DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
PHẬT GIÁO
ĐÓNG GÓP VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ DÂN CHỦ
Đại
đức Sugata Priya[1]
Thích
Giác Hiệp chuyển ngữ
 |
 |
Công
bằng xã hội là gì?
Công
bằng xã hội chỉ là một cụm từ, tuy nhiên, từ “xã hội”
liên quan đến các quan điểm xã hội và danh từ “công bằng”
là chỉ hệ thống pháp luật hay gắn liền với pháp luật.
Ngoài ra, theo định nghĩa của một tự điển khác, “công
bằng” nghĩa là vô tư, không thiên vị.[2] Như vậy, khi kết
hợp các từ lại với nhau, chúng có nghĩa là một xã hội
có sự công bằng trong mọi lĩnh vực, không phải chỉ đơn
giản là điều hành thông qua pháp luật và hình phạt.[3] Đôi
khi, thuật ngữ không thể phân chia và đôi lúc liên quan đến
những nguyên lý tự mâu thuẫn của sự công bằng. Nói chung,
xã hội đối xử với cá nhân hay nhóm người một cách công
bằng và khả năng chia sẻ những tiện ích xã hội. Tuy nhiên
đôi khi, nó có nghĩa là phân chia lợi ích tốt-xấu trong xã
hội.
Đôi
lúc, các nhà phiên dịch tôn giáo định nghĩa công bằng xã
hội như một tên gọi dân chủ, nói chung, thuật ngữ này
được vay mượn từ nghĩa chính trị “cánh tả”… Công
bằng xã hội còn là một khái niệm được sử dụng chỉ
cho những phong trào hướng đến một thế giới công bằng.
Trong một thế giới như vậy, công bằng xã hội dựa trên
khái niệm nhân quyền và bình đẳng. Như đã thấy, có rất
nhiều định nghĩa xã hội công bằng, nguyên lý nhân phẩm,
nhân quyền, bình đẳng…
Theo
một bài viết,[4] 2 tôn giáo là Ki-tô và Hồi giáo giống nhau
nhưng có 2 ước vọng sâu sắc về công bằng xã hội, ngày
nay họ vẫn khuyến khích tranh luận. Các truyền thống tôn
giáo cũng có quan điểm nhân phẩm. Một nội dung kinh Thánh
cho rằng, tất cả nhân loại được tạo ra dưới hình bóng
của Chúa và một nguyên tắc của Hồi giáo khuyên nhân loại
hành động theo gương “khalifa” - vua Hồi, một đại diện
hay người được ủy quyền trên thế gian như một số người
dịch khái niệm này.
Như
vậy, trong thực hành, rất nhiều cộng đồng tôn giáo không
ủng hộ bình đẳng và nhân quyền xã hội. Trong các tài liệu
chính thức từ thế kỷ 19, tự do tôn giáo bị lên án dẫn
đến thái độ không quan tâm đến niềm tin tôn giáo, làm
mất đi tính thẩm quyền, thậm chí cả hủy họai đạo đức
xã hội. Đến thập niên 60, giáo hội Thiên Chúa chính thức
công nhận nhân quyền và tự do tôn giáo. Do vậy có thể thấy
rõ, các cộng đồng tôn giáo là bộ phận của xã hội, phải
cách tân theo sự phát triển xã hội.
Hồi
giáo đã tìm được giải pháp tôn giáo về công bằng xã
hội và nhân quyền. Một số nhà Hồi giáo cách tân nhấn
mạnh, có nhiều vấn đề quan trọng cần giải quyết một
cách thỏa đáng.
Rất
nhiều tác giả đề nghị hoặc nghi vấn có hay không bộ luật
Hồi giáo, Sharia và nhân quyền phù hợp nhau, và làm thế nào
quyền bình đẳng nam nữ được phát triển trong khuôn khổ
tư tưởng Hồi giáo? Tự do tôn giáo có bao gồm quyền tự
do thay đổi tôn giáo và chuyển đổi từ Hồi giáo sang tôn
giáo khác không? Có nhiều tranh luận ngay cả trong Hồi
giáo cũng như giữa Hồi giáo và những người không phải
Hồi giáo.
