DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
QUAN NIỆM
CỦA ĐẠO PHẬT VỀ CHỦ NGHĨA BÌNH ĐẲNG
Giáo
sư tiến sĩ L. P. N. Perer
Thích
nữ Hằng Liên dịch [1]
 |
 |
Bắt
nguồn từ thuật ngữ gốc Pháp là “Egalitaire”, (Egal có
nghĩa là ngang bằng hoặc bằng nhau)[2] “Egalitarianism” là
chủ nghĩa bình đẳng đã trở thành nghĩa “học thuyết bình
đẳng giữa loài người” và nội dung chủ yếu liên hệ
đến xã hội. Khái niệm bình đẳng không phải là khái niệm
mới trong biên niên sử nhân loại. Nhưng được ghi nhận theo
thời gian như một học thuyết bình đẳng xã hội, và hiện
nay, theo nghĩa riêng, chủ nghĩa bình đẳng khởi nguồn từ
sự đối kháng trước các áp lực xã hội, ví dụ như ý
thức giai cấp xuất phát từ cuộc cách mạng công nghiệp
ở phương Tây.
Quan
trọng là vấn đề bình đẳng còn gặp hạn chế về mặt
ứng dụng thực tế. Lý luận học và toán học có những
khái niệm trừu tượng, tinh tế về bình đẳng như “không
có hai người hay hai vật nào bình đẳng nhau mọi mặt”3
Mệnh
đề “mọi người đều bình đẳng” dường như mang tính
mệnh lệnh hơn là mô tả. Và trên thực tế, nó có nghĩa
rằng, dù khác nhau về phẩm chất và hoàn cảnh[3], nhưng con
người ít nhất vẫn còn mặt nào đó không có sự khác nhau
trong cư xử hay quan niệm.
Do
đó, chủ nghĩa bình đẳng trong tham luận này chỉ gói ghém
trong một giới hạn chừng mực mà thôi.
Trước
nhất, khi nhận chân được những giới hạn này, con người
thường quan tâm nhiều đến trí thức và đạo đức tôn giáo,
trong khi Phật Giáo nhìn vấn đề bình đẳng căn bản người
với người trên căn bản Bản Thể Tuyệt Đối.
Điều
được gọi là “sự khác nhau giữa cá thể” (Puggala-vematattà)[4]
bắt nguồn từ những kiếp người sâu xa[5] vì theo Phật Giáo,
sự tiến hóa lịch sử của bất cứ cá nhân nào cũng chi
phối bởi luân hồi vô tận, và không thể có sự đồng nhất.
Tuy nhiên, suy luận này có thể dẫn đến “bất bình đẳng
từ bẩm sinh” như các nhà khoa học xã hội hiện nay ghi nhận[6]
cùng quan niệm bất bình đẳng trong đời sống xã hội.
Như
đã trình bày trong mục từ “dân chủ” trong từ điển bách
khoa này,[7] lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại,
chỉ có đạo Phật xác nhận và tuyên bố rằng “dù có sự
khác nhau do di truyền, môi trường hay nghiệp duyên, khi ta xem
nhân loại là một cộng đồng, quyền bình đẳng căn bản
của con người là cùng chung Bản Thể Tuyệt Đối” [8]
Ý
nghĩa bình đẳng này có nền tảng từ quan điểm của đạo
Phật như sau:
(a)
Phân tích một cách tuyệt đối, tất cả mọi người đều
phải đối đầu với những vấn đề cốt lõi của luân hồi
như nhau là sinh (jàti), (becoming: hữu), già (jarà), hoại hay
chết (marana). Tiến trình sinh tử này là nền tảng cho các
vấn đề khác của cuộc sống được diễn tả cô đọng
bằng thuật ngữ ghép, "sokaparidevadukkha-doma-nassupàyàsà" và
chúng thuộc về phạm trù chân lý đầu tiên, đó là sự thật
về khổ thuộc Tứ Thánh Đế.
(b)
Đồng thời, con người cũng có đủ khả năng vượt qua tiến
trình luân hồi đã nói trên, bằng cách trau dồi chứng đạt
tâm linh và đạo đức cao nhất. Nghĩa là khi có mặt trên
thế giới này, con người cũng có đủ khả năng để đạt
được sự giải thoát, vượt khỏi vòng luân hồi sầu muộn.
Nói khác đi, mọi nguời đều bình đẳng vì cùng phải kinh
qua các vấn đề căn bản của tiến trình sinh tử và cùng
có khả năng ưu việt để thành tựu quả vị tối thuợng.
