DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
PHÁT HUY
VAI TRÒ VÀ THỰC LỰC CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM,
GÓP PHẦN XÂY
DỰNG XÃ HỘI DÂN SỰ HÀI HOÀ-DÂN CHỦ-VĂN MINH
TS.
Bạch Thanh Bình
 |
 |
Phật
giáo truyền vào Việt Nam từ hai nghìn năm đã hòa nhập vào
đời sống tinh thần của người Việt và trở thành lực
lượng văn hóa – tinh thần vững chắc trong lòng của người
dân đất Việt. Phật giáo Việt Nam do đó đã thật sự là
Phật giáo dân tộc.
Về
văn hóa tâm linh, Phật giáo Việt Nam kết hợp thờ Phật với
tín ngưỡng dân gian – thực chất và chủ yếu là thờ
kính Tổ tiên (bao gồm ông bà các thế hệ, các bậc tiền
bối có công đức; các vị tổ khai sáng các ngành nghề; các
danh nhân và anh hùng liệt sĩ...).
Về
văn hóa tinh thần, những tư tưởng Phật pháp như tinh thần
tự giác, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hành vi và hậu
quả do chính con người tạo ra (tự tu tự độ và luật nhân
quả) và đề cao từ bi, hòa hợp, phương tiện tùy duyên...
đã bao đời thấm nhuần và trở thành đạo lý sống tự
nhiên của đông đảo nhân dân Việt Nam. Đã có sự nhìn nhận
phổ biến về trạng thái thâm nhập, hòa quyện của tư tưởng
Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc
Việt Nam như một chân lý xã hội – lịch sử:
Mái
chùa che chở hồn dân tộc
Nếp
sống muôn đời của tổ tông
Tinh
thần Phật giáo đã góp phần quan trọng tạo nên những phẩm
chất: Tự lực và kiên trì khắc phục khó khăn trở ngại
trong cuộc sống và mọi hoàn cảnh để tồn tại, bền bỉ
vươn lên, sống “hành thiện cầu phúc”, ở hiền gặp lành,
ác giả ác báo, đoàn kết cộng đồng, thương yêu giúp đỡ
đồng bào đồng loại... Đó là những yếu tố quan trọng
góp phần hợp thành tính dân tộc, tạo nên bản sắc, tinh
hoa và truyền thống văn hóa tinh thần tốt đẹp của dân
tộc ta.
Xét
tổng quan, văn hóa tín ngưỡng và ý thức tư tưởng của
người Việt Nam cho đến ngày nay là Tam giáo đồng nguyên
và tổng hòa những hệ tư tưởng, những học thuyết của
các thời đại. Trong đó, những người thờ Phật và sống
theo, chia sẻ hoặc chịu ảnh hưởng tinh thần Phật giáo ở
mức độ, trạng thái khác nhau trên thực tế luôn chiếm tỷ
lệ đa số, kể cả những đối tượng chính thức tuyên bố
theo các học thuyết, các hệ tư tưởng khác.
Ở
Việt Nam, tín ngưỡng thờ Tổ tiên và thờ Phật kết hợp
với tinh thần, đạo lý sống Phật giáo thâm nhập vào đại
bộ phận nhân dân đã biến thành một lực lượng xã hội
quan trọng của dân tộc trong các giai đoạn lịch sử dựng
nước và giữ nước.