Do
vậy, luật lệ công bằng xã hội thường nằm trên vấn đề
bình đẳng hơn là sự mất cân bằng về kinh tế hay thu thập,
nên nhớ rằng, các yếu tố kinh tế bao gồm nhiều thay đổi
giữa con người có thân phận khác nhau. Phục vụ công chúng
để giải quyết 2 vấn đề này lại khác, tuy nhiên, công
bằng xã hội và bình đẳng liên quan lẫn nhau. Ví dụ, người
nghèo ít có cơ hội làm giàu. Như vậy, nghèo vẫn nghèo, giàu
càng giàu. Ngoài ra, còn có những yếu tố khác như thu nhập
thấp, nhà ở tồi tàn, sức khỏe kém… Công bằng xã hội
được mô tả là, thay đổi các hệ thống và ảnh hưởng
văn hóa để bảo đảm nơi ở. Do vậy, quan điểm công bằng
xã hội dựa trên nguyên tắc bình đẳng về sở hữu quyền
lực giữa mọi người, sự thu nhập, nơi cư trú và những
nhu cầu cơ bản khác.
Như
vậy, có thể biết công bằng xã hội có thể ngăn chặn vi
phạm nhân quyền và bảo đảm cá nhân của một quốc gia
theo luật pháp quốc tế. Công bằng quốc tế liên quan đến
tội phạm chiến tranh, tội ác chống nhân loại bao gồm tội
diệt chủng. Các chủ đề liên quan khác là quyền của các
nhóm sắc tộc thiểu số, vấn đề phụ nữ và trẻ em.
Dân
chủ là gì?
Không
có ý nghĩa rõ ràng của từ “dân chủ” và có thể chỉ
là kinh nghiệm, sự thật như một khái niệm, ý nghĩa trừu
tượng. Dĩ nhiên, thuật ngữ bắt nguồn từ truyền thống
Hy Lạp cổ đại nhưng ngay cả ở đây, khái niệm cũng hơi
riêng biệt có nghĩa giới hạn là “công dân”. Nói chung
như người ta biết, từ này dịch là “người dân điều
hành”, được bầu cử trực tiếp hoặc thông qua đại diện.
Dân chủ theo nghĩa chính quyền sử dụng là điều hành bởi
người dân, người có được số phiếu bầu hợp lệ cao.
Ví dụ khác, có thể là một hệ thống chính trị cho phép
người dân tham gia quyết định chính trị. Một đặc tính
cơ bản của dân chủ như hiện thời được hiểu và thực
hành, bao gồm khái niệm tự do hay tranh cử có nhiều ứng
cử viên tham gia. Các cuộc bầu cử thường đòi hỏi tự
do ngôn luận chính trị, truyền thông và tuân thủ luật pháp.[5]
Đề
cập sự khác nhau về các nền dân chủ có dân chủ đại
diện, dân chủ quốc hội, dân chủ tự do, dân chủ trực
tiếp, dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ vô chính phủ,
dân chủ bộ tộc… tất cả chỉ là một khía cạnh của
“dân chủ.”
Khái
niệm công bằng xã hội và dân chủ Phật giáo
I.
Làm thế nào để phát triển công bằng xã hội?
Phật
giáo dường như đề cập con đường nhân quyền rất muộn
và hầu như toàn bộ lịch sử của Phật giáo đề cập đến
khái niệm khác. Dù khái niệm hình thành sau này nhưng giáo
lý từ bi, đối xử tốt với mọi người , hình thành đạo
đức gia đình và xã hội của Phật giáo rất rõ nét, hơn
bất cứ nơi đâu.
Chi
tiết hơn, khi chú trọng đến quan điểm của Phật giáo, chúng
ta thấy, Phật giáo có nhiều quan điểm về công bằng xã
hội. Mục đích chính của Phật giáo là đạt được sự
thanh tịnh nội tâm, hành giả chứng đắc giác ngộ được
hiểu là sự giải thóat hay thóat khỏi, thường được gọi
là chứng đắc Niết Bàn. Từ Niết Bàn dịch là trạng thái
dập tắt, loại trừ các trạng thái chướng ngại tâm thức,
phiền não hay còn gọi tam độc tham, sân, si. Lọai trừ được
ba độc này, cá nhân có thể chứng đắc giải thóat, được
hiểu là thóat khỏi sự ràng buộc của sinh tử cũng như sự
ràng buộc của xã hội.