Hơn nữa, ngoài điểm dị biệt duy nhất về giới tính, thì
cấu trúc thần kinh (danh và sắc: nàma and rùpa) của mỗi cá
thể căn bản đều giống nhau. Các nhu cầu tình cảm, tâm
lý cũng như thể chất giữa hai cá thể (puthujjana) nào đó
không bao giờ bị giảm thiểu nhưng cũng không bao giờ tồn
tại đồng nhất, và chính vì những yếu tố tương đồng
này, con người thực sự liên đới với nhau.
Trước
nhất, tác giả xin khảo cứu qua hai luận điểm chính là (a)
luận điểm sinh học và (b) luận điểm nhân chủng học, nhằm
làm sáng tỏ khái niệm bình đẳng về bản chất căn bản
của con người.
Luận
điểm sinh học cho rằng, con người hiện đại hình thành
nên một loài riêng biệt, độc lập với các loài động và
thực vật khác. Luận điểm này trùng hợp ngẫu nhiên với
quan điểm sinh học hiện đại[9] có khuynh hướng dựng lại
quan niệm về tính đồng nhất của con người như nhiều truyền
thống tôn giáo đã thuyết minh. Như thế, loài người có chung
nền tảng. Kinh Vàsattha trong kinh tập[10] của Tiểu Bộ kinh
thuộc kinh tạng Pàli có thể xem là một minh họa điển hình
cho luận chứng sinh học. Bài kinh này cho rằng, con người
không giống như trường hợp của thế giới động và thực
vật có những đặc tính khác nhau về loài (lingam jàtimayan).
Và mặc dù có những dị biệt không đáng kể về màu tóc
hoặc màu da cùng những đặc điểm cần thiết khác nhau, nhưng
tất cả con người ắt hẳn đứng chung một loài riêng biệt
vì giống nhau thể chất, và một số đặc điểm cần thiết
khác.
Ngụ
ý ở đây là phạm vi tiến hóa sinh học theo từng bậc (anupubbana),
như loài vật trên thực tế có sự khác biệt ngay trong từng
loài (jàtivibhangan) vì mỗi loài cũng chia ra nhiều dạng (annanannà
hi jàtiyo).[11]
Đầu
tiên, cỏ cây là sinh vật khác nhau về loài trong phân loại
(lingam jàtimayan tesam) nhưng sự khác biệt này không phô bày
ra ngoài (na càpi patijànare)[12]. Rồi (tato) có những loại giun
(kite), côn trùng (patange) và những loại kiến khác nhau (kunthakipillike).
Kế tiếp là loài bốn chân, nhỏ và lớn (catuppàde khuddake
ca mahallake) và các loài rắn như rắn mình dài (pàdùdare...
urage dìghapitthhike).[13] Tiếp theo nữa như loài cá sống trong
nước (macche vàrigocare) và loài chim bay trên bầu trời (pakkhi...
vihangamà).
Mặc
dù sự khác biệt về hình thù, vóc dáng các loài sinh vật
là đa dạng (puthù), nhưng ta không tìm thấy dấu vết và phân
định mức độ khác nhau giữa chúng như con người. (evam natthi
nasussesu lingam jàtimayam puthù).[14] Như vậy, không có cái khác
nhau giữa cấp độ loài trong cùng loài người. (lingam jàtimayam
n'eva, yathà annàsu jàtisu) [15]. Thực vậy, sự khác nhau nếu
có thì có về thân thể giữa các loài sinh vật khác chứ
không có ở loài người (manussesu etam na vijjati).[16] Ở con
người, sự khác nhau nếu có, thường chỉ là ngôn ngữ (voka
ranca manussesu samannya pavuccam).[17]
Theo
quan điểm bình đẳng sinh học này, sự khác biệt về nơi
xuất thân, quyền lợi từ bố mẹ sinh ra của một người
nào đó (joniyam mattisambhavam)[18], như kinh mô tả, không thể
xem là điều kiện xác định địa vị người này trong xã
hội., Con người về sau mới xác định được địa vị thực
sự của mình, hoặc do sự phân định của thế gian (như sự
phân công trên thành quả lao động trong xã hội và sự khác
nhau về nghề nghiệp)[19] hoặc được phân định thông qua
tiêu chuẩn tâm linh và đạo đức.[20]
Trong
cả hai trường hợp, theo quan điểm sinh học, tất cả con
người sinh ra đều bình đẳng. Điều đó có nghĩa, từ sự
thật sinh học đạo Phật đã chứng minh rằng chúng ta bình
đẳng về sự nhất như của nhân loại.
“Từ
những khảo cứu thực tế hơn nhằm giải thích cho các công
việc hiện nay”[21] cho thấy, các chân lý tự có ý nghĩa
mà không cần khoa học ủng hộ. Từ đó, bình đẳng theo lập
luận sinh học được mở rộng trong các tác phẩm Phật giáo,
chống lại những phân biệt xã hội như phân biệt giai cấp
mà Asvaghosa đã lý giải trong tác phẩm Vajrasuci của Ngài.
