
giác của duyên khởi, vô ngã và tương tức.
Ví
dụ như một cặp cha con, nếu quán chiếu cho kỹ thì mình
thấy người con là sự tiếp của người cha. Nếu con tập
thở có chánh niệm và nhìn sâu vào cơ thể mình thì sẽ thấy
cha có mặt trong từng tế bào cơ thể mình. Cha không chỉ
ở ngoài con mà cha còn có mặt ở trong con. Mẹ cũng vậy,
mẹ cũng có mặt ở trong con. Nếu cha nhìn sâu vào cơ thể
mình thì cha cũng sẽ thấy con mình có mặt trong mình. Nếu
con đau khổ thì cha cũng đau khổ. Con không thể nào thật
sự có hạnh phúc nếu cha đau khổ và cha không thể nào thật
sự có hạnh phúc nếu con đau khổ. Vì vậy cho nên, đau khổ
không phải là vấn đề của một cá nhân. Nếu mình khổ
thì con mình khổ và cha mình cũng khổ. Nếu con mình có hạnh
phúc thì mình cũng có hạnh phúc.
Trong
ánh sáng của vô ngã và tương tức thì đau khổ không phải
là vấn đề của một cá nhân. Đau khổ là đau khổ chung
của con và của cha. Đó là tuệ giác của vô ngã và tương
tức. Chúng ta biết rằng tất cả mọi thứ đều có liên
quan mật thiết với nhau. Sự an lành của loài vật rất cần
thiết cho sự an lành của con người. Sự an lành của các
loài cỏ cây và đất đá là điều kiện để con người được
sống an lành. Vì vậy cho nên bảo vệ môi trường và bảo
vệ các loài trên trái đất là bảo vệ con người. Đó là
tuệ giác của tương tức.
Không
phải chỉ có đạo Phật mới có tuệ giác đó mà các truyền
thống tôn giáo không phải Phật giáo cũng có. Có những Phật
tử có tiếp xúc với giáo lý tương tức nhưng không áp dụng
được tuệ giác đó vào đời sống của mình. Là người
xuất gia mà mình quên mình là người xuất gia, mình tiếp
tục chạy theo quyền hành, danh vọng, mình chỉ muốn xây chùa
thật lớn. Mình không có khả năng sống an lạc và đem lại
bình an trong đoàn thể xuất gia của mình. Mình không có bình
an trong mình, mình không sống an lạc được với các sư anh,
sư chị, sư em của mình. Mình không thật sự tu tập như một
người xuất gia.
Áp
dụng sự thực tập năm giới vào đời sống hằng ngày
Là
cư sĩ, chúng ta đã thọ năm giới, nhưng chúng ta quá bận
rộn, chúng ta không áp dụng sự thực tập năm giới vào đời
sống hằng ngày. Tháng 3 năm 2000 cơ quan UNESCO có công bố
một bản tuyên cáo gọi là Manifesto 2000. Trong bản tuyên cáo
có sáu điểm để xiển dương hòa bình. Liên Hiệp Quốc tuyên
bố, trong thập niên đầu của thế kỷ 21 chúng ta sẽ cố
gắng xiển dương và xây dựng một nền văn hóa hòa bình
và bất bạo động. Tôi được cơ hội ngồi chung với các
vị đã được giải Nobel hòa bình để thảo ra bản tuyên
cáo 2000. Trong đó, có sáu điểm để thực tập và Manifesto
2000 đã thu được 75 triệu chữ ký trong đó có chữ ký của
nhiều vị nguyên thủ quốc gia như thủ tướng v.v... Sáu điểm
của Manifesto rất tương tự với năm giới của Phật giáo.
Nếu mọi người đều thực tập theo sáu điểm của Manifesto
hay theo năm giới của Phật giáo thì chúng ta sẽ có bình an
trong chúng ta và hòa bình trên toàn thế giới.