Thời
Lý - Trần, lừng lẫy sự nghiệp phá Tống bình Chiêm, ba lần
đại thắng đế quốc Nguyên Mông; thời Hậu Trần, mười
năm kháng chiến oanh liệt đánh đuổi quân Minh; thời giặc
Pháp xâm lược, phong trào Cần Vương và Văn Thân bất khuất,
bền bỉ chiến đấu chống thực dân và tay sai khắp ba miền
Nam Trung Bắc... Lâu nay, khi đề cập các thành tích lịch sử
đó, sử sách thường chỉ nói đến công lao hiển hách của
các anh hùng dân tộc đồng thời là những vị thiền sư hoặc
ít nhất là những sĩ phu của Tam giáo: Lý Thường Kiệt, Trần
Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Phan Đình Phùng, Trần
Cao Vân... Điều quan trọng hơn là đa số lực lượng làm
nên những chiến công lịch sử cứu nước vĩ đại ấy là
nhân dân thờ Tổ tiên và thờ Phật, đặc biệt đại bộ
phận nhân dân thời Lý – Trần là Phật tử và dưới ách
thực dân Pháp là đông đảo đồng bào lương trung thành với
văn hóa tín ngưỡng dân tộc. Đặc điểm và truyền thống
ấy tiếp tục thể hiện rõ trong hai cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ. Đại bộ phận lực lượng yêu nước
tham gia cuộc kháng chiến thần thánh vĩ đại ấy, ở nông
thôn cũng như thành thị, là những người có tinh thần dân
tộc – thực chất là những người thờ Tổ tiên và thờ
Phật.
Trong
công cuộc dựng nước và xây dựng xã hội qua các thời kỳ,
Phật giáo góp phần tạo dựng, vun đắp những cộng đồng
nhân ái và hòa thuận, hướng thiện và tương trợ, những
đơn vị làng xã cố kết bền vững với trung tâm văn hóa
tinh thần là những ngôi chùa thanh bình, an lạc. Kế thừa
truyền thống đó, Phong trào Chấn hưng Phật giáo thế kỷ
trước, từ cuối những năm 20 đến trước Cách mạng tháng
Tám, trong điều kiện xã hội đương thời, đã hình thành
các khuôn hội (nay là đạo tràng) và Niệm Phật đường (chùa
làng) làm nòng cốt, với các hội quần chúng Phật tử (trước
hết, hội đoàn Gia đình Phật tử), trở thành các đoàn thể
xã hội Phật giáo. Sau này, bổ sung thêm hệ thống các tổ
chức y tế, giáo dục, tương tế... Phật giáo như những phương
tiện thiệp thế, tham gia xây dựng xã hội. Trong điều kiện
đất nước bị thực dân thống trị, sáng kiến của Phong
trào Chấn hưng Phật giáo là đóng góp có ý nghĩa và tác
dụng tích cực vào công cuộc vận động giải phóng dân tộc,
từng bước luyện tập dân chủ và xây dựng xã hội mới...
Trong kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam, khuôn hội và các
hội đoàn Phật giáo ngoài vai trò là những tổ chức đấu
tranh và tự quản của quần chúng yêu nước tiến bộ, trên
thực tế đặc biệt còn là trợ thủ đắc lực đã nuôi
dưỡng và che chở cho lực lượng cách mạng trong những lúc
khó khăn, cũng như góp phần quan trọng tạo thêm thế và lực
cho cách mạng – nhất là trong các phong trào đấu tranh dân
tộc dân chủ và hòa bình ở các thành thị.
Phật
giáo Việt Nam là Phật giáo tích cực nhập thế. Đó là Phật
giáo “Sống đời vui đạo cứ tùy duyên” (Trần Nhân Tông);
“Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”
(Ca dao), “Ngộ niết bàn giữa ta bà, hóa quốc độ thành
tịnh độ”, “Dù xây chín bậc phù đồ, Không bằng làm
phúc cứu cho một người”...
Các
vị thiền sư xuất gia như: Pháp Thuận, Khuông Việt, Vạn
Hạnh, Mãn Giác, Quảng Đức…, các vị thiền sư tại gia
như: Lý Thường Kiệt, Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ,
Trần Nhân Tông (cuối đời Ngài Trần Nhân Tông xuất gia),
Nguyễn Phước Nguyên, Ngô Thì Nhậm, Lê Đình Thám... và hàng
vạn Tăng Ni, cư sĩ Phật giáo Việt Nam đã thực hiện phương
châm “Phật pháp không xa rời thế gian pháp”, kiên trì và
tinh tiến khế lý khế cơ Phật pháp với thế gian đồng thời
tinh nghiêm, uyển chuyển hành xử việc đời phù hợp tinh
thần và giáo lý Phật giáo.
