DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
QUAN ĐIỂM
CỦA PHẬT GIÁO VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
Ven.
Jinabodhi
Tiến
sỹ Jinabbodhi Bhikkhu, Phó giáo sư và nguyên Trưởng khoa
Ngôn
ngữ phương Đông của trường Đại học Chittagong, Chittagong,
Bangladesh.
Thích
Minh Lý dịch
 |
 |
Khái
quát:
Vô
ngã là một thuật ngữ có một ý nghĩa rất rộng trong Phật
giáo. Đức Phật chưa bao giờ dám mơ đến việc thành lập
một xã hội. Ước nguyện của ngài dành phúc lợi xã hội
trong một phạm vi rộng. Do đó toàn bộ chủ tâm của ngài
là dành cho phúc lợi của xã hội con người. Đức Phật đã
giảng dạy một tôn giáo không bị giới hạn bởi giai cấp
của con người. Từ đây chúng ta có thể dễ dàng kết luận
rằng ngài chẳng bao giờ mơ tưởng đến một xã hội của
riêng mình.
Sự
thật quá rõ ràng giống như mặt trời mọc ở phương Đông
là Đức Phật đã truyền giáo lý của Ngài không vì mục
đích thiết lập một xã hội riêng biệt chạy theo các bài
giảng của Ngài dưới mọi hình thức. Chúng ta có thể kết
luận rằng chủ thuyết của Ngài là dành cho tất cả các
xã hội loài người. Chủ thuyết chính của ngài bao gồm bốn
hành động tinh thần, như là: Từ, Bi, Hỷ, Xả. Từ có nghĩa
là tình yêu, tình hữu nghị, lòng thông cảm, tình bạn, sự
quan tâm tích cực đến người khác. Bi có nghĩa là tình thương,
lòng trắc ẩn. Bi là một trong 4 phẩm chất của tính cách,
nó đánh dấu cho một trái tim giải thoát của con người.
Hỷ có nghĩa là tình yêu vô tư, không vị lợi. Nói một cách
khác hỷ là một thái độ vui mừng, cảm kích với những
hành động thiện. Nó thể hiện thái độ khuyến thiện. Xả
là một sự trung hoà bao hàm nghĩa trung tính vô tư (một điểm
Zero giữa niềm vui và nỗi buồn).
Làm
thế nào mà đức Phật có thể mang tới một sự thay đổi
toàn diện chưa từng có bằng cách đưa ra những chuẩn mực
về một xã hội công bằng, tự do không có bạo lực và đổ
máu là đề tài của vấn đề: “Phật giáo và công bằng
xã hội”. Trong trật tự cộng đồng của đức Phật có
hai thành phần: tu sĩ và các đệ tử tại gia của đức Phật.
Cấu trúc xã hội của đức Phật không bị phân chia theo tầng
lớp và giai cấp. Hai thành phần trong cộng đồng Phật giáo
tương tác bổ sung cho nhau. Cộng đồng tu sĩ nhờ cậy vào
sự cung cấp vật chất của các đệ tử tại gia và các đệ
tử tại gia nương nhờ vào sự hướng dẫn đạo đức và
tâm linh của các tu sĩ. Hơn thế nữa không có sự phân biệt
giữa nam và nữ, giàu và nghèo, da trắng và da đen. Sự vô
phân biệt trong quan hệ của con người là một dấu hiệu
tiến bộ trên mọi lĩnh vực họat động của nhân loại.
Phật giáo phát triển khắp thế giới mà không dính dáng vào
bạo lực bởi vì cách tiếp cận nhân tính và quân bình đối
với sự phát triển của nhân loại. Cách tiếp cận này bảo
đảm tính công bằng xã hội. Đức Phật nói những vần thơ
sau đây:
“Không
phải vì sinh ra mà một người là giai cấp thấp
Không
phải vì sinh ra mà một người là giai cấp cao
Do
nhân quả mà một người là giai cấp thấp
Do
nhân quả mà một người là giai cấp cao.”
Như
vậy mọi người đều bình đẳng trước sự công bằng. Tất
cả các hình thức của sự bất công, tôn giáo độc đóan
và sự phân biệt trong xã hội gây ra một ảnh hưởng bất
lợi đối với khía cạnh chính trị và kinh tế của cuộc
sống. Trong trật tự tăng đòan của đức Phật, chỉ có 2
thành phần là tu sĩ và tín đồ tại gia. Mỗi thành phần
phụ thuộc vào thành phần kia. Do đó cấu trúc xã hội của
đức Phật là một hệ thống hài hòa, tương tác, bổ sung
cho nhau. Cộng đồng tu sĩ phụ thuộc vào các tín đồ tại
gia về các nhu cầu vật chất thiết yếu và ngược lại các
tín đồ tại gia nương tựa vào sự dẫn dắt đạo đức
và tâm linh của các tu sĩ.
