DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
HÀN GẮN
KHỔ ĐAU CHIẾN TRANH, XUNG ĐỘT VÀ HOÀ GIÀI:
QUAN ĐIỂM
PHẬT GIÁO
Tiến
sĩ Marie Louise Friquegnon, Đại Học William Paterson
Diệu
Liên – Lý Thu Linh dịch
 |
 |
(Bài
tóm tắt)
Phật
giáo, một tôn giáo của trí tuệ và từ bi, đặt nền tảng
trên sự tương quan và tương trợ giữa mọi người.
Tất cả đều chia sẻ một thực tại tuyệt đối vượt lên
trên mọi tư duy, và được diễn tả bằng nhiều cách. Cốt
yếu của mọi tôn giáo đều cao cả. Tính cao cả đó được
mọi người hiểu như là thiện căn, trí tuệ và uy lực.
Nhận thức được tính chất giống nhau này trong mọi tôn
giáo khiến người Phật tử có thể chấp nhận và thông hiểu
dựa trên những giá trị chung này. Đó là con đường
của bất bạo động.
Samuel
Huntington và một số người khác đã tranh luận rằng những
xung đột trong xã hội hiện đại là kết quả của những
sự khác biệt không thể dung hòa giữa các nền văn hóa. Trong
khi việc chấp nhận những sự khác biệt văn hóa là điều
quan trọng, nhưng những giá trí nhân bản chung được thể
hiện bằng nhiều cách khác nhau trong những xã hội khác nhau.
Nhận
thức được những giá trị chung này có thể là chìa khóa
để hóa giải thành công những xung đột khi chúng phát khởi.
Trước hết tôi sẽ trình bày việc kinh điển của các tôn
giáo trên thế giới đã bao gồm những giá trị chung này như
thế nào. Sau đó tôi sẽ thảo luận (1) giải pháp cho xung
đột dựa trên những giá trị chung là một giải pháp có
thể thay thế cho bạo động, (2) những manh động chính
trị về việc phân chia lại của cải toàn cầu trên một
bình diện rộng là điều nằm trong khả năng của các chủ
quyền trên thế giới và cũng phù hợp với những giá trị
mà họ đề cao, và (3) việc bỏ qua những quy luật như là
quyền con người, không thể bị tra tấn, tạo nên một giải
pháp thay thế tồi tệ nhất trong việc giải quyết những
vấn đề như khủng bố.
Nếu
chúng ta từ bỏ những giá trị đạo đức của mình vì sợ
khủng bố và quay sang bạo động và tra tấn, có thể chúng
ta chỉ làm tăng thêm sân hận là nguồn gốc của khủng bố.
Một quan điểm đạo đức cao có thể phù hợp với nhiều
nền văn hóa, và có thể tước đoạt những công cụ tuyên
truyền mà các nhà lãnh đạo sử dụng để chống lại Tây
phương. Hiện tại những người khủng bố có thể biện hộ
một cách khá hợp lý rằng phương tiện của họ là vũ khí
duy nhất mà họ có để sửa đúng lại những cái sai mà họ
tin là các nước phát triển đã gây ra cho họ. Nếu cộng
đồng thế giới đề cao đạo đức, lý trí, tạo ra công
ăn việc làm, giáo dục, nhà ở và những giúp đỡ về y tế,
thì hòa bình sẽ trở thành một giái pháp thay thế hấp dẫn
hơn là việc khủng bố.
Những
tranh luận này đưa ra để chống lại lập luận của Joseph
Margolis cho rằng việc từ bỏ những giá trị của phương
Tây là cần thiết để tái lập hòa bình với những nước
đang phát triển. Đồng thời ủng hộ ý kiến của Martha Nussbaum
và Amartya Sen rằng sự thông cảm, hiểu biết về những giá
trị chung này được thể hiện như thế nào trong bối cảnh
của những nhu cầu và nền tảng lịch sử khác nhau là cách
hữu ích nhất để chống trả lại khủng bố.
Đức
Phật đã can đảm đối mặt với Devadatta, người anh bà con
của Ngài, không phải bằng bạo động, mà bằng tâm từ,
ngay cả khi Devadatta muốn giết Ngài. Chúng ta phải có can đảm
đối mặt với những ai muốn đe dọa chúng ta, thông cảm
với những khổ đau chính đáng của họ, và cùng bắt tay
làm tốt trong một thế giới đang càng ngày càng tùy thuộc
vào những tài nguyên đang dần cạn kiệt. Như Đức Đạt
Lai Lạt Ma đã nói, chiến tranh đã “lỗi thời”, thật phi
lý khi bạn tự thả bom ngay trong chính sân nhà mình.
Tiểu
Sử:
Marie
Louise Friquegnon
Khoa
Triết Học
277
Avenue C William Paterson University.