Do
vậy, khi nhấn mạnh tự do cá nhân, Phật giáo như một tôn
giáo, tôn giáo trầm lặng nhất thế giới đưa ra phương pháp
giải quyết các vấn đề xã hội.
Liên
quan đến lời dạy của đức Phật, kinh Sigalovāda (Kinh Giáo
thọ Thi-ca-la-việt) thuộc Trường Bộ đề cập đến chuẩn
mực đạo đức của giới tại gia. Giải thích rộng kinh này,
chúng ta thấy bức tranh rõ nét về cuộc sống gia đình và
xã hội của con người và còn dạy tại gia làm thế nào để
có thể tự kiểm soát, sống chánh hạnh, có tư cách tốt
và giữ được sự khiêm tốn là những bước sơ khởi để
có được hạnh phúc, hòa bình và thành công trong cuộc sống.
Kinh
nêu tấm gương đức Phật thảo luận về mối liên quan đến
xã hội, đó là quan hệ giữa cha mẹ và con cái, thầy và
trò, chồng và vợ, bạn bè, chủ và người làm, xuất gia
và tại gia. Giữa những quan hệ này, người ta có thể liên
tưởng đến sự công bằng xuất hiện trong quan hệ cha mẹ
và con cái, thầy trò, chủ và người làm một cách đặc biệt.
Đức Phật cũng dạy, có 5 trách nhiệm mỗi bên cần phải
thực hiện. Trong giai đọan hiện nay, công bằng xuất hiện
trong gia đình và như vậy có thể nghĩ những vấn đề liên
quan đến cuộc sống gia đình[6] gắn liền với công bằng.
Như
đã biết theo kinh này, phần lớn đức Phật chú trọng các
quan điểm xã hội đương thời, công bằng xã hội như thế
nào và con người hành xử như thế nào trong xã hội, để
phát triển xã hội, con người nên tránh những hành xử tội
lỗi của mình và đức Phật diễn tả những điều xấu nào
cần nên tránh. Trước tiên, đức Phật nêu 14 điều tội
lỗi giới tại gia cần nên tránh:
Bốn
phiền não[7]
Giết
hại các quần sanh
Trộm
cắp
Tà
dâm
Nói
dối
Bốn
trường hợp gây tổn hại
Tham
dục
Sân
hận
Sợ
hãi
Vô
minh
Sáu
việc làm cho tiền tài mỗi ngày một hao giảm
Thích
uống chất gây say
Tham
đắm nữ sắc
Ưa
cờ bạc
Thích
ngủ nhiều
Thích
chơi bời ngoài đường
Lười
nhác
Bốn
lọai bạn được xem không phải bạn
Vật
gì cũng lấy
Chỉ
biết nói giỏi
Nịnh
hót
Đem
lại tổn hại
Bốn
lọai bạn chân thật
Bạn
giúp đỡ
Biết
chia sẻ
Biết
cho lời khuyên tốt
Cảm
thông
Bốn
cách giữ gìn tài sản
Phần
thứ nhất chi tiêu hàng ngày
Phần
thứ hai cho công việc
Phần
thứ ba cho công việc
Phần
thứ tư cất giữ
Sáu
phương:
Phương
Đông cần được hiểu là cha mẹ
Phương
Nam cần được hiểu là sư trưởng
Phương
Tây cần được hiểu là vợ con
Phương
Bắc cần được hiểu là bạn bè
Phương
Dưới cần được hiểu là tôi tớ, lao công
Phương
Trên cần được hiểu là Sa môn, Bà-la-môn
Cuối
cùng, để bảo vệ mối quan hệ tốt giữa tất cả các nhóm,
đức Phật cùng dạy cách thức tôn trọng và giúp đỡ các
nhóm, đổi lại, được các nhóm sẽ lịch sự và giúp đỡ.
Như
vậy theo cách này, đức Phật nói, nếu bất cứ ai thực hành
các chỉ dẫn này sẽ gặt hái được ích lợi cho mình cũng
như cho người.
Như
chúng ta biết, để hình thành một xã hội phải có các cá
nhân, nếu không có các cá nhân thì không có xã hội. Do vậy,
hai thuật ngữ cá nhân và xã hội là hai hiện tượng liên
quan và hỗ tương lẫn nhau. Nếu không có xã hội, cuộc sống
cá nhân sẽ không được bảo vệ, tổ chức. Do vậy, hai hiện
tượng này không thể tồn tại riêng biệt.
