DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
CHÍNH SÁCH
XÃ HỘI VÀ PHẬT GIÁO
nhìn từ góc
độ xây dựng hệ thống pháp luật về quản lý xã hội
Lương
Phan Cừ
Phó
Chủ nhiệm Uỷ ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội
 |
 |
Dưới
góc độ quản lý xã hội, chính sách xã hội và tôn giáo
có những điểm tương đồng với nhau. Mọi chính sách xã
hội đều nhằm mang lại sự phát triển cho con người, cho
các nhóm xã hội yếu thế có thể hòa nhập xã hội. Trong
số các chức năng của tôn giáo, ngoài việc đáp ứng nhu
cầu tâm linh của con người, tôn giáo còn tham gia giải quyết
các vấn đề xã hội phát sinh trong cuộc sống. Điều này
có ở mọi tôn giáo chân chính. Bởi vì, trong hệ thống giáo
lý của tôn giáo đều có một bộ phận quan trọng cấu thành
là đạo đức tôn giáo. Hệ thống đạo đức tôn giáo này
hướng dẫn hành vi và nhận thức của con người theo hướng
khuyến thiện. Chẳng hạn, trong giáo lý của Phật giáo, tinh
thần "từ bi" của tôn giáo này không chỉ hướng tình thương
yêu đến con người, mà còn đến cả muôn vật, cỏ cây.
Phật giáo kêu gọi lòng nhân đạo, yêu thương và bảo vệ
sự sống. Đặc biệt, trong quan hệ giữa con người với con
người, Phật giáo muốn tình yêu thương ấy phải biến thành
hành động "bố thí", cứu giúp những người đau khổ hoặc
"nhẫn nhục” để giữ gìn đoàn kết. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nhận thức về giá trị này của các tôn giáo trong
mối tương đồng với các học thuyết chính trị - xã hội
lớn. Vào năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
"Học
thuyết của Khổng Tử có một ưu điểm đó là sự tu dưỡng
đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giê su có ưu điểm là lòng nhân
ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương
pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu
điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước
ta. Khổng Tử, Giê su, Mác và Tôn Dật Tiên chẳng có những
điểm chung đó sao? Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này,
nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định
chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân
thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị
ấy"[1].
Dưới
đây, chúng tôi bước đầu phân tích mối quan hệ giữa chính
sách xã hội và tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng, dưới
góc độ quản lý xã hội, xây dựng hệ thống pháp luật
về quản lý xã hội.
I.
Chính sách xã hội và tôn giáo - nhìn từ góc độ quản lý
xã hội
Trên
bình diện quản lý xã hội, chính sách xã hội được hiểu
là một bộ phận cấu thành chính sách chung của một chính
đảng hay chính quyền nhà nước trong việc giải quyết và
quản lý các vấn đề xã hội. Chính sách xã hội bao trùm
mọi mặt của cuộc sống con người, điều kiện lao động
và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan
hệ giai cấp và quan hệ xã hội. Một trong những đặc điểm
cơ bản của chính sách xã hội là sự thống nhất biện chứng
của nó với chính sách kinh tế. Trình độ phát triển kinh
tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã
hội và ngược lại, sự hợp lý, công bằng và tiến bộ
được thực hiện qua chính sách xã hội lại tạo ra những
động lực mạnh mẽ để thực hiện các mục tiêu kinh tế
nhằm làm cho dân giàu, nước mạnh.
Dưới
góc độ chức năng, chính sách xã hội phải đạt mục đích
đem lại đời sống tốt đẹp cho con người, mang lại sự
công bằng, dân chủ cho mỗi con người, không theo chủ nghĩa
bình quân. Trong những điều kiện kinh tế cơ cấu nhiều thành
phần, chính sách xã hội phải hướng tới sự công bằng
xã hội, bảo đảm sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa
vụ giữa các thành phần kinh tế trước pháp luật. Cụ thể,
đảm bảo quyền lợi con người, nhất là những con người
nằm dưới đáy xã hội như người già, phụ nữ, trẻ em
mồ côi, người bị nhiễm HIV/AIDS, người nghèo, người dân
tộc thiểu số,v.v…
Chính
sách xã hội phải vừa củng cố và phát triển những giai
cấp cơ bản như công nhân, nông dân, vừa quan tâm thích đáng
đến lợi ích và phát huy tiềm năng tất cả tầng lớp xã
hội. Đại loại, ta nên có chính sách ưu đãi, trợ cấp an
sinh xã hội, bảo trợ xã hội, chăm lo phúc lợi xã hội cả
cộng đồng..