(b)
Luận điểm nhân chủng học được trình bày rõ ràng trong
kinh Agganna thuộc kinh Trường Bộ (Dīgha Nikāya).[22] Bài kinh
này cho rằng từ khởi nguyên, toàn thể nhân loại “giống
nhau nhưng không phải là không khác nhau” (annesan sadisanneva
no asadisam).[23]
Nếu
một xã hội định hình thông qua việc phân công lao động,
xem sự phân công điều tất yếu cho sự hiện hữu tạo nên
các phân biệt về mặt xã hội, sẽ dẫn đến việc hình
thành quan hệ xã hội và quan hệ chính quyền. [24]
Không
giống như học thuyết Bà-la-môn giáo, Phật giáo không chấp
nhận một xã hội xem cơ cấu giai cấp là tuyệt đối.[25]
Bởi vì, bình đẳng người với người là “phù hợp với
quy luật vũ trụ chứ không bao giờ mâu thuẫn với nó” (dhammen'eva
no adhammena).[26] Ở đây, bình đẳng ngụ ý là nguyên lý căn
bản, nền tảng của tự nhiên. Bản kinh trên cho rằng, sự
nhận chân và thấu hiểu chủ nghĩa bình đẳng sẽ góp phần
cấu thành kiến thức về nguồn gốc hay điều kiện nguyên
thủy (agganna) của sự vật. Bình đẳng tuyệt đối giữa
người với người xét trên bản chất, rất cần phải được
nhận chân trên những sự kiện nhân bản, dù điều kiện
này được quan niệm (bằng các thuật ngữ) dưới danh nghĩa
về cuộc sống đời này và đời sau (ditthe c'eva dhamme abhisamparàyanca)
vì quy luật vũ trụ luôn bao trùm đời sống con người (dhammo
hi settho jane tasmim).[27] Sự phân biệt giữa hai cá nhân nào
đó xuất hiện từ những nhu cầu xã hội dẫn đến sự phân
biệt giai cấp hay đẳng cấp và nghề nghiệp. Tuy nhiên, với
tư cách là ‘một loài động vật du hành và có trí thức’,
con người giống nhau căn bản. Trong quá trình săn bắn và
thu hoạch thực phẩm, kinh tế của người nguyên thủy được
chuyển hóa thành kinh tế nông nghiệp và khi xã hội được
định hình, đời sống và phân biệt giai cấp đã trở thành
thực tại thì tất cả mọi người “giống nhau nhưng không
phải là không khác nhau.”
Đã
có sự bình đẳng trên phương diện Bản Thể Tuyệt Đối
của con người (theo như luận điểm sinh học và nhân chủng
học đã minh chứng), cũng phải có bình đẳng trên các phương
diện khác như xã hội, pháp lý, đạo đức, đạo lý và tôn
giáo hoặc tâm linh. Và điều này làm cho chủ nghĩa bình đẳng
trở thành một khái niệm có nhiều tầng lớp ý nghĩa, phản
ánh theo nhiều chiều và mức độ khác nhau.
3.
Theo xã hội học, nếu sự phân biệt giai cấp trong xã hội
loài người không tuyệt đối, thì nó cũng chưa và sẽ không
bao giờ phổ quát. Kinh Assalàyana thuộc kinh Trung Bộ (Majjhima
Nikāya) minh họa rất rõ điều này.[28] Giữa các bang Yona-Kambayas
(Yona-Kamgojesu) (ở thời kỳ nguyên thủy) kéo dài về phía
Tây Bắc Ấn Độ và một số tỉnh thành biên giới (annesu
ca paccan timesu janadadesu) chỉ có hai giai cấp (dve'va vanna) là
địa chủ và nông nô (ayyo c'eva dàso ca). Hơn nữa, sự phân
chia này không có gì tuyệt đối mà có thể nói, “địa chủ
(có thể) trở thành nông nô và nông nô cũng có thể trở
thành địa chủ” (Ayyo hutvā dāso hoti, dàso hutvā ayyo hoti).
Nền
tảng sự phân chia xã hội khi tạo thành mối quan hệ rõ ràng[29]
và trong bối cảnh ấy, giai cấp Bà-la-môn tuyên bố họ là
giai cấp tối cao hoàn toàn không có nền tảng.[30] Những tham
khảo về tính khả dĩ giải phóng nông nô cũng được trình
bày trong vài đoạn kinh khác.[31] Thậm chí, có những trường
hợp như, khi Bà-la-môn chết, một người Sùdra hay hạ đẳng
vẫn có thể được giải phóng từ người chủ của mình[32]
dù theo định kiến nặng nề về giai cấp, họ từng đinh
ninh giai cấp là bẩm sinh, kẻ hạ đẳng phải nhận lấy kiếp
nô lệ muôn đời.