Tác
phẩm Mahavagga đề cập về các điểm thiết yếu liên quan
đến những lý tưởng của vấn đề công bằng xã hội. Mahavagga
không ngừng lên án hệ thống giai cấp của thời đại Vệ
Đà. Đức Phật thẳng thắn kết luận rằng giai cấp Brahmana
không phải do sinh ra đã là. Và các giai cấp khác cũng không
phải do sinh ra đã là. Do tính chất của hành động mà giai
cấp Brahmana xuất hiện và cũng do hành động là nguyên nhân
cho các giai cấp khác xuất hiện. Một xã hội tồn tại và
phát triển bằng nghiệp của hành động. Con người hay một
chủ thể sống sót và phát triển bằng nghiệp của hành động.
Và tạo hóa gắn chặt với nghiệp của hành động. Nghiệp
(karma) luôn luôn biến động và được ví với bánh xe của
một chiếc xe bò kéo đang chuyển động. Một người Brahmana
thực sự là người thực hiện Tapa bổn phận của bản thân
một cách có định hướng, trong sáng với tính cách dâng hiến.
Một người Brahmana chân chính gìn giữ Brahmachurya, đó là
phẩm chất đạo đức chung thủy với vợ, không có quan hệ
tình ái với bất kỳ người đàn bà nào khác. Một người
Brahmana chân chính duy trì Sanyama, một phong cách sống khép
mình vào khuôn khổ không phóng túng. Một người Brahmana chân
chính nên có Dama, phẩm chất đạo đức của nghề nghiệp
sinh sống. Nghĩa hiện đại của từ này là chúng ta nên có
sức khỏe tốt, một nghề để kiếm tiền. Đức Phật mạnh
dạn đặt một nền tảng cho vấn đề công bằng xã hội
và nhấn mạnh đến nền tảng của công bằng xã hội là
nghiệp (hành động). Và người giác ngộ hiểu được bản
chất của hành động hay còn gọi là nghiệp. Phật giáo thể
hiện khái niệm công bằng xã hội bằng một giáo hội được
tổ chức tốt. Giáo hội đầu tiên được tổ chức theo lý
tưởng công bằng xã hội trong đó câu chuyện ngài Upali xuất
thân từ nghề thợ cạo tóc là một ví dụ hòan hảo thể
hiện lý tưởng công bằng xã hội. Một lần 6 hoàng tử trong
dòng họ Sakya của đức Phật đến xin đi tu và ngài Upali
đi theo họ. Nhưng đức Phật truyền giới cho ngài Upali trước
các thái tử của dòng họ Sakya do đó họ phải kính trọng
ngài Upali như một người thâm niên hơn không liên quan đến
giai cấp hay địa vị xã hội. Bên cạnh đó trong cuộc sống
tăng đòan theo luật Sapadachariya tăng sĩ khất thực từ nhà
này đến nhà khác nhưng không được phép bỏ sót bất kỳ
nhà nào do sự phân biệt giai cấp của gia chủ được tuân
thủ một cách nghiêm khắc. Đây là những sự mô tả đẹp
nhất về hành động duy trì sự công bằng xã hội của đạo
Phật. Tất cả các thành viên trong cộng đồng Phật giáo
được coi như những đứa con của đức Phật và không ai
được phép thể hiện giai cấp của mình. Trong kinh tạng Anguttaranikaya
đức Phật đã khen những nhân vật Ganga, Yamuna, Achiravati,
Sarabhu và Mahi đã từ bỏ cá nhân tính của họ trong khi đi
vào biển khổ. Đức Phật đã giải thích một cách rất lô
gíc là Brahmana không phải được sinh ra giống như ngọt lửa
bùng lên khi cọ hai thanh tre vào với nhau hoặc từ trên trời
rơi xuống, cũng không phải chui từ dưới đất lên. Nhân
vật người phụ nữ Chandala nổi tiếng trong văn học Phật
giáo là một điểm nhấn cho sự công bằng xã hội khi ngài
Ananda đã lấy nước của cô ấy mang đến để giải khát.
Đức Phật phát biểu rằng lòai người do cha mẹ họ sinh
ra chứ không phải từ một nhân vật của trí tưởng tượng
ngay cả giai cấp cao Brahmana và giai cấp hạ tiện cũng sinh
ra từ mẹ của họ, những người đàn bà phải trải qua quá
trình sinh học tự nhiên: sinh con, nuôi con, cho con bú. Một
trong những phẩm chất vĩ đại của đạo Phật là chính sách
mở cửa, đề cao tính lô-gíc, sự thực chứng, tính tự lực
đó là nền tảng của sự công bằng xã hội. Đạo Phật
đề cao sự thực chứng chân lý bằng kinh nghiệm cá nhân,
chứ không dựa vào niềm tin mù quáng hay theo truyền thống.