Tôn
giáo là một hiện tượng mang tính lịch sử, văn hóa, tâm
linh. Dưới góc độ chức năng, tôn giáo có một số chức
năng cơ bản như: đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người,
liên kết xã hội, một hệ thống giá trị, chuẩn mực để
định hướng nhận thức và hành vi con người. Cùng với quá
trình phát triển của xã hội hiện đại, tôn giáo đang chuyển
dần phạm vi hoạt động từ tập trung vào chức năng tâm
linh, sang tham gia ngày càng tích cực hơn vào giải quyết các
vấn đề xã hội như: phòng chống bạo lực, chiến tranh,
tệ nạn xã hội, chăm sóc người bệnh hiểm nghèo,v.v…
Các
hoạt động này đã hình thành một quan điểm tương đối
mới gọi là "Tôn giáo xã hội". Biểu hiện của "tôn giáo
xã hội" là "các hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo
dục của các tôn giáo". Nói cách khác, đó là "các hoạt động
xã hội của tôn giáo".
Việc
tham gia của tôn giáo vào trong các hoạt động xã hội và
từ thiện thực ra hoàn toàn không phải là một xu thế mới
mà tồn tại như một truyền thống. Từ khi các tôn giáo mới
ra đời, sinh họat tôn giáo được duyên lành trở thành một
phong trào xã hội ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Với
cách tiếp cận trên, giữa tôn giáo và chính sách xã hội
đều có mục đích chung là hướng tới việc đem lại một
đời sống tốt đẹp, sự công bằng xã hội cho con người,
đặc biệt là những nhóm xã hội thiệt thòi hòa nhập xã
hội. Tất nhiên, cơ sở để hình thành chức năng xã hội
của tôn giáo là dựa trên niềm tin vào đấng Giáo chủ và
hệ thống Giáo pháp thiêng liêng. Còn cơ sở để hình thành
chính sách xã hội, bắt nguồn từ bản chất chế độ xã
hội của một nhà nước, một quốc gia. Bộ phận cầm quyền
khác nhau, các nhà nước có thể chế chính trị khác nhau có
chính sách xã hội khác nhau, đưa đến các chính sách xã hội
– tôn giáo khác nhau. Ở Việt Nam ta, con người được chọn
làm mục đích để phục vụ. Mục đích ấy xuất phát từ
mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản là: “Đảm
bảo phúc lợi đầy đủ và sự phát triển tự do và toàn
diện của tất cả các thành viên trong xã hội”[2].
Trong
hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện về
kinh tế xã hội, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu
to lớn, đặc biệt là về kết quả thực hiện các chính
sách xã hội. Đầu tư của Nhà nước cho các lĩnh vực xã
hội ngày càng tăng, hiện chiếm trên 25% ngân sách Nhà nước,
trong đó đặc biệt ưu tiên đầu tư cho xóa đói, giảm nghèo,
giải quyết việc làm, giáo dục - đào tạo, dạy nghề cũng
như các dịch vụ xã hội cơ bản khác. Nhà nước khuyến
khích người dân làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực
xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ
phát triển và mức sống giữa các vùng, các tộc người và
các tầng lớp dân cư. Các chính sách xã hội được giải
quyết theo tinh thần xã hội hóa, trong đó, Nhà nước đóng
vai trò nòng cốt. Nhà nước cũng khuyến khích các doanh nghiệp,
các tổ chức tư nhân cá thể hay liên doanh cùng cộng đồng
quốc tế tham gia giải quyết các vấn đề xã hội. Điều
này đã được thể chế hóa một cách đồng bộ trong các
văn bản luật pháp về các lĩnh vực xã hội để có những
cơ chế mới tạo động lực cho mỗi người dân, các tổ
chức - những thành phần của xã hội dân sự, có thể phát
huy vai trò của mình trong việc tham gia vào giải quyết các
vấn đề xã hội của địa phương và quốc gia.