Dù
cho những phân biệt xã hội đã và đang được hình thành
,hoặc đã trở thành một hiện tượng bám rễ lâu đời,
trong thời đại đức Phật, Phật giáo vẫn không xem các phân
biệt ấy là phổ quát. Các nhà Phật học chủ trương chủ
nghĩa bình đẳng “bằng cách trình bày các điều kiện thực
tế đang tồn tại trong xã hội đương thời”[33] như đã
được bàn luận ở trên. Kinh Madhura thuộc kinh Trung Bộ (Majjhima
Nikāya) đã trình bày, phục vụ người khác theo yêu cầu thì
không có gì cả, chẳng qua chỉ là quyền lực kinh tế và
điều đó hoàn toàn không có gì liên hệ đến sự phân định
về giai cấp xã hội.[34]
4.
Luận điểm pháp lý cho rằng, một cá nhân bất luận vị
trí xã hội hay giới tính khi vi phạm luật pháp thì đều
bị trừng phạt như nhau tùy theo loại hình, mức độ và quy
phạm pháp luật. Từ góc độ của đạo Phật, sự trừng
phạt này nên được xem là cải tạo hơn trừng phạt. Luận
điểm này được giải thích rõ ràng trong Kinh Madhura.[35] Bài
kinh này nhấn mạnh nhiều lần rằng, sự khẳng định quyền
tối cao của giai cấp Bà-la-môn chỉ là lời tuyên bố rỗng
tuếch, không có gì vững chắc cả (Ghoso yeva kho eso, lokasmim),[36]
đó chỉ là sự tiêm nhiễm trong quần chúng. Bản kinh còn
mô tả rõ hơn, Bà la môn chủ trương: bất luận giai cấp
hay đẳng cấp nào không thay đổi, kẻ cướp vẫn là kẻ
cướp, không hơn không kém (Corot' eva sankham gacchati).[37] Cũng
theo ví dụ này (evam sante), Đức Phật xem bốn giai cấp [Sát-đế-lợi
(Khattiya), Bà-la-môn (Bràhmana), Thương gia (Vessa) và Nô lệ
(Sudda)] có cùng địa vị như nhau và do đó, giữa họ không
thể có bất kỳ một mảy may nào khác nhau (Ime cattàro vannà
samasamà honti: na' sam ettha kinci nànàkaranam...).[38] Trong những
mối quan hệ pháp lý hoặc giữa người với người, công
lý để trừng phạt chứ không thể hiểu đó là sự khác
nhau (như vấn đề giai cấp trong ví dụ này) và sự khác nhau
ấy chính là nền tảng đưa đến sự phân biệt. Chính với
ý nghĩa này mà con người bình đẳng trước pháp luật.
Về
sau, khái niệm bình đẳng pháp lý ấy được Pháp vương Asoka
xiển dương trong chỉ dụ bằng đá thứ tư rằng, “Khát
vọng lớn nhất của con người là phải có quyền bình đẳng
tuyệt đối cho mọi người theo qui định pháp lý và sự thưởng
phạt.”[39] Và điều này khác với thái độ Bà-la-môn bảo
thủ, nhất là trường hợp người nô lệ (sudras) luôn bị
giai cấp khác trừng phạt một cách bất công dù theo luật
lệ hay thói quen.[40]
Luận
điểm đạo đức cho rằng, tất cả mọi người dù thuộc
bất cứ giai tầng xã hội nào, đều như nhau trước quy luật
đạo đức, tâm lý của nghiệp (karma), và sự chi phối của
nghiệp.
Xét
về thưởng phạt đạo đức, Kinh Madhura dựa trên thuật ngữ
cho thấy rằng, tất cả mọi người đều bình đẳng như
nhau. Bất kỳ người nào thuộc giai cấp Sát-đế-lợi (Khattiya),
Bà-la-môn (Bràhmana), Thương gia (Vessa) hay Nô lệ (Sudda) khi
có những hành vi phẩm hạnh xấu về tư duy, lời nói hoặc
thân tạo tác thì phải gánh lấy những hậu quả bất hạnh.
Tương tự, người nào có phẩm hạnh tốt, tất yếu sẽ gặt
hái những kết quả an lạc, bất luận họ thuộc vào giai
cấp nào.
Đạo
đức là hiện tượng khách quan trong sự thưởng phạt của
nó. Mọi người có thể chấp nhận quy luật này như tính
khả dĩ logic và hợp lý (cf. evan ca pana me etam arahatam sutam).[41]
Vì ai cũng có trực quan siêu cảm (đạo Phật cho trực quan
siêu cảm này là phương tiện nhận thức có giá trị) được
phát triển thông qua sự mở rộng các khả năng con người.