Xét
thấy bản chất, đặc điểm ưu việt và truyền thống nói
trên, Phật giáo Việt Nam đủ sức và cần phải được phát
huy mạnh mẽ trong vận hội mới, thời kỳ hội nhập quốc
tế của đất nước.
Tình
hình và yêu cầu lịch sử thời kỳ hội nhập đặt ra cho
Phật giáo Việt Nam một sự chấn hưng mới, phải đưa ra
được những phương hướng và nhiệm vụ phấn đấu vừa
cơ bản vừa cấp bách, đòi hỏi phải nhận rõ được vai
trò và trách nhiệm, phát huy thực lực của mình để nỗ
lực thực hiện như một giải pháp khách quan và tối ưu...
Một
là, bản thân Phật giáo Việt Nam phải phát huy nội lực,
đòi hỏi phải kiên cố đạo tâm, ra sức tăng cường đạo
lực để thực hiện một cuộc vận động chấn hưng mới
cả về tu học và hành trì. Về hoằng pháp, hoàn thiện Giáo
hội của Tứ chúng (Tăng, Ni, thiện nam, tín nữ) và thiệp
thế lợi sinh. Về tu tập và phụng sự khế hợp Phật pháp
với xã hội, đất nước và thời đại. Thực tế khách quan
như thế đòi hỏi Phật giáo tất yếu phải tiến hành cuộc
vận động chấn hưng mới, chủ yếu do tự thân và với sự
hỗ trợ cần thiết của ngoại duyên. Thực chất vận động
chấn hưng là tuân thủ nguyên lý khế kinh, bao gồm hai mặt
gắn bó biện chứng: khế lý và khế cơ. Một mặt phải chuyên
tâm, nghiêm chỉnh lĩnh hội và thể nghiệm những nguyên lý
kinh điển của Phật pháp, đồng thời vận dụng thích ứng
vào mọi hoàn cảnh, thời gian, đối tượng, yêu cầu. Giác
ngộ lời Phật dạy là hiểu và ứng dụng đúng đắn các
nguyên lý Phật pháp trong từng phương sở, thời điểm cụ
thể. Khắc phục tình hình nhận thức, giảng giải kinh điển
một cách sai lầm, phiến diện, thô thiển hoặc vận dụng,
triển khai tùy tiện, lệch lạc – thậm chí xa lìa thực tế,
thần bí bế tắc hoặc mê tín hư ngụy, buôn thần bán thánh.
Để phát huy nội lực, ngoài việc tăng cường rèn luyện
hạnh tu cho tứ chúng, Phật giáo Việt Nam phải đẩy mạnh
hơn nữa công tác giáo dục trong hệ thống các Học viện
Phật giáo, các Trường Sơ - Trung cấp Phật học và ở các
chùa trên cả nước, để nâng cao trình độ nhận thức trên
mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, ngoại
ngữ, vi tính, chứ không chỉ riêng Phật pháp cho Tăng Ni, Phật
tử để đáp ứng theo kịp thời đại, nhất là trong thời
kỳ hội nhập quốc tế hiện nay của đất nước.
Hai
là, khắc phục tình trạng rời rạc, chia rẽ, thậm chí phân
hóa, phân liệt hoặc đối lập vô ích tồn tại trong một
số cá nhân và bộ phận Phật giáo Việt Nam. Nghiêm túc, chân
thành thực hiện đại hòa hợp “Tứ chúng đồng tu” bao
gồm các tông phái, chốn tổ, sơn môn, xu hướng, phương sở
- bao gồm cả trong và ngoài nước, trên nguyên tắc lục hòa
và tôn trọng biệt truyền. Thực hiện nguyên lý thống nhất
Phật giáo thực chất là hòa hợp và đại hòa hợp, không
phải chỉ là một sự tập trung thống nhất duy nhất, máy
móc, hình thức và quan liêu. Phân biệt và khắc phục, loại
trừ những ngoại duyên phi Phật giáo hoặc trái nguyên tắc
lục hòa và giới luật đang tác động ảnh hưởng, thậm
chí chi phối, lũng đoạn, gây chia rẽ nội bộ Phật giáo
Việt Nam, nhất là những tác nhân chính trị phi nghĩa hoặc
tư lợi bất chính.