Chỉ có kinh nghiệm, tính lô gíc và sự thực nghiệm dẫn
đến chân lý. Đầu tiên Phật giáo chiếu một luồng ánh
sáng vào chân lý về sự công bằng xã hội và tiếp theo đó
bảo vệ nhân lọai thóat khỏi sự mê tín và niềm tin mù
quáng. Hoàng đế Asoka (269-232) của triều đại Maurya là nhà
cai trị đầu tiên hiện thực hóa lý tưởng Phật giáo về
vấn đề công bằng xã hội. Bằng chứng về điều này vẫn
còn thể hiện trên các cột đá lời tuyên bố công khai của
ông: “Tất cả mọi nơi trong lãnh thổ của tôi cũng như
của nước láng giềng, tôi đã tạo điều kiện khám chữa
bệnh cho người và súc vật…” Phần lớn các nhà viết
sử của Phật giáo và hòang đế Asoka đều làm cho chủ đề
về sự công bằng xã hội trở thành một tiếng gọi đầu
tiên cho một cuộc cách mạng huy hòang cho sự bình đẳng,
công bằng và tình anh em. Trong lý thuyết tiến bộ về sự
bình đẳng xã hội sau này các nhà họat động xã hội là
tu sĩ Phật giáo đã đóng vai trò như những Brahmanas của xã
hội trung cổ thời kỳ đầu, họ đã phản đối mạnh mẽ
để bảo vệ giai cấp thóat khỏi gánh nặng của sự bất
công xã hội. Sự kiện đáng chú ý là 84 thái tử xuất thân
từ tầng lớp cao trong khi những người đàn bà là bạn đời
của họ xuất thân từ tầng lớp hạ tiện. Phong cách sống
của họ phù hợp với mọi tầng lớp trong xã hội và nó
truyền tải một sự khuyến khích mạnh mẽ cho vấn đề công
bằng xã hội. Trên tất cả Suttanipata hàm chứa một nội
dung mạnh mẽ và rắn rỏi về vấn đề công bằng xã hội.
Dòng chảy công bằng xã hội liên tục chảy qua xuyên suốt
các quá trình thực hành và lý thuyết của đạo Phật và
tạo ra những sự thay đổi đáng chú ý trong xã hội Ấn độ
theo thời gian.
Lý
thuyết của đạo Phật về vô ngã được coi như là một
vấn đề vĩ đại đó là trong một cá nhân bao gồm tất cả
các cá nhân khác theo công thức tương tức.
Đạo
Phật coi trọng những phẩm chất cá nhân như tính từ bi.
Tính cách này là một nhân tố quan trọng góp phần vào việc
tìm kiếm sự giác ngộ. Đối với đạo Phật sự công bằng
xã hội cuối cùng phải dẫn đến sự giác ngộ. Lý thuyết
về vô ngã được xem như là một cái nhìn của bản thể
học về các hiện tượng nhưng đồng thời lý thuyết về
vô ngã chính là cánh cửa để kinh nghiệm bản thể. Lý thuyết
về sự công bằng có mục đích tối hậu là sự giác ngộ.
Khái
niệm về vô ngã đồng bộ hóa công bằng xã hội và sự
giác ngộ cá nhân. Để hiểu được điều này trước hết
chúng ta phải quay lại lý thuyết về nguyên nhân của sự
khổ, cách diệt khổ, và lý tưởng Bồ tát đạo.
Đức
Phật cho rằng sự giác ngộ và hạnh phúc đối lập với
sự đau khổ. Đức Phật chẳng bao giờ có ý định thiết
lập một hệ tư tưởng chính trị. Ngài chẳng bao giờ lừa
dối ai. Đức Phật dạy các đệ tử của ngài, giúp họ đạt
đến giác ngộ và khuyên họ giảng dạy giáo lý cho những
người khác. Hãy sống để đem đến hạnh phúc cho người
khác. Sống bằng lòng từ bi, thương mọi chúng sinh trên thế
giới.
Khái
niệm vô ngã mở ra một con đường phụng sự. Đức Phật
nói rằng: “ngài ốm vì chúng sinh ốm. Khi bệnh của chúng
sinh được chữa khỏi thì ngài cũng khỏi bệnh”. Vì lý
do này ngài hõan lại chưa vào niết bàn ngay. Ngài sinh trở
lại cõi ta bà để giáo hóa chúng sinh cho đến khi nào chúng
sinh cuối cùng đạt đến sự giác ngộ, giải thóat. Giá trị
tâm linh của sự chọn lựa này là động cơ cho những hành
động tích cực. Xã hội được nhìn nhận như chính là một
cá nhân theo nghĩa rộng. Vì ngài là một người thấm thía
sự khổ nên ngài thương các chúng sinh khác. Ngài tìm ra con
đường thóat khổ để cứu tất cả các chúng sinh trong nhiều
kiếp thoát khỏi sự đau khổ. Ngài là một bậc đại y vương
có thể chữa mọi bệnh khổ cho tất cả các chúng sinh.
Cuối
cùng tôi muốn nói rằng lý thuyết công bằng xã hội của
đạo Phật phù hợp với yêu cầu của xã hội đương đại.
Lý thuyết về vô ngã của đạo Phật giúp chúng ta nhập thế
hài hòa với việc tìm kiếm sự giác ngộ giải thóat cho bản
thân.
(http://vesakday2008.com/indexnew.html)
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.