Là
một thực thể của đời sống xã hội, liên quan đến niềm
tin thiêng liêng của một cộng đồng, thậm chí con số tham
gia lên đến hàng triệu triệu người, tôn giáo luôn là một
vấn đề lớn được tất cả các nhà nước quan tâm. Mỗi
giai đoạn lịch sử, mỗi nhà nước đều có một cách thức
ứng xử khác nhau với tôn giáo.
Bước
vào thời kỳ Đổi mới kể từ năm 1986, vấn đề tôn giáo
ở Việt Nam đã có những thay đổi mới trong nhận thức và
nội dung chính sách.
Thật
vậy, tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng,
tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.
Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc
xây dựng xã hội mới. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận
quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc nên ta cần
phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của
các tôn giáo, động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và
các chức sắc tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo..
Trong
thực tiễn, các tôn giáo đang tham gia ngày càng tích cực vào
các hoạt động trong lĩnh vực từ thiện, nhân đạo. Họ
chân thành thực hiện các hoạt động này dựa trên cơ sở
đức tin, đạo đức tôn giáo được quy định trong giáo lý
của tôn giáo mà mình là tín đồ. Do đó, người nghèo, trẻ
em mồ côi, người tàn tật, người bị bệnh hiểm nghèo,v.v...
được các tôn giáo giúp đỡ đã có đời sống vật chất
và tinh thần tốt hơn. Điều này có lợi cho Nhà nước và
xã hội vì các tôn giáo đã tham gia chia sẻ một phần gánh
nặng cho Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề xã
hội.
Từ
Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 về các hoạt động
tôn giáo đến Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2004) đã có
một bước phát triển lớn trong việc cho phép các tôn giáo
được tham gia hoạt động từ thiện, nhân đạo. Nếu trong
Nghị định 26 chưa có quy định cụ thể nào về vấn đề
này thì trong Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Nhà nước đã
khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo
tham gia nuôi dạy trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn,
hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người nghèo, người nhiễm HIV/AIDS,
bệnh nhân phong, tâm thần; hỗ trợ phát triển các cơ sở
giáo dục mầm non và tham gia các hoạt động khác vì mục
đích từ thiện, nhân đạo phù hợp với Hiến chương, Điều
lệ của tổ chức tôn giáo và quy định của pháp luật. Gần
đây, Luật phòng chống HIV/AIDS cũng cho phép các tổ chức
tôn giáo tham gia chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS. Các
quy định này đều xuất phát từ thực tiễn hoạt động
từ thiện, xã hội của các tôn giáo trong thời gian qua, đặc
biệt là các tổ chức từ thiện do Phật giáo lập ra nhằm
chăm sóc, hỗ trợ người bị nhiễm HIV/AIDS, trẻ em mồ côi
do bố, mẹ bị chết vì bệnh AIDS,v.v...
Việc
Nhà nước tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động từ thiện,
nhân đạo của các tôn giáo đã cho phép các tôn giáo tham
gia ngày càng tích cực hơn trong việc giải quyết các vấn
đề xã hội, chia sẻ gánh nặng xã hội cho Nhà nước, đảm
bảo cho sự phát triển bền vững của xã hội.
II.
Sự tham gia của Phật giáo trong việc giải quyết các vấn
đề xã hội
Phật
giáo từ khi du nhập vào Việt Nam luôn là một tôn giáo hoà
bình và quan trọng hơn, Phật giáo luôn luôn gần gũi và gắn
bó chặt chẽ với con người, với xã hội. Tinh thần này
đã được Lục tổ của Thiền tông Trung Hoa là Huệ Năng
khẳng định: “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian
giác, ly thế mích bồ đề, thí như cầu thố giác” (Phật
pháp tại thế gian, nếu bỏ thế gian này mà đi tìm chân lý
giác ngộ thì chẳng khác nào như đi tìm lông rùa, sừng thỏ).
Thực hiện lời dạy ấy, trong suốt tiến trình lịch sử,
tăng ni Phật giáo Việt Nam đã và đang tích cực tham gia các
hoạt động xã hội, chung vai, góp sức cho công cuộc đấu
tranh giành độc lập và kiến thiết đất nước.