Một
số học giả Phật giáo gọi Phật giáo là một tôn giáo tách
ly xã hội, Max Weber phổ biến quan điểm này trong tác phẩm
“Tôn Giáo ở Ấn Độ” (Religions in India). Đối với
kết luận như vậy, các học giả theo quan điểm này tìm kiếm
quan điểm trong Phật giáo khuyến khích cuộc sống viễn ly,
từ Kinh Khaggavisana thuộc Kinh Tập trong Tiểu Bộ khuyên tu
sĩ sống hạnh độc cư giống như con tê giác.
Như
vậy, thật sai lầm khi chỉ dựa vào một kinh này để kết
luận tòan bộ giáo lý có tính tách ly xã hội. Trong nhiều
bài kinh, đức Phật nhấn mạnh lợi ích cá nhân gắn liền
với xã hội. Có thể thấy ý tưởng này trong các kinh tạng
Mangala Sutta, Parabhava Sutta, Vasala Sutta, Dhammikas Sutta, Vyaggapajja
Sutta, Kutadanta Sutta, Kesaputta Sutta, Cakkhavattisihanada Sutta và
kinh Sigalovada.
Khi
khảo sát kinh Mangala, phần lớn đức Phật đề cập lợi
ích cá nhân và xã hội là làm thế nào con người sống chánh
hạnh, giữ gìn nhân phẩm và tạo dựng một môi trường lành
mạnh. Đức Phật dạy, không kết giao với người ác, nên
thân cận với bậc hiền trí và tôn kính bậc đáng kính.[8]
Điều này có nghĩa, giáo pháp cao siêu không phải dành cho
người ngu mà cho người trí và Ngài khuyên không nên giao kết
với người ác, phải tôn kính bậc đáng kính.
Do
vậy, hãy sống một nơi thích hợp, làm việc công đức, lão
luyện tinh thông nghề nghiệp, phụng dưỡng cha mẹ, nuôi dưỡng
vợ con và theo nghề chân chính, bố thí, sống đời sống
đạo đức, giúp đỡ thân quyến và làm việc thiện, không
làm điều tội ác, không uống chất say, sống chân chánh,
tôn kính, nhân bản, mãn nguyện, biết ơn và dự các khóa
lễ tôn giáo hợp thời, kiên nhẫn và lịch sự trong ngôn
từ, viếng thăm tăng chúng, tổ chức các buổi thuyết giảng
hợp thời, khổ hạnh và độc thân, hiểu rõ Tứ Đế và
chứng đắc Niết Bàn, giữ tâm kiên định trước thăng trầm
cuộc sống, thóat khỏi lo sầu, bất tịnh, trở nên tịch
tĩnh.[9]
Nhiều
bài kinh cho ta thấy, phần lớn đức Phật dạy hạnh phúc
thật sự liên quan đến cá nhân và hành động đạo đức,
ta phải làm thế nào để mang lại ích lợi trực tiếp đến
phúc lợi xã hội trong đời thường. Đến lúc sắp Niết
bàn, Ngài còn để lại di chúc, những lời dặn dò là những
bài pháp hướng dẫn cá nhân thóat khỏi khổ não, chứng đắc
Niết Bàn, mục đích tối hậu của Phật giáo.
E.F.
Schumacher[10] đưa ra các cứ liệu đầy đủ về công bằng
xã hội trong các lời dạy của đức Phật. Đọc tác phẩm
quan trọng “Nhỏ Mà Đẹp” đề cập giáo lý Phật giáo
là phương pháp tốt nhất xây dựng xã hội lành mạnh. Ông
ta nói theo Phật giáo, sự phát triển không nằm ở của cải,
nó bắt đầu từ con người, học vấn, sự tổ chức và đạo
đức của con người. Theo ông, xã hội ngày nay bị kinh tế,
tiền tài chi phối. Cạnh tranh trở thành cần thiết và tội
ác nguy hiểm. Cạnh tranh có thể thấy ở mọi khía cạnh cuộc
sống xã hội gây bất hạnh và nguy hiểm cho nhân loại, xã
hội loài người và môi trường thiên nhiên. Phật giáo không
khuyến khích cạnh tranh mà khuyên nên hợp tác, một biện
pháp thích hợp nhất giải quyết khủng hoảng kinh tế, bất
ổn chính trị, xã hội.