Nhưng
trên thực tế, sau khi ký xong bản tuyên cáo thì quí vị không
có cơ hội để thực hành. Quí vị đồng ý với bản tuyên
cáo, quí vị biết rất rõ đó là một bước để dẫn đến
hòa bình nhưng quí vị không có dịp sống đúng theo sáu điểm
của bản tuyên cáo và áp dụng sáu điểm đó vào trong đời
sống hằng ngày. Đó là một sự thiếu sót của chúng ta!
Theo
truyền thống Phật giáo thì sau khi thọ năm giới xong, quí
vị được khuyến khích họp với nhau lại hai tuần một lần
để tụng giới, dự pháp đàm về năm giới hầu học cách
áp dụng tốt sự thực tập năm giới vào đời sống hằng
ngày. Không phải là chúng ta không có đường đi, chúng ta
có đường đi nhưng không nhận ra được mình trên con đường
đó để cùng đi với nhau như một dòng sông. Vì vậy cho nên
tôi đề nghị là chúng ta phải thấy mình là một thành phần
của tăng thân. Gia đình mình có thể là một tăng thân, lớp
học mình có thể là một tăng thân, cơ quan làm việc có thể
trở thành một tăng thân, ủy ban nhân dân có thể trở thành
một tăng thân, quốc hội có thể trở thành một tăng thân
để chúng ta có cơ hội thực tập sáu điểm của Manifesto
2000.
Bảo
vệ sự sống của mọi loài
Giới
thứ nhất trong năm giới là giới bảo vệ sự sống, không
những sự sống của con người mà luôn cả sự sống của
các loài thú, các loài cỏ cây và đất đá. Đó là sự thực
tập để bảo vệ môi trường. Muốn cho loài người được
an lành thì chúng ta phải bảo vệ những loài vật, cả những
loài cỏ cây và đất đá. Để có thể thực tập sâu sắc
giới thứ nhất chúng ta phải học giới thứ năm tức là
giới tiêu thụ có ý thức và sản xuất có ý thức. Nếu
chúng ta khai thác quá mức nguồn tài nguyên của trái đất
thì chúng ta sẽ gây ra những tổn hại lớn. Vì muốn làm
giàu người ta sản xuất ra những loại thực phẩm mà khi
mình tiêu thụ nó thì mình đưa vào cơ thể và tâm hồn mình
những chất độc như hận thù, bạo động, sợ hãi. Đó là
đầu độc thân và tâm bằng con đường tiêu thụ. Chúng ta
phải tiêu thụ có ý thức, không chấp nhận tiêu thụ và
sản xuất những chất độc hại có thể tạo ra sự xung đột,
bệnh tật, căng thẳng, hận thù, sợ hãi trong thân và trong
tâm mình. Đó là phương pháp rất hay để tự bảo vệ mình,
bảo vệ gia đình, cộng đồng và xã hội mình. Nếu không
thực tập tiêu thụ có ý thức thì chúng ta sẽ không có con
đường thoát. Chúng ta phải sản xuất có ý thức, không sản
xuất những sản phẩm có chất độc. Chúng ta phải tiêu thụ
có ý thức, không tiêu thụ những chất độc hại.
Thực
tập giới thứ nhất có thể đem lại hòa bình. Các nhà lập
pháp nên quan tâm đến điều đó. Họ phải ban hành những
luật lệ cấm sản xuất những loại sản phẩm có thể đưa
vào trong cơ thể và tâm hồn con người những độc tố như
sợ hãi, giận dữ, hận thù hay tuyệt vọng.
Các
bậc phụ huynh và các nhà giáo dục thực tập cũng chưa đủ,
tôi nghĩ các doanh nhân và các nhà chính trị cũng phải cùng
thực tập. Các vị phải giúp chúng ta, hoặc bằng cách ban
hành những luật lệ cấm sản xuất những loại sản phẩm
có độc tố hoặc bằng cách giáo dục con người trong việc
tiêu thụ, chỉ nên tiêu thụ những chất lành mạnh cho thân
và tâm của mình.