Như vậy, tất cả mọi người đều bình đẳng trước quy
luật đạo đức và được phán xét ở kiếp sau do hành động
tốt hay xấu đã tạo tác, chứ không phải do địa vị xã
hội đặt sẵn từ nơi xuất thân. Với tâm linh thăng
tiến, đạo đức mở ra, thưởng phạt nằm trong tầm tay tất
cả mọi người và không ai thoát khỏi ảnh hưởng quy luật
đạo đức. Điều này làm cho đời sống tôn giáo (Brāhmacariya)
trở nên có ý nghĩa. Đức Phật nhận chân quy luật đạo
đức không phải là một định mệnh.
Luận
điểm đạo đức học cho mọi người đều có thể trở nên
thiện hay ác tùy vào hoàn cảnh đời sống đang sinh hoạt.
Kinh Sangiti thuộc kinh Trường Bộ (Dìgha Nikàya)[42] cho rằng,
một người có tính khí ác hay tính chất xấu (Kanhàbhijàtiko
samàno) thì có thể dễ dàng gây ra hành vi xấu (kanham dhammam
abhijàyati), nhưng nếu người ấy ước muốn thì chắc chắn
sẽ tạo ra hành vi tốt (sukham dhammam). Tương tự, người có
tính khí hay tính chất tốt sẽ có tác dụng ngược lại.
Cả hai hạng người này đều có thể chứng đạt Niết Bàn,
theo thuật ngữ tương tự diễn tả là trạng thái siêu vượt
cảnh giới tương đối (akanham asukkam nibbanam). Chính vì thế,
mọi người đều có khả năng thực hiện các nỗ lực đạo
đức như nhau.
Luận
điểm tâm linh hay tôn giáo là đứng về mặt kết quả rằng,
tất cả nhân loại đều có khả năng phát triển tâm linh
và giải thoát tối hậu khỏi đau khổ (dukkha) dù cho có sự
khác nhau về các khả năng và vị trí xã hội. Điều này
được xem như một học thuyết của đức Phật về sự thuần
khiết của bốn giai cấp (càtuvannim suddhim).[43] Kinh Kannakatthala
thuộc kinh Trung Bộ (Majjhima Nikàya) cho rằng, không có sự
khác nhau giữa các cá thể trong bốn giai cấp dù được trình
bày dưới góc độ nỗ lực tinh thần (padhàna) hay dưới góc
độ giải thoát thực tiễn (vimutti).[44]
Nếu
nguyên lý bình đẳng có thể được nhận rõ trong cái nhìn
của con người qua thuật ngữ phân tích phần trên, ta thấy
nguyên lý ấy ẩn chứa khái niệm về lý tưởng cộng đồng
Phật giáo như được hình dung trong kinh điển. Cộng đồng
này là một đoàn thể tứ chúng gồm có Tăng (Bhikkhu), Ni (Bhikkhùni),
Thiện nam (Upàsaka) và Tín nữ (Upàsakà). Về mức độ xã
hội, sự khác biệt duy nhất nếu có là sự khác nhau về
hạ lạp, không có bất kỳ sự khác biệt nào khác được
tìm thấy trong đời sống Tăng-Ni. Đối với cộng đồng Thiện
nam-Tín nữ, các sự khác biệt có chăng là rất ít và không
đáng kể.[45]
Tất
cả những sự phân biệt về giai cấp, đẳng cấp hay nghề
nghiệp đều tan biến khi một người gia nhập vào cộng đồng
Tăng-Ni Phật giáo. Giống như các dòng sông lớn Gangà, Yamunà,
Aciravatì, Sarabhù và Mahì khi chảy vào đại dương sẽ trở
thành đồng nhất thể với đại dương. Cũng vậy, bất kỳ
ai, thuộc giai cấp nào khi gia nhập vào cộng đồng Tăng-Ni
thì mọi phân biệt trước đây của họ về tên tuổi, dòng
họ (Jahanti puri màni nàmagottàni) đều được xóa bỏ và chỉ
được biết đến như những Sa môn Thích tử (Samanà sàkyaputtiyà
tv'eva sankham gacchati).[46]
Khi
các phân biệt xã hội không còn được thừa nhận trong cộng
đồng tu sĩ Phật giáo, vào các dịp lễ lạc, ngay cả chư
tôn đức hạ lạp cao và trách nhiệm lớn cũng hòa mình trong
mối quan hệ với đại chúng. Điều này được minh họa trong
buổi lễ tự tứ (pavàrana). Trong buổi lễ này, tất cả chư
tỳ kheo đều có vai trò như nhau.[47] Khi cần thiết, một người
đệ tử (dù là Antevàsika hay Saddhivihàrika) vẫn có thể đóng
góp lời khuyên chân tình với vị thầy của mình (dù là thầy
A-xà-lê (àcariya) hay thầy Bổn sư (upajjhàya),[48] hoặc tường
trình trước tăng chúng về vị thầy của mình để kỷ luật
thầy về những tội nặng mà thầy đã vi phạm (garudhamma).[49]
Và trong quan hệ với thế tục, chư Tăng-Ni đều giảng về
giáo lý bình đẳng giữa con người với con người.