Phật
giáo không tách rời lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
mà nhấn mạnh, đồng thời, lợi ích và tinh thần cá nhân,
xã hội phải đi cùng để tạo ra một sự hạnh phúc cho nhân
loại. Triết lý này của Phật giáo có thể bắt gặp trong
5 giới điều, chuẩn mực nền tảng đạo đức của Phật
giáo. Giới thứ nhất trong 5 giới nói lên quyền sống của
mỗi cá nhân, bảo vệ mạng sống nhân loại, phi nhân, mọi
loài. Giới thứ 2 là quyền sở hữu tài sản của con người
trong xã hội, tiếp theo mạng sống là tài sản, nếu tài sản
không được bảo vệ thì con người cảm thấy không an toàn
khi sống với nhau. Giới thứ 3 tiêu biểu cho quyền cá nhân,
mỗi người trong xã hội có ước vọng sống riêng tư (cuộc
sống tình dục và gia đình) không bị quấy rối. Do vậy,
Phật giáo có giới thứ 3 là không dâm dục. Giới thứ 4 là
không nói dối, liên quan đến ngôn từ của con người, sự
diễn đạt ngôn ngữ không nên sai lầm đối với chính mình
hay người khác. Giới thứ 5 là không uống các chất gây say
vì các hoạt động thân thể cũng như tinh thần phải tỉnh
thức là cần thiết cho cuộc sống cá nhân và xã hội thành
công. Chất độc tổn hại nhân phẩm và làm cho con người
không phát huy khả năng tốt của mình. Để ngăn chặn điều
này, Phật giáo có giới thứ 5 là cấm uống chất gây say.
Năm giới điều và ứng dụng chúng chắc chắn có kết quả
tốt không những cho lợi ích cá nhân mà còn lợi ích cho cả
xã hội.
Trong
kinh Vyaggapajja, Tăng Chi Bộ nói rằng, chúng sinh nên phát triển
cả thể xác lẫn tinh thần. Có 4 nguyên lý nên thực hành:
Kiên
trì
Giữ
gìn (tài sản)
Bạn
tốt
Quân
bình cuộc sống
Kiên
trì là yếu tố cần thiết để thành công, ngược với lười
nhác. Lười nhác không bao giờ thành công, muốn lọai bỏ
lười nhác phải kiên trì theo 5 cách:
Sáng
suốt
Tích
cực
Sáng
suốt khi hành động, tùy thời, tùy lúc
Khả
năng làm việc
Khả
năng tổ chức
Nguyên
lý thứ 2 là giữ gìn những tài sản đã kiếm được, rất
khó khăn để có được của cải, tiền tài, danh vọng. Con
người nên cẩn thận trong sử dụng những gì mình có được,
như vậy, những gì làm ra sẽ không bị tiêu xài vô ích. Tham
đắm, bạn xấu… là những nguyên nhân xấu hủy họai những
gì có được. Không tiêu xài tất cả những gì mình làm ra
và tiêu xài nhiều cũng nguy hại. Do vậy, bảo vệ những gì
mình có rất cần thiết cho cuộc sống thành công.
Nguyên
lý thứ 3 là thân cận bạn tốt. Bạn xấu luôn tổn hại
kinh tế, tinh thần và cảm xúc cá nhân. Do vậy, trong sự phát
triển xã hội nên giao lưu với bạn tốt sẽ có được lợi
ích.
Nguyên
lý thứ 4 trong kinh Vyaggapajja, đức Phật giải thích làm thế
nào để sống quân bình thông qua sự so sánh một cái hồ
trong làng có 2 lối thóat nước là ra và vào. Nếu đóng không
cho nước vào, hồ sẽ khô cạn. Nếu mở tất, nước dâng
và phí lượng nước. Do vậy, hệ thống thủy lợi, cổng
vào ra nên mở đóng có thứ tự thì sẽ không hủy họai hồ
nước.[11] Cũng vậy, một người trong một cộng đồng nên
có tâm thanh bình và khả năng để phá trừ vô minh.