Không
bóc lột con người và trái đất
Giới
thứ hai rất là rõ ràng: Không bóc lột con người, không bóc
lột hành tinh trái đất. Nếu chúng ta bóc lột, lợi dụng
con người và trái đất, chúng ta không nghĩ đến tương lai
của con cháu chúng ta thì chúng ta không có chánh tư duy như
Bụt dạy. Chánh tư duy là gì? Chánh tư duy là tư duy song hành
với tuệ giác của tương tức và vô ngã. Anh là tôi và tôi
là anh. Chánh tư duy là tư duy đi đôi với hiểu và thương,
với bao dung và tha thứ.
Khi
mà chúng ta vừa chế tác ra một tư tưởng của chánh tư duy
thì tư tưởng đó đã có khả năng nuôi dưỡng thân và tâm
của chúng ta, tư tưởng đó cũng có tác dụng nuôi dưỡng
trên thế giới và trên hành tinh của chúng ta. Là Phật tử,
chúng ta phải có khả năng chế tác ra nhiều tư tưởng như
vậy, tư tưởng của chánh tư duy, tư tưởng của hiểu và
thương, của bao dung và tha thứ. Khi thực tập được chánh
tư duy thì lời nói của chúng ta là chánh ngữ, là lời nói
đem lại sự hiểu biết và niềm hy vọng cho anh chị em chúng
ta. Hành động của chúng ta cũng sẽ là chánh nghiệp. Chánh
kiến là căn bản và từ đó chúng ta có chánh tư duy, chánh
ngữ và chánh nghiệp. Đó là phương pháp thực tập để xây
dựng hòa bình.
Chúng
ta bàn rất nhiều về hòa bình nhưng chúng ta chưa hành động
đủ để xây dựng hòa bình.
Đức
Thế Tôn đã ban tặng cho chúng pháp môn thực tập thì mình
cũng phải dâng tặng lại cho Đức Thế Tôn sự tu tập của
mình. Ba nghiệp mà mình tạo ra bằng sự thực tập chánh tư
duy, chánh ngữ, chánh nghiệp là phẩm vật mình cúng dường
Đức Thế Tôn mỗi ngày. Đó là cách mình bày tỏ lòng biết
ơn đối với Bụt, Thầy của mình.
Sống
đơn giản, ít tiêu thụ mà có hạnh phúc
Tại
tu viện Lộc Uyển ở tiểu bang California, chúng tôi ngưng không
sử dụng điện của thành phố, chúng tôi chỉ sử dụng năng
lượng mặt trời. Hàng trăm người trong tu viện chỉ sống
nhờ vào năng lượng mặt trời. Chúng tôi dùng dầu thực
vật để chạy xe và cùng với các cư sĩ chúng tôi thực tập
một ngày không xe hơi (carfree day) trong một tuần. Một ngày
không sử dụng xe hơi là một ngày không làm ô nhiểm môi
trường, đó cũng là phẩm vật chúng ta cúng dường lên Đức
Thế Tôn. Chúng tôi cùng các cư sĩ đã cúng dường lên Đức
Thế Tôn 60.000 ngày không xe hơi.
Ngày
22 tháng 9 là ngày không xe hơi quốc tế, chúng tôi hy vọng
tới ngày đó chúng tôi có thể cúng dường lên Đức Thế
Tôn 100.000 ngày không xe hơi Nếu không sử dụng xe hơi mà
sử dụng xe gắn máy thì chúng ta cũng có thể cúng dường
Bụt một ngày không xe gắn máy trong tuần.