Trên
bất kỳ lĩnh vực nào, bình đẳng trong xã hội thế tục
được xem như bình đẳng về cơ hội. Một khi trong xã hội
thế tục không duy trì được bình đẳng về cơ hội, nhà
nước cần dựa trên quan điểm đạo Phật, đảm bảo sự
hồi sinh của mình thông qua chế độ quản lý nhà nước chính
đáng (ariyam cakkavattivattam).[50]
Bình
đẳng về cơ hội liên hệ cơ bản đến việc phân phối
công bình về sức mạnh kinh tế giữa quần chúng. Nhiệm vụ
của nhà nước phải bảo đảm điều tiên quyết này vì “phác
thảo phúc lợi kinh tế là một phần chức năng của vua hay
nhà nước”.[51]
Ý
thức đạo đức của con người vốn rất cần thiết cho sự
phát triển tâm linh. Và Phật giáo dựa vào đó, hình thành
cơ bản cho nền kinh tế xã hội một đất nước. Những ý
niệm này được trình bày khá chi tiết trong bài kinh Cakkavattisìhanàda
thuộc kinh Trường Bộ (Dìgha Nikàya).[52]
Qua
các phân tích rốt ráo như trên, Phật giáo đánh giá lý tưởng
bình đẳng như một học thuyết xã hội, không phải riêng
cho đạo Phật mà là một bước chân tích cực góp phần chuyển
đổi, nâng cấp, đem đến cho xã hội loài người những hình
thái bình đẳng cao hơn - đó là bình đẳng về trí thức,
đạo đức và tâm linh.
Chẳng
hạn có bất kỳ hai người nào đó trong tứ chúng (xem lại
phần trên) chắc chắn cả hai đều bình đẳng như nhau. Đạo
Phật không thừa nhận sự phân biệt về giới tính[53] hay
không gian, thời gian trên tính chất của sự kiện[54] vì ai
cũng có tiềm năng đi tìm giải thoát, giác ngộ khi cùng hướng
về mục đích cao cả, tối thượng.
Đức
Phật là vị thầy duy nhất và trước nhất đã tìm ra và
đạt đến giải thoát tuyệt đối. Những bậc thiện tính
(silavanto kalyàna dhammà) được phát triển sau này (pacchà samannàgatà)
đã bình đẳng về cơ hội khi gắng công đi theo con đường
Đức Phật đã qua.
Hơn
nữa, mọi người đều bình đẳng nếu như mức độ chứng
đạt của họ về trí thức, đạo đức hay tâm linh ngang nhau.
Chẳng hạn, bình đẳng về trí thức được ghi nhận trong
Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahàparinibbàna Sutta) thuộc kinh Trường
Bộ (Dìgha Nikàya). Kinh này đặt các thành viên trong tứ chúng
ngang hàng nhau trong vấn đề nắm vững giáo pháp (Dhamma).[55]
Kinh chép rằng, đức Phật đã kể lại cho Ananda là vị đệ
tử và thị giả trọn đời của đức Phật những điều
mà Ngài đã nói với ma vương. Khi ma vương yêu cầu Ngài nhập
diệt ngay sau khi Ngài chứng quả giác ngộ, đức Phật nói:
"Khi ma vương yêu cầu như vậy, này Ananda, Ta đã trả lời
ma vương những lời như thế này: Này ma vương! Ta sẽ không
nhập diệt cho đến khi nào các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, thiện
nam, tín nữ đạt được quả thanh văn, trở thành bậc có
trí tuệ, đa văn và khéo đào luyện trong giới-định-tuệ
và là những người nắm vững pháp, sống theo, sống đúng
với pháp (như các bậc thầy truyền lại) và có khả năng
truyền trao chánh pháp cho người khác, thuyết giảng pháp,
tuyên bố chánh pháp, hình thành chánh pháp và phát huy chánh
pháp. Và cho đến khi những vị đệ tử của Ta có thể khéo
giảng diệu pháp bằng cách bác bỏ những cố chấp của người
khác với tự tướng của chánh pháp.”[56] Cũng xin ghi chú
thêm rằng, xã hội tứ chúng là những người có khả năng
trở thành bậc trí tuệ đa văn, khéo đào luyện trong giới-định-tuệ
và nắm vững chánh pháp (viyattà vinità visàradà bahussutà dhammadharà).
Theo
tư tưởng đạo Phật, bình đẳng tâm linh và đạo đức là
có thể đạt được khi mọi người đạt đến đích của
con đường toàn thiện và giải thoát.