Rất
nhiều kinh nói đến việc Phật giáo nhấn mạnh chẳng những
đem lại lợi ích cá nhân mà là cả xã hội. Do vậy, Phật
giáo không phải là một tôn giáo cách ly xã hội, mà là tôn
giáo có tính xã hội, đó là lý do hàng tỷ người theo Phật
giáo và đang trở thành Phật tử. Năm rồi, chỉ một ngày,
hơn nửa triệu người Ấn Độ được chuyển hóa sang Phật
giáo. Qua chứng minh chúng ta thấy, Phật giáo có tính bình
đẳng và công bằng hơn Ấn Độ giáo.
II.
Làm thế nào để phát triển dân chủ?
Để
phát triển dân chủ hay bình đẳng trong một quốc gia hay xã
hội, Phật giáo nói rằng, xã hội là một sự tập hợp tập
hợp mọi người lại với nhau. Cá nhân hợp nhất và tạo
thành xã hội. Khi cá nhân phân tách, tính hợp nhất không
còn. Như vậy, phúc lợi tùy thuộc vào sự tập hợp cá nhân.
Do
vậy, các mối quan hệ xã hội rất quan trọng cả xã hội
thế tục và tôn giáo. Tham gia vào cuộc sống vật chất, Phật
tử nhận rõ giá trị trong mỗi con người. Phật giáo không
phân biệt sắc tộc, màu da, giai cấp, ngôn ngữ, giàu nghèo
trong xã hội dân chủ. Một xã hội Phật giáo gồm 4 chúng
là tỳ kheo, tỳ kheo ni, tại gia nam và nữ. Sự phân chia này
dựa trên sự tu tập đạo đức của mỗi cá nhân.
Như
chúng ta thấy trong cuộc sống tu viện, ngay cả tu sĩ có mục
đích cao siêu không ảnh hưởng đáng kể lên xã hội nhưng
bạn tốt không thể thiếu trong cuộc sống tu viện Phật giáo.
Trong kinh Kosambiya[12], đức Phật nói có 6 điểm giúp phát
triển dân chủ trong một quốc gia tương ái:
An
trú thân hành với vị đồng phạm hạnh
An
trú khẩu hành với vị đồng phạm hạnh
An
trú ý hành với vị đồng phạm hạnh
Chia
sẻ tài vật bình đẳng
Bình
đẳng trong thành tựu tu tập
Bình
đẳng trong tri kiến
Nếu
thực hành sáu nguyên lý này, xã hội sẽ có sự hiểu biết
đúng đắn lẫn nhau giữa quốc gia, con người và các hình
thức chính quyền sẽ tồn tại. Người dân sẽ tôn trọng
và đối xử tôn kính với thân quyến cũng như những người
khác trong quốc gia. Sẽ không có những tranh luận đáng tiếc
giữa các cộng đồng thực hành 6 nguyên lý này. Đức Phật
cũng nói, 6 nguyên lý đạo đức này rất cơ bản và cần
thiết cho tình bằng hữu giữa các cộng đồng, không phân
biệt bất công.
Các
giáo lý được đề cập trong kinh Sigàlavàda,[13] thực hành
bốn phạm trú thì quốc gia sẽ được dân chủ. Trong Phật
giáo, bốn phạm trú là bốn pháp cao quý nhất của nhân lọai.
Chúng càng phát triển thì nhân bản càng phát triển. Vậy,
hãy bàn về tính chất của 4 phạm trú:
Phạm
trú thứ nhất là “từ”, được giải thích là tình thương,
chăm sóc và tôn trọng người khác. Như vậy, quyền con người,
phẩm cách và giá trị của tha nhân được bao hàm trong tư
tưởng này. Hơn nữa, với những phẩm chất này, nhân lọai
có thể đem lại hạnh phúc, an lạc cho tất cả. Tâm gây trở
ngại “từ” là tâm sân. Người ta không thể khởi lòng
thương khi đang sân.
Phạm
trú thứ 2 là “bi”. Đức Phật được xem là đấng đại
bi. Các sớ giải Phật giáo giải thích bi như là cảm thông
khi thấy tha nhân khổ đau.
Phạm
trú thứ 3 là “hỷ”, tức không ích kỷ, vui với cái vui
của người khi người khác thành công, phát triển. Vui vẻ
hồ hởi không phải tính chất hỷ, nó được xem là nhân
trở ngại gián tiếp của hỷ. Nói cách khác, hỷ liên quan
đến tự thân hơn là đối với người, nó lọai trừ lòng
đố kỵ. Mặt khác, có hỷ nên mới giúp đỡ người khác
vì người thực hành hạnh này sẽ không chứa tài sản, luôn
làm việc ích lợi cho người.