Chúng
ta có thể bày tỏ tình thương của chúng ta đối với hành
tinh nầy bằng cách sử dụng điện ít hơn, sử dụng dầu
khí ít hơn. Chúng ta biết rất rõ là dầu khí không đủ cung
cấp cho tất cả mọi người. Những nước như Ấn Độ hay
Trung Quốc có rất đông dân cư. Nếu mỗi người dân đều
muốn có một chiếc xe hơi thì không thể nào có đủ dầu
khí để cung cấp cho mọi người. Ý thức được như vậy
là giác ngộ rồi, đó là chánh tư duy. Sống giản dị, ít
tiêu thụ là con đường thoát duy nhất của chúng ta! Chúng
ta, những người Phật tử nên bắt đầu đưa sự giảng dạy
và thực tập lối sống đó vào cộng đồng của mình.
Trong
những tu viện của chúng tôi ở Âu Châu và Mỹ Châu, không
nguời nào có xe hơi riêng, có laptop riêng, điện thoại riêng
hay trương mục ngân hàng riêng. Nhưng chúng tôi sống rất
hạnh phúc! Qua sự tu tập, chúng tôi biết rằng hạnh phúc
có thể có được nếu chúng ta được nuôi dưỡng bởi tình
huynh đệ, được nuôi dưỡng bằng tình thương. Chúng ta không
cần phải tiêu thụ nhiều mới có hạnh phúc.
Nhiều
người trong chúng ta nghĩ rằng nếu mình không có nhiều tiền,
không có quyền hành to hay danh vọng lớn thì mình sẽ không
có hạnh phúc. Nhưng khi nhìn lại xung quanh thì tôi thấy có
rất nhiều người có quyền hành to, có rất nhiều tiền nhưng
họ cũng đau khổ cực kỳ và có một số người đã tự
tử. Tôi cũng thấy có những huynh đệ đồng tu của tôi,
họ không có xe hơi, không có trương mục ngân hàng, không
có máy vi tính riêng nhưng họ lại rất hạnh phúc. Điều
đó có nghĩa là sống đơn giản mà có hạnh phúc là cái có
thể có được. Đó là điều Bụt dạy ta: Sống giản dị,
ít tiêu thụ, để thì giờ chăm sóc cho mình nhiều hơn.
Sống
hạnh phúc trong giây phút hiện tại
Kính
thưa các anh chị em, kính thưa các vị khách quí,
Chúng
ta được cùng ngồi với nhau ở đây để tán dương Đức
Thế Tôn, Thầy của chúng ta. Điều đó rất là hay, rất là
đẹp! Tôi đề nghị là để tỏ lòng biết ơn đối với
Thầy của mình, chúng ta cố gắng sống theo đúng con đường
Ngài đã chỉ cho chúng ta, để thì giờ chăm sóc thân mình,
thì giờ thương yêu và chăm sóc những người xung quanh mình.
Vì vậy cho nên chúng ta nên bớt lại thì giờ chạy theo cái
mà ta gọi là thành công trong sự nghiệp dù đó là giàu sang,
uy quyền hay danh vọng.
Hạnh
phúc có thể có được nếu chúng ta trở về với giây phút
hiện tại, trở về hơi thở, ý thức rằng mình đang còn
sống và những mầu nhiệm của sự sống đang có mặt trong
ta và xung quanh ta. Chúng ta chỉ cần ngồi yên, buông thư, thì
có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống.
Nó có công năng trị liệu và nuôi dưỡng chúng ta và hạnh
phúc có thể tới liền trong phút giây hiện tại.
Đức
Thế Tôn dạy chúng ta giáo lý Hiện pháp lạc trú tức là
sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại (Drstadharma sukhavihara).