Đặc
biệt, từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công, tăng ni Phật
giáo Việt Nam hơn lúc nào hết, càng ý thức được sự cần
thiết và quyết tâm thực hiện lợi dạy của Lục tổ Huệ
Năng, thực hiện chính sách đoàn kết giữa các tôn giáo,
đại đoàn kết toàn dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu
gọi. Tăng ni Phật giáo Việt Nam đã dốc lòng cùng nhân dân
cả nước tham gia, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân
tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngay từ thời kỳ
lập quốc năm 1946, Tăng Ni, Phật tử đã hăng hái tham gia
các phong trào tăng gia sản xuất để góp phần diệt giặc
đói, phong trào bình dân học vụ, diệt giặc dốt, tham gia
xây dựng chính quyền nhân dân các cấp. Từ sau khi thống
nhất về tổ chức, năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam
đã đề ra chủ trương phát triển trong giai đoạn mới là
“Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” cho phù hợp
với sự phát triển của đất nước.
Các
phong trào, cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
phát động đều được Tăng Ni, tín đồ, Phật tử tham gia
hưởng hứng mạnh mẽ. Trên thực tế có hàng trăm bà mẹ
Việt Nam anh hùng, hàng chục nghìn trẻ mồ côi được nuôi
dưỡng và giúp đỡ, hàng trăm ngôi nhà tình nghĩa được
xây dựng từ sự quyên góp của hơn 14.000 cơ sở thờ tự
Phật giáo trong cả nước. Những hành động ấy không chỉ
chia sẻ và làm dịu bớt những thiệt hại, nhọc nhằn của
người dân khi gặp khó khăn, hoạn nạn mà còn thể hiện
đạo lý nghìn đời của người Việt Nam, thấm đẫm tinh
thần từ bi, cứu khổ của đạo Phật và đạo lý dân tộc
“lá lành đùm lá rách”.
Cho
đến nay, tính trên cả nước có 2.083 cơ sở hoạt động
từ thiện, trong đó: Phật giáo có 1.076 cơ sở (126 Tuệ Tĩnh
đường, nổi bật nhất là Tuệ Tĩnh đường ở TP. Hồ Chí
Minh, Thừa Thiên Huế, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Ninh Thuận,
Cà Mau, Vĩnh Long, với 115 phòng thuốc chẩn trị y học dân
tộc hoạt động có hiệu quả, 950 lớp học tình thương với
gần 20.000 người theo học). Tăng Ni, Phật tử cả nước cũng
đã hăng hái tham gia các phong trào quyên góp cứu trợ đồng
bào các tỉnh bị lũ lụt hàng chục tỷ đồng; hưởng ứng
các phong trào đền ơn đáp nghĩa như mở trường học, xây
dựng nhà tình nghĩa, ủng hộ các chiến sĩ biên phòng, hải
đảo, thăm hỏi và động viên hỗ trợ các thương binh, bệnh
binh, bệnh nhân nghèo khó tại các bệnh viện, trại phong,
trại tâm thần, nhà dưỡng lão, ủng hộ quỹ bảo thọ, trợ
cấp học bổng cho các học sinh, sinh viên nghèo hiếu học;
đã xây dựng 12 trường tiểu học, mẫu giáo; ủng hộ xây
dựng nhà tình nghĩa: 5,4 tỉ đồng; ủng hộ và nuôi dưỡng
Bà mẹ Việt Nam anh hùng: 2 tỉ 250 triệu đồng; trợ cấp
học bổng: 2 tỉ 430 triệu đồng; nuôi dạy trẻ em và các
cụ già cô đơn 5 tỉ 500 triệu đồng; xây dựng đường sá,
cầu cống: 5 tỉ 850 triệu đồng; cứu trợ cho đồng bào
nghèo và bị thiên tai: 52 tỉ 554 triệu đồng; đóng góp quỹ
xoá đói, giảm nghèo: 6 tỉ 351 triệu đồng. Có thể nói,
thành quả tốt đẹp của những hoạt động này đã góp một
phần không nhỏ vào việc ổn định xã hội, xây dựng kinh
tế, đồng thời khẳng định niềm tin của Phật giáo Việt
Nam vào chế độ mới.
Nhìn
chung, trong hơn 2.000 năm qua, Phật giáo đã du nhập, bén rễ
và phát triển trong xã hội Việt và trở thành một bộ phận
của văn hoá tinh thần, góp phần tạo nên bản sắc dân tộc
Việt Nam.
[1]
Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng. Nxb Khoa học
Xã hội, Hà Nội 1998, tr.27.
[2]
Lênin toàn tập, Tập 16. Nxb Tiến bộ, 1978, tr.293.
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.