Ba
là, phát huy vai trò Phật giáo dân tộc để làm nòng cốt
và chủ đạo cho đời sống tín ngưỡng tôn giáo và đời
sống văn hóa tinh thần của nhân dân các dân tộc anh em Việt
Nam bao gồm nhiều tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, theo phương
châm và chính sách “Tín ngưỡng tự do - lương giáo đoàn
kết” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên cơ sở khẳng định
Phật giáo là bản sắc, bản chất và truyền thống của tín
ngưỡng tâm linh Việt Nam, đồng thời chân thành đoàn kết
và tôn trọng tự do tín ngưỡng cùng những giá trị nhân
văn, hướng thiện của các tín ngưỡng tôn giáo khác.
Bốn
là, xiển dương và phát huy mạnh mẽ tôn chỉ “hoằng pháp
lợi sinh” của Phật giáo và truyền thống “hộ quốc an
dân” của Phật giáo Việt Nam. Hàng Phật tử tại gia, các
Tăng Ni xuất gia và tổ chức Giáo hội Phật giáo nên tăng
cường tham gia vào những hoạt động văn hóa và xã hội (bao
gồm giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo...) thiết thực.
Khuyến khích nam nữ Phật tử các lứa tuổi, nghề nghiệp,
thành phần xã hội... tích cực và gương mẫu thực hiện
quyền và nghĩa vụ công dân, tự giác tham gia các hoạt động
góp phần xây dựng bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu “Dân
giàu Nước mạnh Xã hội công bằng - dân chủ - văn minh”,
góp phần khắc phục và bài trừ các tệ nạn xã hội, các
hiện tượng tham nhũng, lạc hậu và phạm pháp.
Năm
là, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và quốc tế Phật
giáo như một bộ phận quan trọng của công tác đối ngoại
và quốc tế nhân dân phù hợp với đường lối của Nhà
nước và lợi ích chính đáng của Phật giáo. Phật giáo Việt
Nam vốn có những đặc điểm và lợi thế tương đối nổi
trội:
a)
Là nước tiếp nhận Phật pháp tương đối sớm ở Đông
Á và qua 20 thế kỷ lưu truyền đã hòa hợp sâu sắc với
tín ngưỡng dân gian trở thành đời sống tín ngưỡng tâm
linh và đời sống văn hóa tinh thần cơ bản của đa số nhân
dân, đóng góp quan trọng hình thành bản sắc tinh hoa dân tộc.
b)
Phật giáo Việt Nam đã trở thành lực lượng văn hóa tinh
thần và lực lượng xã hội dân tộc, liên tục góp phần
vào sự nghiệp cứu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
qua các thời kỳ.
c/
Phật giáo Việt Nam hòa hợp đầy đủ các truyền thống Nguyên
thủy và Đại thừa, Bắc truyền và Nam truyền.
d)
Người Phật tử Việt Nam không chỉ trong dân tộc đa số
(Kinh) mà trong cả các dân tộc thiểu số khắp nước và ngày
càng tăng trưởng về số lượng, nâng cao về trình độ tu
học, hành trì, theo xu thế chung của thế giới và thời đại.
e)
Phật giáo Việt Nam bước đầu xây dựng được và đang phát
triển một đội ngũ Tăng Ni và cư sĩ có thực lực về tu
học và về khả năng hoạt động Giáo hội, hoạt động xã
hội cũng như hoạt động đối ngoại có hiệu quả và uy
tín.
g)
Phật giáo Việt Nam có lực lượng Tăng Ni Phật tử người
Việt Nam ở nước ngoài tương đối đông, tuy tạm thời còn
một số trở ngại, nhưng nói chung, có tinh thần dân tộc
và tinh thần đồng đạo, hướng về ủng hộ đất nước
và Phật giáo nước nhà ngày càng tăng thêm về số lượng
và chất lượng.