Trong thời Bụt còn tại thế, có một nhà doanh thương tên
là Anāthapindika. Ông đã theo học được ở Bụt rất
nhiều và cố gắng áp dụng những điều đã học vào trong
đời sống gia đình, vì vậy cho nên gia đình của ông rất
hạnh phúc. Một hôm ông dẫn 500 doanh nhân bạn của ông đến
nghe Bụt giảng. Trong bài thuyết pháp cho các doanh nhân hôm
đó Bụt đã lập lại cụm từ Hiện pháp lạc trú đến năm
lần. Bụt biết rất rõ là các nhà doanh thương thường hay
lo lắng, suy nghĩ nhiều về tương lai, họ lo cho sự thành
công của họ trong tương lai. Họ không có thì giờ cho chính
họ, không có thì giờ cho con cái và gia đình họ. Bụt muốn
nhắc nhở cho các doanh nhân là hạnh phúc đã có mặt bây
giờ và ở đây. Chúng ta chỉ cần thở có chánh niệm và
trở về với giây phút hiện tại thì chúng ta sẽ nhận diện
được những điều kiện của hạnh phúc đang có mặt bây
giờ và ở đây. Chăm sóc hiện tại cũng là chăm sóc tương
lai vì tương lai được làm bằng những chất liệu của hiện
tại. Chúng ta đầu tư 100% vào hiện tại, làm tất cả những
gì cần phải làm, không làm những gì có hại cho mình trong
hiện tại và trong tương lai. Chăm sóc thật tốt cho hiện
tại để có một tương lai tốt đẹp vì tương lai được
làm bằng chất liệu của hiện tại. Cố nhiên là chúng ta
có quyền thiết kế cho tương lai, nhưng chúng ta không cần
phải lo lắng quá cho tương lai, chúng ta không sợ hãi tương
lai. Chúng ta không đánh mất mình trong sự sợ hãi, nỗi hoang
mang cho tương lai. Đó là điều mà Đức Thế Tôn muốn nói
với chúng ta: Sống hạnh phúc trong hiện tại, chúng ta đã
có đầy đủ những điều kiện để có hạnh phúc trong hiện
tại. Đó là thông điệp mà chúng ta có thể gửi đến các
bạn của chúng ta, những người Phật tử cũng như những
người không phải Phật tử.
Thực
tập hơi thở
Tôi
xin mời các vị khách quí và đại chúng hãy ngồi cho thoải
mái trong một hay hai phút để nhận diện được hạnh phúc
đang có mặt bây giờ và ở đây. Chúng ta không cần chạy
đi tìm hạnh phúc trong tương lai. Được ngồi chung với nhau
như một gia đình tâm linh là một điều rất mầu nhiệm!
Chúng ta ngồi ở đây với Đức Thế Tôn! Chúng ta hãy vui
hưởng sự có mặt của nhau!
Thở
vào, tôi mời ba trong tôi cùng thở vào với tôi / Thở ra,
tôi mời mẹ trong tôi cùng thở ra với tôi.
Thở
vào, con cảm thấy nhẹ, ba có cảm thấy nhẹ như con không?
/ Thở ra, con cảm thấy tự do, mẹ có cảm thấy tự do như
con không?
Thở
vào, tôi thấy Bụt có mặt trong từng tế bào cơ thể tôi
tại vì tôi là học trò, tôi là sự tiếp nối của Ngài /
Thở ra, tôi mỉm cười với Bụt trong từng tế bào cơ thể
tôi.
Hứa
với Bụt
Con
xin hứa với Đức Thế Tôn rằng con sẽ là sự tiếp nối
tốt đẹp của Ngài. Trong khi đi mỗi bước chân của con đều
có vững chãi, thảnh thơi, an lạc. Khi thở thì mỗi hơi thở
của con đều đem lại bình an, êm dịu cho thân tâm. Khi
nói thì con sẽ dùng lời ái ngữ. Trong khi lắng nghe con sẽ
nuôi dưỡng tâm từ bi để giúp cho người vơi bớt nỗi khổ
niềm đau. Con xin nguyện nối lại truyền thông với chính
mình, với những người trong gia đình và trong cộng đồng
của con. Con biết là làm như vậy là yểm trợ cho việc xây
dựng hòa bình trong xã hội con.
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.