Phạm
trú cuối là “xả”, tức là đối xử với người khác
bình đẳng. Có nghĩa, người thực hành không nên ghét bỏ,
không quan tâm, không tôn trọng người khác vì chủng tộc,
màu da, giai cấp, giàu nghèo. Phải cư xử bình đẳng với
mọi người ở lời nói hay hành động. Đức Phật trú trong
các đức tính này, cũng vậy, khi con người và người lãnh
đạo có những đức tính này sẽ không gặp nguy hại hay vấn
đề gì. Nhờ những đức tính này, nhiều người sẽ hài
lòng với những gì họ có.
Tóm
lại, đối với 4 phạm trú có thể nói từ là thương tưởng
mọi lòai, bi là cứu khổ, hỷ là chia sẻ, xả là không chấp
tốt xấu, thương ghét, vui buồn.[14] Ai muốn hoàn thiện trong
cuộc sống, hàng ngày phải tu tập 4 phạm trú này.
Năm
giới điều của Phật giáo tiêu biểu năm nhu cầu cần thiết
cho cuộc sống nhân lọai, quyền sống, quyền sở hữu tài
sản, quyền riêng tư và cảm xúc, quyền an toàn cá nhân và
quyền về tinh thần và thể xác. Các giới điều này có giá
trị phổ biến. Giá trị không giới hạn thời gian, đối
với cuộc sống xã hội.
Nếu
ai tách ly xã hội, không sống hòa với người khác, các giới
điều này sẽ không có bất cứ giá trị nào. Chúng liên quan
đến cuộc sống xã hội. Chúng có ảnh hưởng đạo đức
lên mỗi cá nhân nhưng ảnh hưởng ích lợi xã hội nhiều
hơn. Năm giới điều cũng là những nguyên lý cần thiết để
phát triển tính dân chủ trong quốc gia. Nếu dân chúng thực
hành những giới điều này, giữ gìn các phạm trú trong cuộc
sống hàng ngày thì sẽ không có việc giết người, trộm
cắp, người xấu, nói dối, nghiện ngập, xã hội sẽ được
ổn định.
Như
vậy, nên tuân thủ tất cả những điều Phật dạy trên.
Có rất nhiều kinh đức Phật dạy về phúc lợi xã hội và
phát triển xã hội dân chủ nên không thể nêu ra hết được.
Theo Phật giáo, mỗi người đều giống nhau và đáng được
giữ gìn nhân phẩm và sống cuộc sống có phẩm chất. Lần
nữa, đức Phật dạy trong kinh Vasala[15] (Kinh Kẻ Bần Tiện),
“Bần tiện không vì sinh, Phạm chí không vì sinh”. Quan điểm
này của Phật giáo có thể nói là duy nhất, nhấn mạnh mọi
người đều bình đẳng, không có sự phân biệt. Thông qua
câu kệ này, có thể thấy Phật giáo khuyến khích mọi người
phát triển phẩm chất tốt cho xã hội.
Kết
luận:
Phật
giáo như một tôn giáo triết học xã hội toàn cầu đưa ra
những liều thuốc lý thuyết và thực hành cho công bằng và
xã hội dân chủ, và giải thích mối tương quan giữa 2 yếu
tố vì ích lợi của xã hội, nhờ chúng, con người không
gặp rắc rối hay tổn thương, huỷ hoại mình, xã hội và
quốc gia. Phật giáo cũng không tách rời lợi ích cá nhân
và xã hội, mà luôn luôn nhấn mạnh lợi ích cá nhân, xã
hội và tinh thần phải cùng đi với nhau, tạo nên thế giới
hạnh phúc cho nhân loại.
Do
vậy, từ 2 khái niệm trên có thể thấy, đức Phật phát
triển chúng giữa những khái niệm khác để hình thành xã
hội công bằng và hoà bình. Điều còn lại là ước vọng
của nhân loại để thực hành nguyên lý dân chủ và tránh
điều tội lỗi được đề cập trong các bài kinh, rất nhiều
nên không thể nêu ra đây hết. Tuy nhiên, con người nên tuân
giữ 5 giới, kết quả cuộc sống không bị tổn hại, không
vi phạm pháp luật quốc gia. Chúng cần thiết để hình thành
xã hội dân chủ, cuộc sống an lành. Tất cả các yếu tố
trên đều là những nguyên lý quan trọng, nền tảng trong xã
hội. Phật giáo nhấn mạnh và khuyến khích con người giữ
gìn các giới điều để kinh tế, chính trị, công bằng và
lợi ích xã hội phát triển.