Ngày
nay, Châu Á là địa bàn của Phật giáo. Phật giáo lại
rõ rệt đang có uy tín và có xu thế phát triển ở các châu
lục, nhất là ở Tây Âu và Bắc Mỹ - lãnh địa cũ của
các tôn giáo khác.
Với
những đặc điểm và lợi thế tương đối nổi trội nói
trên, Việt Nam cũng có nhiều khả năng phát huy vai trò ảnh
hưởng của mình trong lĩnh vực này. Và do đó, công tác đối
ngoại và quốc tế Phật giáo cần được chuẩn bị tốt
về lực lượng và điều kiện hoạt động, nhằm chủ động
đáp ứng đòi hỏi tình hình ngày càng cao và nhanh chóng mở
rộng.
Năm
nhiệm vụ khách quan đề ra trên đây, thực chất là năm phương
hướng phấn đấu của cuộc vận động chấn hưng đáp ứng
đòi hỏi cơ bản, thiết thực của Đạo pháp và dân tộc
trong tình hình mới, sáng tỏ tốt đẹp như đóa hoa sen năm
cánh cúng dường đức Phật nhân ngày Đại Lễ Phật Đản
Liên Hợp Quốc 2008. Những nhiệm vụ ấy vừa chỉ rõ yêu
cầu khách quan, vừa nói lên nội lực vốn có, phấn đấu
vươn lên của Phật giáo Việt Nam.
Cũng
như mọi thời, việc tu học và hoằng pháp lợi sinh của mỗi
người Phật tử cũng như của Tăng đoàn và Giáo hội Phật
giáo luôn gắn bó với vận mệnh của quốc độ, với sự
thăng tiến của đất nước. Thoát khỏi hàng trăm năm bị
áp bức, chìm đắm trong vòng nô lệ, nghèo nàn và lạc hậu,
nhân dân ta khẳng định quyết tâm vươn lên công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu “Dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Những
đặc điểm cơ bản của xã hội dân sự là mọi quyền lực
và lợi ích đều thuộc về nhân dân. Mọi quan hệ xã hội
được thiết lập, vận hành, điều chỉnh, bảo hộ bằng
pháp luật nghiêm minh, công bằng, vững chắc. Mọi cơ quan,
nhân sự và định chế quản lý cũng như hướng dẫn xã hội
phải thực sự “của dân do dân vì dân”.
Yêu
cầu, định mức tăng trưởng và phát triển của công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bao gồm “xây
dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc” của chúng ta là phấn đấu trở thành một nước công
nghiệp hiện đại và đứng vào hàng ngũ các nước tiên tiến
trên thế giới. Đó là một xã hội công bằng theo nghĩa hài
hòa hợp lý về quyền lực và lợi ích, về các quan hệ sở
hữu, quản lý và phân phối, về cơ hội tồn tại và phát
triển của các thành phần, đối tượng xã hội, của mọi
công dân, một xã hội dân chủ và văn minh theo tiêu chuẩn
phổ biến của thế giới đồng thời phù hợp với đặc
thù và thang giá trị của Việt Nam.
Do
những thuộc tính của Phật giáo như đề cao vai trò con người
với đầy đủ giá trị, trách nhiệm về trí tuệ, không ngừng
khắc phục vô minh và hành vi tự giác, tự chủ, tinh tiến
và hướng thiện vô lượng của con người, kiên trì hòa hợp
và hòa bình thương lượng, do đặc điểm bản chất và truyền
thống tốt đẹp của Phật giáo nước nhà, do sức mạnh và
hiệu lực của công cuộc vận động Chấn hưng giai đoạn
mới, nhất định Phật giáo Việt Nam sẽ đóng góp có hiệu
quả và xứng đáng vào mục tiêu phấn đấu lịch sử của
nhân dân cả nước. Và phải chăng chính đó là ý nghĩa thiết
thực cụ thể của phương châm Đạo pháp và Dân tộc trong
thời đại mới – thời đại nền Phật giáo dân tộc của
một nước Việt Nam tiên tiến, hội nhập đa diện đa phương
với thế giới hữu nghị và hòa bình.
(http://vesakday2008.com/indexnew.html)
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.