Cuối
cùng, khi đi theo con đuờng trung đạo của Đức Phật vạch
ra, tất cả mọi người đều bình đẳng về cơ hội “thấy
được chân lý tối thượng” (summum bonum). Sự bình đẳng
về góc độ đạo đức, tâm linh sẽ đưa bất cứ ai đi theo
Phật sẽ chứng đạt quả thánh đầu tiên hay còn gọi là
quả nhập lưu và từng bước tiến đến con đường (magga)
của giải thoát (sota), đến nơi bờ kia không còn trở lại
sinh tử luân hồi (avinipàtadhammo).[57]
Điểm
này đã được bài kinh trên minh họa qua lời đức Phật dạy
ngài Ananda: Trong hội chúng 500 vị, ngay cả vị tỳ kheo thọ
giới sau cùng nghe Phật thuyết giảng cũng sẽ được thọ
ký chứng quả giác ngộ chánh đẳng - chánh giác (imesam hi
Ananda pancanam Bhikkhu - satànam yo pacchimako Bhikkhu so sotàpana avinipàtadhammo
niyato sambodhiparàyano).[58]
[1]
Dịch từ G. P. Malalasekera (Ed) Encyclopeadia of Buddhism, Vol.V, pp.
37-42.
[2]
Xin tham khảo Marguerite Marie Duboid, Dictionnaire Morderne Francais-Anglas
(Librairie Larousse, Paris, 1960).
[3]
Sđd, Vol.III, tr. 39.
[4]
Puggalavemattatà, xin tham khảo Majjhiama Nikàya, I, tr. 494; Samyutta-Nikàya,II,
tr. 21 trở đi.
[5]
Samyutta-Nikàya,V, tr. 200.
[6]
Bất bình đẳng về thiên bẩm cá nhân là đúng thực dù một
số người thích gạt bỏ vì coi nó là lý thuyết tinh hoa.
Xin tham khảo T.B. Bottomore, Elities and Society, Pelican Books, Reprint
1977, tr. 15 trở đi.
[7]
Mục từ "Democracy" trong Encylopedia of Buddhism, Vol. V, các trang
363-369.
[8]
K. N. Jayatillake, The Principle of Internaltional Law in Buddhist Doctrine,
Tóm tắt từ the "Recueil des cours," Vol.II, 1967, (Private Circulation
only), Leiden, tr. 518.
[9]
Xin tham khảo L.C. Dunn, 'Rave and Biology' in The Race Question in Modern
Science, Unesco, Paris, 2nd Impresssion, 1959, tr. 245 trở đi.
[10]
Suttanipàta, các kệ 600-611.
[11]
Sđd, kệ 600.
[12]
Sđd, 601. Bản sớ giải của bài kệ này ghi là mayam tina mayam
rukkhà ti evampi na patijànanti.
[13]
Sđd, các kệ 602-604.
[14]
Sđd,các kệ 605-607.
[15]
Sđd, kệ 610.
[16]
Sđd, kệ 611.
[17]
Sđd.
[18]
Sđd, kệ 620.
[19]
Sđd, các kệ 612-656.
[20]
Sđd, các kệ 620-650 653, 656.
[21]
Lời giới thiệu trong quyển Buddhism and the Race Question của
G. P. Malalasekera và K. N. Jayatilleke, nhà xuất bản Unesco Paris
năm 1958 tr. 6 (ở đoạn chúng ta trích dẫn) dường như xem
thường những phát hiện của khoa học nếu đạt được bằng
những phương tiện khác hơn là những công việc trong phòng
thí nghiệm.
[22]Dìgha-Nikàya,III,
tr. 93 trở đi.
[23]
Sđd, kệ 1: thuật ngữ annesam (Sđd, tr. 93, cước chú 12) được
sử dụng hơn là thuật ngữ anannesam trong ấn bản của Hội
Thánh Điển Pàli.
[24]
Xem chi tiết ở mục từ Democracy. Quan niệm của Phật giáo
về vấn đề dân chủ của từ điển bách khoa này.
[25]
Xin tham khảo K.N. Jayatilleke, The Doctrine of International Law in
Buddhist Doctrine, tr. 509-512 và 516.
[26]
Dìgha-Nikàya,III, tr. 93.
[27]
Cùng trang, Sđd.
[28]
Majjhima-Nikàya, II, tr. 149.
[29]
Xin tham khảo T.W. Rhys Davids, Buddhist India, Sixth Edition, Calcutta,
1955, tr. 33 trở đi.
[30]
Majjhima-Nikàya, II, tr. 149: Ettha...Bràhmanànam kim balam ko assàso
yad ettha bràhmanà evam àhimsu bràhmanà 'va settho vanna, hìno anno
vanna ... bràhmadàyàdàti.
[31]
Dìgha-Nikàya,I, tr. 72; Majjhima-Nikàya, I, tr. 275.