Cuối
cùng, nếu có nhiều quốc gia và người dân thực hành các
pháp hoàn thiện (pàramitas) như đức Phật đã thực hành thì
tương lai sẽ tươi sáng! Do vậy, nên đạt được các pháp
hoàn thiện này. Như đã biết, chúng là những đức tính đạo
đức tuyệt hảo cần có, không đề cập đến các hệ phái
hành giả đang theo. Sau khi thực hành, các đức tính phát triển
là đại từ, chánh nhân, vị tha, chánh kiến và xa lìa kiêu
ngạo, tự phụ... Các pháp hoàn thiện gồm: (1) Bố thí, (2)
Trì giới, (3) Xuất gia, (4) Trí tuệ, (5) Tinh tấn, (6) Nhẫn
nại, (7) Chân thật, (8) Quyết định, (9) Tâm từ, (10)
Tâm xả
Như
vậy, các pháp hoàn thiện này rất quan trọng cho việc thực
hành và tu tập nhằm duy trì nhân cách, hình thành sự công
bằng, cho phép hành giả tu tập đức hạnh mà Phật đã chứng
đạt. Khi con người sở hữu tất cả các đức hạnh này,
sẽ hiểu được hành động dân chủ và công bằng, giải
quyết được nhiều khó khăn. Các pháp hoàn thiện này không
có sự khác nhau giữa dân tộc, tín ngưỡng, màu da, giàu hay
nghèo làm nổi bật sự quan trọng của khái niệm. Một chính
quyền dân chủ, công bằng có thể tồn tại, con người và
các chính sách sẽ hoàn bị hơn, mục đích Niết Bàn tối
hậu sẽ đạt được với những ai quan tâm.
[1]
Bài viết này được Mr. Dion O. Peoples ấn hành, tác giả cuốn
“Tôn Giáo Tỷ Giảo” và “Luận Tạng”. Tác giả bài viết
là người Bangladesh sau nghiên cứu ở Sri Lanka, hiện tu
theo Phật giáo Nguyên Thủy.
[2]
Tự điển Encarta và tự điển chuyên đề Anh văn.
[3]
Bách khoa toàn thư, sách giáo khoa.
[4]
Heiner Bielefeldt & Mohammad Saeed Bahmanpour, “Chính trị của
vấn đề công bằng xã hội: tôn giáo và vấn đề nhânn quyền
ấn hành do cty Democracy Ltd ấn tống. Từ trang web www.opendemocracy.net/trackback/689
[5]
Các nguyên tắc chính yếu ở đây được vay mượn từ Wikipedia.
[6]
Susan Okin Moller: Công bằng, Giới tính và Gia đình, Basic Books
Inc., USA 1989
[7]
Sigalovada Sutta trong Trường Bộ Kinh, Đức Phật thừa nhận
hành vi thiện ác của người cư sĩ, và Đức Phật dạy cách
nhỗ tận gốc cái xầu khỏi đổ vỡ cuộc đời.
[8]
Kinh Hạnh Phúc (Mangala Sutta) thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddakapatha,
P.T.S., pp. 2-3) trong cuốn Lịch Sử Văn Học Pali (A History of
Pali Literature) của Bimala Churn Law, Foreword by Wilhelm Geiger; edition
2000, published for the first time in 1933. Printed in India in New Delhi
110 020.
[9]
Sđd,
[10]
E.F. Shumacher, Small is Beautiful (Nhỏ mà đẹp).
[11]
F.L. Woodward. Sách của những lời dạy dần. Tương ưng
bộ kinh (London: Pali Text Society, 1973), p. 171-173
[12]
Majjhima Nikaya (Trung Bộ Kinh), pp. 320-325.
[13]
Digha Nikaya (Trường Bộ Kinh), III, pp. 180-193.
[14]
Đức Phật và Phật Pháp. By Narada. Printed in Taiwan, July 2000
[15]
Of Sutta Nipata of Khuddaka Nikaya, pp. 21-25. Đức Phật giảng cho
Bà la môn.
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.