Apt
7E Wayne, New Jersey 07470 New York, 10009, USA
(973)
720-3031, (212) 673 0907
Email:
friquegnonm@wpunj.edu
Fax:
(973) 720 2827
Trình
Độ Học Vấn:
Tốt
nghiệp Cao học triết tại trường Đại học New York, 1967;
Tiến sĩ Triết học tại Đại học New York năm 1974. Đề
tài luận văn: Religious Vision: Truth or Metaphor (Quan điểm tôn
giáo: Chân Lý hay Ảnh dụ).
Sách
đã xuất bản:
-
Ethics for Modern Life, 5th edition, with R. Abelson, 1994, St. Martin’s
Press, New York; editions of 1975, 1982, 1986, 1990, 1994, 2002
-
The Philosophical Imagination, with M. Lockwood and R. Abelson, St. Martin’s
Press, New York 1976
-
Clarity and Vision, with R. Abelson, Dubuque: Kendall Hunt, editions of
2000, 2003.
-
On Shantarakshita, Belmont CA: Wadsworth, 2000.
-
Praise to the Lotus Born: A Garland of Devotional Waves by Khentrul Tsewang
Dongyal Rinpoche translated from the Tibetan by Toy Tung and Marie Friquegnon,
Dharma Samudra, June, 2003.
-
Reflections on Childhood Binghamton: Global Scholarly Publications,
December 2004.
-
The Tattvasiddhi and the Madhyamakalamkara with commentaries by Khenchen
Palden Sherab Rinpoche and Khentrul Tsewang Dongyal Rinpoche, ed. by Marie
Friquegnon, and translated by Khechen Palden Sherab Rinpoche, Khentrul
Tsewang Dongyal Rinpoche, MarieFriquegnon, and Arthur Mandelbaum,
forthcoming. New York: American Institute of Buddhist studies, Columbia
Unuversity, 2007..Series editor, Robert Thurman.
Các
Bài Viết Trong Các Tạp Chí:
“Paradoxes
of Determinism,” Philosophy and Phenomenological Research, 1972.
“Metaphor
in Religion and Art,” Journal of Critical Analysis, 1971
“Pursuing
Paradox,” Philosophy and Phenomenological Research, 1974
“God
and Other Programs,” Religious Studies, Cambridge,1979
“Right
and Responsibilities of Young People,” Thinking, February 1980
“Kohlberg
at the Gap,” in Philosophy, Childhood and the Family, Plenum Press, 1982.
“Childhood’s
End: The Age of Responsibility, Thinking, February 1984
“Tibetans
Don’t Oppose Technological Change” Letter, The New York Times, September
1988.
“The
Transforming Buddha” in The Journal of Ethical Culture, Fall 1990
“Philosophical
Problems of Child Abuse” with Wilavene Ecker in Victims of Crime, Plenum
Press, 1991.
“Children’s
Responsibilities” in Thinking Children and Education, Matthew Lipman
(Ed.), Dubuque: Kendall/Hunt, 1993.
“Ethics
of the Global Village” in Questioning Matters, Daniel Kolak (Ed.), Mayfield
2000.
“Buddhism
in Kalmykia” with Maris Abelson in Pema Mandala, Spring 2000.
“What
is a Child” in Thinking, Vol. 13, No. 1.
“Witchcraft
and Rationality” in Academic Forum, Fall 2001.
“The
Sangha and 9/11” Pema Mandala Fall 2002
"The
following articles for The Encyclopedia of Holy Persons: ”,” Longchenpa”,
“Machig Lodron”, “ Mipham”, “Santaraksita”,”Yeshe Tsogyal”,
ed. Karna Huges, in print and internet.
“Personal
Identity and Reincarnation in Buddhism”in Journal of Comparative
Indian, Chinese and Islamic Philosophy New York: Global Scholarly Publications,
2007.
Các
Bài Tham Luận:
“Buddhist
Philosophy”, Conference at Union Theological Seminary, Spring 2001
“Tibetan
Buddhist Philosophy New Jersey City University, Spring 2000
“Buddhist
Philosophy” Union Theological Seminary, Spring 2001
“Buddhist
Philosophy and Meditation” Conference at Bard College 2002
“Genocide
in Tibet” Holocaust Conference William Paterson University 2002
"Buddhism,
Free Will and Liberation" at Hawaii International Conference for Art and
the Humanities, January, 2003
“Santaraksita
and Cognitive Science” William Patersom University Faculty Research Seminar.
Spring 2003
“Tibetan
Buddhism, Free Will and Liberation”,Conflict Resolution and Interfaith
Dialogue, Cathedral of St. John the Divine, April 2003
“Teaching
Tibet” Lecture and workshop in Teaching Asia, William Paterson University,
April 2003
“Santaraksita
and the Logic of the Tantra” Conference: The Heritage of Nalanda” Nalanda.
India 2006.
“Santaraksita
and Modern Philosophy” American Philosophical Association, Chicago, 2003””Indo-Tibetan
Buddhist Ethics” Conference on Ancient and Medieval Philosophy, Fordham
10/06
“Buddhist
Ethics: A system of Checks and Balances” Conference: Buddhism in the
21st Century, Bodhgaya, 2/07.
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.