[32]
Xin tham khảo tác phẩm Luật Ma-nu, Manusmrti, VIII, 414.
[33]
G. P. Malalasekera and K.N. Jayatilleke: Sđd, tr. 47.
[34]
Majjhima-Nikàya, II, tr. 85.
[35]
Sđd, tr. 88.
[36]
Sđd, tr. 84.
[37]
Sđd, tr. 88; Manusmrti, III, 150 cho rằng các Bà-la-môn sẽ bị
tước mất ưu quyền Bà-la-môn nếu như họ ăn cắp.
[38]
Chỉ dụ trên đá của đại đế Asoka, (Adyar Library Services),
tr. 95, như đã được trích trong tác phẩm của G. P. Malalasekera
and K.N. Jayatilleke: Sđd, tr. 62.
[39]
Aụpastamba Dharmasùtra, II, 16, 17 và 27. Xin tham khảo thêm R.
K. Mookerji, Hindu Civilization, 1936, tr. 138.
[40]
G. P. Malalasekera and K.N. Jayatilleke: Sđd, tr. 50.
[41]
Cùng trang, Sđd.
[42]
Dìgha-Nikàya, III, tr. 250 trở đi.
[43]
Majjhima-Nikàya, II, tr. 132, 147.
[44]
Sđd, tr. 128 trở đi.
[45]
Sđd, tr. 128.
[46]
Vinaya, II, 239; Anguttara-Nikàya, IV, tr. 202.
[47]
Vinaya, I, tr. 159.
[48]
Sđd, tr. 46, 49, 61.
[49]
Sđd, tr. 49, 61.
[50]
Xin tham khảo Dìgha-Nikàya,III, tr. 65.
[51]
K.N. Jayatilleke, The Principle of International Law in Buddhist Doctrine.
[52]
Dìgha-Nikàya, III, tr. 65trở đi. Xin tham khảo thêm O. H. de A.
Wijesekera Buddhism and Society (tenth leture under the Dona Alpina Ratnayake
Trust), Columbo, 1952, tr. 15.
[53]
Với quyền bình đẳng căn bản của loài người được đặt
ra thì vấn đề phân biệt giới tính không cần thiết trong
phương diện này. Phụ nữ cũng có những tiềm năng như nam
giới. Trong khi chắc chắn là có dấu hiệu tộc trưởng trong
cách cư xử đối với phái yếu (như có thể được ghi nhận
từ những luật lệ chi phối đời sống ni đoàn). Trong khi
Phật giáo Nguyên Thủy phải đấu tranh chống lại hoàn cảnh
nói chung là có thành kiến với phụ nữ thì Phật giáo Đại
Thừa cho thấy, không có lý do nào người phụ nữ bị đối
xử phân biệt, đặc biệt là trong vấn đề thăng tiến đạo
đức và tâm linh. Đưa ra những điều kiện tiên quyết cần
thiết, Phật giáo khẳng định rằng phụ nữ có thể giỏi
hơn nam giới (Xin tham khảo Samyutta-Nikàya, I, tr. 86). Trong tâm
đức Phật “dường như không có một sự nghi ngờ thực
sự nào... về quyền bình đẳng giữa nam và nữ” (I.B. Horner,
Woman under Primitive Buddhism, London, 1930, tr. 104).
[54]
Với quyền bình đẳng căn bản của loài người được đặt
ra thì vấn đề phân biệt giới tính không cần thiết trong
phương diện này. Phụ nữ cũng có những tiềm năng như nam
giới. Trong khi chắc chắn là có dấu hiệu tộc trưởng trong
cách cư xử đối với phái yếu (như có thể được ghi nhận
từ những luật lệ chi phối đời sống ni đoàn). Trong khi
Phật giáo Nguyên Thủy phải đấu tranh chống lại hoàn cảnh
nói chung là có thành kiến với phụ nữ thì Phật giáo Đại
Thừa cho thấy, không có lý do nào người phụ nữ bị đối
xử phân biệt, đặc biệt là trong vấn đề thăng tiến đạo
đức và tâm linh. Đưa ra những điều kiện tiên quyết cần
thiết, Phật giáo khẳng định rằng phụ nữ có thể giỏi
hơn nam giới (Xin tham khảo Samyutta-Nikàya, I, tr. 86). Trong tâm
đức Phật “dường như không có một sự nghi ngờ thực
sự nào... về quyền bình đẳng giữa nam và nữ” (I.B. Horner,
Woman under Primitive Buddhism, London, 1930, tr. 104).
[55]
Dìgha-Nikàya, II, tr. 104 trở đi; 112 trở đi.
[56]
Sđd, tr. 112 trở đi.
[57]
Sđd, tr. 155.
[58]
Cùng trang, Sđd.
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.